BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI
LÀM VIỆC TẠI VIỆT NAM – THỰC TRẠNG
VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
NGUYỄN TRUNG KIÊN
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN THỊ THÚY LÂM
HÀ NỘI – 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
trích dẫn và số liệu sử dụng trong Luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
Hà Nội, ngày 26 tháng 10 năm 2015
Tác giả Luận văn
Nguyễn Trung Kiên
LỜI CẢM ƠN
Đề hoàn thành Luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn sự truyền thụ kiến
thức của các Thầy, Cô giáo trong suốt quá trình tôi học tập, nghiên cứu tại Viện Đại
học Mở Hà Nội.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 74
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS
Bộ luật Dân sự
BLLĐ
Bộ luật Lao động
ILO
Tổ chức Lao động Quốc tế
NLĐ
Người lao động
NSDLĐ
Người sử dụng lao động
UBND
Ủy ban nhân dân
PHẦN MỞ ĐẦU
những thiếu hụt về lao động cũng như sẽ mang lại những kỹ năng và hiểu biết mới
cho nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên, một lượng lao động phổ thông từ nước ngoài
vẫn đổ vào nước ta làm việc “chui” cho một số tổ chức, cá nhân trong nước hay
nhập cư bất hợp pháp gây khó khăn trong việc kiểm soát đối với những nhà quản lý
cũng như gây ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế - xã hội nói chung và người lao
động Việt Nam nói riêng. Lực lượng lao động phổ thông này không chỉ tác động
tiêu cực đến thị trường lao động trong nước mà còn kéo theo nhiều hệ lụy gây mất
trật tự xã hội ảnh hưởng xấu đến đời sống nhân dân ở một số khu vực.
Ngay từ khi mới ban hành Bộ luật lao động (BLLĐ) năm 1994, pháp luật
Việt Nam đã có những quy định về lao động nước ngoài để điều chỉnh mối quan hệ
này. Tuy nhiên, cho đến nay mặc dù đã qua nhiều lần sửa đổi nhưng pháp luật của
Việt Nam về lao động nước ngoài vẫn chưa bao quát, toàn diện và vẫn còn nhiều
tồn tại bất cập chưa phù hợp với tình hình thực tế trong nước cũng như quốc tế.
Chính vì vậy em đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật về người lao động nước
ngoài làm việc tại Việt Nam – Thực trạng và một số kiến nghị” làm Luận văn tốt
nghiệp với mong muốn nghiên cứu thực trạng về lao động nước ngoài tại Việt Nam,
trên cơ sở đó đưa ra các kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện quy định của pháp
luật về vấn đề này.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là khi Việt Nam đã trở thành
thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)1, hay đang trên đường cùng
ASEAN2 xây dựng một cộng đồng chính trị- kinh tế- xã hội chung, thì việc dần dần
phải loại bỏ các rào cản, tiến tới mở cửa thị trường lao động Việt Nam là một điều
tất yếu. Vì vậy việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh đối tượng lao động nước ngoài
1
11 năm 2007 và “Một số vấn đề pháp lý về người nước ngoài làm việc tại Việt
Nam”, tạp chí Luật học số 9 năm 2009.
Bên cạnh đó, cũng về vấn đề này, còn có một số cuốn sách đã được xuất bản
như: “Những điều cần biết về lao động di trú”, do Phạm Quốc Anh chủ biên, sách
của Hội Luật gia Việt Nam, NXB Hồng Đức năm 2008; “Bảo vệ người lao động di
trú – Tập hợp các văn kiện quan trọng của quốc tế, khu vực Asean và của Việt Nam
liên quan đến vị thế và việc bảo vệ người lao động di trú, NXB Lao động 2009;
“Quyền của người lao động di trú (Công ước của Liên hợp quốc và những văn kiện
quan trọng của ASEAN)”, NXB Hồng Đức năm 2010, “Lao động di trú trong pháp
luật quốc tế và Việt Nam” của nhóm tác giả: Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái,
Vũ Công Giao thuộc Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, NXB Lao động – Xã
hội năm 2011…
Tuy nhiên các công trình nghiên cứu, các bài viết trên mới chỉ dừng lại ở
việc nghiên cứu một số khía cạnh mang tính chất riêng lẻ, chưa nghiên cứu một
cách trực tiếp, có hệ thống các quy định pháp luật hiện hành về lao động nước ngoài
3
làm việc tại Việt Nam. Các bài viết trên cũng được viết cách đây đã lâu (trước khi
Nghị định số 102/2013/NĐ-CP ngày 05/9/2013 quy định chi tiết thi hành một số
điều của BLLĐ về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam ra đời), không cập
nhật được thực trạng về người lao động nước ngoài tại Việt Nam và pháp luật hiện
hành nên tính khả thi hiện không cao, không còn tính ứng dụng vào thực tiễn.
