1
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THẾ PHÚC
ĐĂNG KÝ KINH DOANH THEO LUẬT DOANH
NGHIỆP VIỆT NAM – THỰC TRẠNG VÀ MỘT
VÀI KIẾN NGHỊ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ : 60 38 50
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Có thể tìm hiểu luận văn tại thư viện: Trung tâm
Thông tin Thư viện - Đại học Quốc gia Hà Nội 4
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa 1
Lời cam đoan 2
Lời cảm ơn 3
Mục lục 4
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt 7
Danh mục các bảng 8
Mở đầu 9
Chương 1. Cơ sở lý luận của đăng ký kinh doanh và pháp luật về Đăng ký
kinh doanh 15
1.1. Đăng ký kinh doanh một phương thức thực hiện quyền tự do kinh
doanh 15
1.2. Vài nét về lịch sử pháp luật đăng ký kinh doanh ở Việt Nam 16
1.3. Khái niệm đăng ký kinh doanh và pháp luật đăng ký kinh doanh 18
1.3.1. Khái niệm đăng ký kinh doanh 18
1.3.2. Khái niệm pháp luật về đăng ký kinh doanh 20
1.4. Những nguyên tắc cơ bản của pháp luật về đăng ký kinh doanh 22
1.4.1. Nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh 22
1.4.2. Nguyên tắc đảm bảo quyền bình đẳng giữa các chủ thể kinh
doanh 22
1.4.3. Nguyên tắc công khai, minh bạch 23
1.4.4. Nguyên tắc chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm 24
1.4.5. Nguyên tắc giảm chi phí gia nhập thị trường 25
2.3.2. Về nội dung đăng ký kinh doanh 54
2.3.3. Về chủ thể đăng ký kinh doanh 62 6
2.3.4. Về hồ sơ đăng ký kinh doanh 65
2.3.5. Về trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh 66
2.3.6. Về giấy phép và điều kiện kinh doanh 70
2.3.7. Về cơ quan đăng ký kinh doanh 72
2.1.8. Giải quyết tranh chấp về đăng ký kinh doanh 76
2.4. Những nhân tố tác động tới thực trạng pháp luật về đăng ký kinh
doanh ở Việt Nam hiện nay 79
2.4.1. Nền tảng chính trị chưa thực sự ủng hộ cho doanh nghiệp dân
doanh 79
2.4.2. Nền kinh tế kém phát triển và chưa ổn định 80
2.4.3. Đặc trưng văn hoá kìm hãm doanh nghiệp ra đời và phát triển 80
2.4.4. Hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ và còn nhiều bất cập 82
2.4.5. Năng lực bộ máy, con người còn nhiều yếu kém 83
Chương 3. Một vài kiền nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về đăng ký kinh
doanh trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam 85
3.1 Từ những hạn chế của pháp luật về đăng ký kinh doanh đến việc
hoàn thiện chính sách và pháp luật 85
3.2. Kiến nghị về Cơ quan đăng ký kinh doanh 87
3.3. Kiến nghị về chủ thể đăng ký kinh doanh 91
3