Do đó, đề tài Luận văn “Pháp luật về người lao động nước ngoài làm việc
tại Việt Nam – Thực trạng và một số kiến nghị” sẽ là một công trình nghiên cứu
tương đối hệ thống về thực trạng người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam
kể từ khi BLLĐ 2012 có hiệu lực pháp luật. Luận văn sẽ đánh giá thực trạng pháp
luật Việt Nam đối với người lao động nước ngoài làm việc ở Việt Nam nhằm đề
xuất những giải pháp, kiến nghị khả thi hướng tới việc hoàn thiện pháp luật, nâng
Pháp luật về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam là một vấn đề rộng
liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau. Do thời gian nghiên cứu và giới
hạn của một Luận văn thạc sỹ không cho phép nên Luận văn chỉ giới hạn việc
nghiên cứu trong phạm vi pháp luật lao động và tập trung vào một số vấn đề cơ bản
như: điều kiện, trình tự thủ tục tuyển dụng người lao động nước ngoài làm việc tại
Việt Nam; quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam; xử lý vi phạm pháp
luật lao động. Những vấn đề như giải quyết tranh chấp lao động nước ngoài làm
việc tại Việt Nam sẽ không thuộc phạm vi nghiên cứu của Luận văn.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác –
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Các phương pháp nghiên
cứu cụ thể bao gồm: phân tích, tổng hợp, thống kê, lịch sử, so sánh…
Phương pháp phân tích được sử dụng ở tất cả các chương, mục của Luận văn
để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của đề tài.
Phương pháp thống kê được sử dụng để tổng hợp, xử lý các tài liệu, số liệu
phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài.
5
Phương pháp so sánh được sử dụng ở cả ba chương của Luận văn để đối
chiếu, đánh giá các quan điểm khác nhau (của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO)3,
của một số nước trên thế giới, trong khu vực và Việt Nam), của văn bản pháp luật
cũ và văn bản pháp luật hiện hành về lao động nước ngoài.
Phương pháp lịch sử được sử dụng chủ yếu trong Chương 1 của Luận văn để
làm rõ quá trình hình thành và phát triển của hệ thống các quy định pháp luật về lao
động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.
Phương pháp tổng hợp và quy nạp được sử dụng chủ yếu trong việc đưa ra
kết luận ở mỗi chương trong Luận văn.
6. Kết quả nghiên cứu mới của Luận văn
Việt Nam
7
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LAO ĐỘNG NƯỚC
NGOÀI VÀ PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG NƯỚC NGOÀI
1.1. Khái niệm người lao động nước ngoài
Sự mở cửa nền kinh tế thế giới đã hình thành nên thị trường lao động quốc
tế, thúc đẩy sự di chuyển lao động giữa các quốc gia. Mỗi quốc gia có thể đưa lao
động nước mình ra nước ngoài đồng thời chấp nhận lao động nước ngoài vào làm
việc tại nước mình như một thực tại khách quan. Xu thế di chuyển của lao động trên
thị trường lao động quốc tế hiện nay là từ nước kém phát triển sang nước phát triển,
từ nước thừa lao động sang nước thiếu lao động. Hiện tượng lao động nước này đến
làm việc tại một nước khác được gọi là “lao động di trú”, “lao động nhập cư”. Vấn
đề lao động di trú cũng đã được ghi nhận trong các các văn kiện quốc tế như: Công
ước số 97 (năm 1949) và Công ước 143 (năm 1975) của Tổ chức Lao động quốc tế
(ILO); Công ước Quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú và
thành viên gia đình họ của Đại hội đồng Liên Hợp quốc năm 1990.
Công ước quốc tế về quyền của người lao động di trú và các thành viên trong
gia đình họ có thể được xem là bản tuyên ngôn nhân quyền của người lao động di
cư trên toàn thế giới. Chính vì thế con số các quốc gia gia nhập Công ước này ngày
càng tăng, tính đến năm 2009 đã có 41 quốc gia thành viên4. Không chỉ giới hạn
trong phạm vi những người lao động di trú một cách hợp pháp, Liên hợp quốc đã có
những quan niệm rộng hơn về lao động di trú. Trong Công ước 1990 tại Khoản 1,
Điều 2 có nêu như sau: “Thuật ngữ “người lao động di trú” để chỉ một người đã,
đang và sẽ làm một công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không
phải là công dân”. Có thể nói, định nghĩa này của Liên hợp quốc đã dựa trên các
đặc điểm sau để coi một người lao động là người lao động di trú:
xuyên thừa nhận là lao động di trú”.
Như vậy, theo ILO dấu hiệu nhận biết lao động di trú ở đây dựa trên sự khác
biệt về lãnh thổ, biên giới quốc gia, là việc di chuyển của NLĐ từ quốc gia này sang
quốc gia khác. Sự di chuyển này của NLĐ là từ nước mà người đó mang quốc tịch
sang nước khác mà người đó không mang quốc tịch. Sự di chuyển tìm kiếm việc
làm hoàn toàn là vì lợi ích cá nhân của bản thân NLĐ. Khái niệm lao động di trú
của ILO chỉ sử dụng cho NLĐ "đã được thường xuyên thừa nhận là lao động di
trú" tức là những NLĐ di cư hợp pháp, được sự chấp nhận của nước đến là "lao
động nhập cư". Theo ILO lao động di trú không áp dụng cho các trường hợp :
- Người lao động qua biên giới;
9
- Nhập cảnh ngắn hạn của nghệ sĩ và các thành viên trong những ngành, nghề
tự do;
- Người đi biển;
- Người di trú đặc biệt vì mục đích đào tạo và giáo dục;
- Nhân viên của tổ chức, cam kết hoạt động trong lãnh thổ của một quốc gia
đã được nhận tạm thời vào nước này theo yêu cầu của NSDLĐ của họ để thực hiện
nhiệm vụ hoặc công việc cụ thể, trong một thời gian nhất định và xác định, và được
yêu cầu rời khỏi đất nước đó sau khi hoàn thành nhiệm vụ hoặc công việc của
mình.
Pháp luật Việt Nam tuy chưa đưa ra khái niệm “lao động nước ngoài làm
việc tại Việt Nam”, song trong một số văn bản pháp luật đã có đề cập đến khái niệm
người nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Theo Nghị định 58/CP ngày 03/10/1996
của Chính phủ về cấp giấy phép cho NLĐ nước ngoài làm việc tại các doanh
nghiệp, tổ chức Việt Nam thì: “Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải có
giấy phép lao động theo quy định tại Điều 133 và khoản 2 Điều 184 của BLLĐ là
người không có quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật Quốc tịch Việt Nam”
phát triển đặc biệt nhanh chóng từ đầu thế kỷ XX đến nay. Theo ước tính của một
số tổ chức quốc tế, hiện cứ 35 người dân trên thế giới thì có một người sống và làm
việc ở ngoài đất nước mình. Tổng cộng trên thế giới hiện có khoảng 175 triệu người
lao động di trú, chiếm 3% dân số toàn cầu. Cùng với quá trình toàn cầu hóa kinh tế,
dự đoán vấn đề lao động di trú sẽ trở nên hết sức phổ biến trong thế kỷ XXI và là
một trong những đặc trưng cơ bản của thế kỷ này (theo Trung tâm Nghiên cứu
quyền con người - quyền công dân thuộc Khoa Luật- Đại học quốc gia Hà Nội).
Như vậy, lao động di trú đã trở thành một hiện tượng tất yếu và diễn ra từ rất
lâu. Hiện nay, với quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế đang ngày càng mạnh mẽ, hầu
hết các quốc gia trên thế giới đều thừa nhận xu hướng dịch chuyển lao động trên
phạm vi toàn cầu (xu thế di cư lao động). NLĐ được tự do đi tìm việc sẽ dẫn đến
dịch chuyển tự do của lao động, NLĐ có thể có nhiều sự lựa chọn hơn cho công
việc, phạm vi làm việc không bị bó hẹp trong một quốc gia mà có thể di chuyển
sang quốc gia khác. Sự dịch chuyển lao động trong quá trình toàn cầu hóa chính là
để giải quyết sự chênh lệch về điều kiện lao động, nhu cầu lao động giữa nước giàu
và nước nghèo.
11
Có hai nhóm lao động tham gia và quá trình chuyển dịch lao động là lao
động có trình độ chuyên môn cao và lao động phổ thông. Trong khi, phần lớn lao
động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao di chuyển từ các nước phát triển sang các
nước đang phát triển, ngược lại lượng lao động phổ thông sẽ từ các nước kém phát
triển đến các nước phát triển hơn để kiếm việc làm. Xu thế chung hiện nay là các
nước phát triển như: Nhật, Hàn Quốc, Mỹ... cần lao động chân tay, lao động có
trình độ thấp làm những công việc mà NLĐ nước họ không muốn làm vì thu nhập
thấp hoặc công việc độc hại. Để đáp ứng nhu cầu này, các nước đang phát triển như
Việt Nam, Philipin, Ấn Độ ... lại có xu hướng “xuất khẩu lao động” sang những
nước này. Đối với những nước đang phát triển như Việt Nam, vốn có lực lượng lao
tri thức, khoa học – kỹ thuật, kỹ thuật tiên tiến của các nước phát triển trên thế giới
có nền khoa học – kỹ thuật cao di chuyển đến các quốc gia kém hơn. Người lao
động trong nước sẽ được học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm, kỹ năng, phong cách làm
việc từ họ.
Xét về mặt xã hội:
Theo ước tính của Tổ chức di chú quốc tế IOM, dân số các nước phát triển
dự báo sẽ giảm 25% vào năm 2050. Điều này làm tăng nhu cầu về người lao động
nhập cư vào đúng thời điểm lực lượng lao động ở các nước đang phát triển cũng
tăng từ mức 2,4 tỉ người năm 2005 lên mức 3,6 tỉ người vào năm 2040. Nhiều quốc
gia phụ thuộc rất lớn vào nguồn cung cấp lao động nước ngoài do lực lượng lao
động của các nước phát triển ít, dân số già (như Nhật Bản, Anh, Mỹ…). Một ví dụ
điển hình như Qatar là một nước chuyên xuất khẩu dầu mỏ, là một trong những
quốc gia giàu nhất trên thế giới theo danh sách xếp hạng của Forbes, có thu nhập
bình quân tính theo đầu người cao nhất thế giới (88.222 USD/năm) nhưng do dân số
ít (khoảng 1,7 triệu người), chất lượng lao động thấp nên nền kinh tế của Qatar chủ
yếu dựa vào lao động nước ngoài, người dân nước này sống nhờ vào trợ cấp chính
phủ, lao động nước ngoài làm việc và đóng thuế cho sự phát triển của đất nước.
Hơn nữa những người lao động di trú từ các nước kém phát triển sẵn sàng làm các
công việc lương thấp, nguy hiểm, độc hại5 hay các công việc bị coi là “thấp kém”
mà lao động ở các nước bản địa không muốn làm. Vì vậy, lao động nước ngoài đã
giúp các nước nhận lao động bù đắp nguồn lao động thiếu hụt, đặc biệt giúp phân
bổ lại lao động trong các ngành khác nhau.
Bên cạnh đó, người nước ngoài vào làm việc sẽ làm tăng sức cạnh tranh trên
thị trường lao động. Theo quan điểm của triết học Mác-Lênin thì có cạnh tranh mới
13
có phát triển. Cạnh tranh là một yếu tố không thể thiếu đối với thị trường lao động
nói riêng và nền kinh tế của một đất nước nói chung. Ví dụ như lao động Việt Nam
nước ngoài tham gia thị trường lao động với kỹ năng, kinh nghiệm, trình độ hơn,
phù hợp với công việc và chấp nhận mức lương của nhà tuyển dụng sẽ làm mất cơ
hội việc làm của lao động trong nước. Không chỉ vậy, với lực lượng lao động dồi
dào, nhà tuyển dụng dễ dàng hạ mức lương nhằm tối ưu hoá lợi ích của họ. Đây
chính là những ảnh hưởng tiêu cực có thể thấy rõ của người lao động di trú đối với
nền kinh tế của nước tiếp nhận.
Ở phương diện xã hội, người lao động nước ngoài đến làm việc tại nước tiếp
nhận có thể sẽ mang theo gia đình sang Việt Nam. Điều đó sẽ gây khó khăn cho nhà
nước trong công tác quản lý nhà nước, xây dựng các chính sách, pháp luật đối với
người nước ngoài. Vấn đề bình đẳng giữa người lao động trong nước và người lao
động nước ngoài cũng đã trở thành một vấn đề đáng quan tâm. Quyền lợi của lao
động nước ngoài có được đầy đủ như lao động trong nước hay không, luôn là một
câu hỏi đối với các nhà làm luật.
Hơn nữa, người lao động nước ngoài đến làm việc cũng sẽ mang theo không ít
những vấn đề ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự. Do khác biệt về pháp luật,
ngôn ngữ, văn hoá và lối sống nên người nước ngoài đã gây ra không ít những vi
phạm pháp luật, gây rối an ninh, trật tự trên đất nước ta. Tình trạng xung đột giữa
các nhóm lao động đến từ các quốc gia khác nhau hay giữa lao động di trú với lao
động nước sở tại diễn ra khá phổ biến. Bên cạnh đó, hiện tượng lao động di trú
không có giấy tờ; bỏ việc, không thực hiện hợp đồng, hết hạn hợp đồng nhưng
không về nước, làm việc “chui” hoặc nhập cư bất hợp pháp vẫn luôn là mối lo ngại
của chính phủ.
Cùng với rất nhiều nước, Việt Nam đưa lao động của nước mình đến nước
khác làm việc nhưng đồng thời cũng tiếp nhận lao động nước ngoài đến làm việc tại
Việt Nam. Kể từ sau Đại hội Đảng lần VI, đất nước ta đã và đang bước vào quá
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Để thực hiện được quá trình đó đòi hỏi phải có
NLĐ có tay nghề cao, tiếp cận, nắm bắt được khoa học kỹ thuật hiện đại áp dụng
vào làm việc sản xuất cũng như quản lý sản xuất. Mặc dù nguồn lao động của Việt
đảm nhiệm được hoặc chưa có đủ để thực hiện công việc. Bên cạnh đó, trong quá
trình làm việc tại Việt Nam thì NLĐ nước ngoài có thể giúp đào tạo về chuyên môn,
tác phong lao động công nghiệp và thúc đẩy thói quen lao động cho người lao động
Việt Nam, điều mà lao động nước ta vẫn còn nhiều yếu kém.
Ngày 17/12/2006, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO sau
11 năm đàm phán kéo dài với hàng trăm cuộc họp, cuộc thương lượng lớn nhỏ. Gia
16
nhập WTO chính là bước cuối cùng để Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Lao động nhập cư là một thực tế mà chúng ta phải chấp nhận khi mở cửa hội nhập,
như bà Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh & Xã hội Nguyễn Thị Kim Ngân trả
lời báo chí bên hành lang Quốc hội kỳ họp tháng 5/2010: “Trong điều kiện mở cửa
và hội nhập không thể nói chúng tôi chỉ đưa người Việt Nam ra nước ngoài mà
không cho ai vào làm việc. Vấn đề là chúng ta đi cũng phải đúng pháp luật và
người khác vào đây cũng phải đúng pháp luật, chứ làm sao nói đóng cửa, không
cho ai vào được”. Tuy nhiên, gia nhập WTO cũng là lúc Việt Nam đối mặt với rất
nhiều thách thức mới. Trong lĩnh vực lao động, đó là tình trạng NLĐ có trình độ
chuyên môn thấp, tác phong công nghiệp chưa có dẫn đến năng suất lao động thấp,
chất lượng sản phẩm không tốt. Đồng thời khi gia nhập WTO chúng ta phải đổi mới
các quy định của pháp luật về tuyển chọn, quản lý NLĐ nước ngoài làm việc tại
Việt Nam, thực hiện theo các cam kết mở cửa thị trường lao động (Market access),
đặc biệt là vấn đề “di chuyển nội bộ” của các tập đoàn xuyên quốc gia có hiện diện
thương mại tại Việt Nam. Do đó, việc NLĐ nước ngoài vào làm việc tại nước ta
tăng lên, nhất là trong giai đoạn từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO.
Như vậy, có thể thấy, hiện tượng “lao động di trú” cũng như việc sử lao động
nước ngoài là một hiện tượng khách quan của hầu hết các quốc gia trong giai đoạn
hiện nay. Việt Nam cũng là một trong những quốc gia cho phép lao động nước
ngoài đến làm việc tại nước mình.
“không kém thuận lợi hơn mà được áp dụng như đối với công dân của mình.”
(Điều 6, Công ước số 97 của ILO).
Công ước năm 1990 của Đại hội đồng Liên Hợp quốc nêu tại Điều 25:
“Người lao động di trú được hưởng sự đối xử bình đẳng như các công dân của
quốc gia nơi có việc làm liên quan đến vấn đề thù lao, các điều kiện làm việc
khác…các điều kiện tuyển dụng…”.
Nguyên tắc thứ ba: Các quyền được áp dụng trong suốt quá trình di trú lao động.
Các quốc gia phải bảo vệ các quyền của người lao động di trú trong mọi giai
đoạn của tiến trình di trú lao động: “Các biện pháp được thực hiện cho phù hợp bởi
mỗi thành viên, trong phạm vi quyền tài phán của mình, để tạo điều kiện thuận lợi
cho sự ra đi, cuộc hành trình và tiếp nhận người di cư về việc làm” (Điều 4, Công
18
ước số 97), bao gồm: “việc chuẩn bị di trú, ra đi, quá cảnh và toàn bộ thời gian ở
và làm công việc có hưởng lương tại quốc gia có việc làm cũng như việc quay trở
về quốc gia xuất xứ hoặc quốc gia thường trú” (Điều 1, Công ước năm 1990 của
Liên Hợp quốc).
1.3.2. Nội dung điều chỉnh của pháp luật lao động về lao động nước ngoài
Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội cũng như phong tục tập quán mà các
quốc gia có sự điều chỉnh pháp luật khác nhau về lao động nước ngoài. Tuy nhiên,
xuất phát từ mục đích bảo vệ cao nhất cho người lao động di trú, các Công ước
quốc tế của ILO, Công ước của Liên hợp quốc và pháp luật của các quốc gia đều
hướng tới sự điều chỉnh của pháp luật đối với lao động nước ngoài bao gồm:
Về tuyển dụng lao động nước ngoài:
Người lao động nước ngoài vào làm việc là xu thế khách quan không thể
tránh được và tuy có mang đến một số ảnh hưởng tích cực nhưng rõ ràng sẽ có ảnh
hưởng trực tiếp đến vấn đề việc làm của lao động trong nước. Lao động trong nước
có thể sẽ mất cơ hội việc làm khi lao động nước ngoài vào làm việc. Chính vì vậy,
pháp luật của Đài Loan, trước khi xuất cảnh sang Đài Loan, NSDLĐ phải gửi cho
phía NLĐ nước ngoài bản giới thiệu công việc và hợp đồng lao động để NLĐ ký
kết. Hợp đồng phải ghi rõ thời hạn, tên NSDLĐ, mức lương, chi phí ăn ở …
Tuy nhiên nhìn chung các quốc gia đều quy định lao động nước ngoài phải
có hồ sơ tuyển dụng như giấy chứng nhận sức khỏe, chứng nhận chuyên môn, trình
độ, lý lịch tư pháp… Hồ sơ này được gửi đến cơ quan có thẩm quyền để xin cấp
phép lao động cho người nước ngoài.
Về quản lý lao động nước ngoài:
Một trong những nội dung quan trọng mà pháp luật các quốc gia đều quy
định khi sử dụng lao động nước ngoài chính là vấn đề quản lý lao động. Để quản lý
lao động nước ngoài, có nhiều các thức khác nhau nhưng nhìn chung pháp luật các
nước thường quy định lao động nước ngoài vào làm việc phải được cơ quan có thẩm
quyền cấp giấy phép. Giấy phép lao động được coi là điều kiện để lao động nước
ngoài vào làm việc và cũng là cơ sở để nhà nước quản lý lao động nước ngoài.
Công ước năm 1990 về bảo vệ quyền của tất cả những lao động di trú và các thành
viên gia đình họ cũng quy định người lao động được coi là hợp pháp khi họ có
“giấy tờ” để được phép vào, ở lại và tham gia làm một công việc được trả lương tại
quốc gia tiếp nhận lao động (Điều 5). Đài Loan, Malaysia, Singapore hay Việt Nam
đều coi giấy phép lao động là biện pháp quản lý lao động hiệu quả.
20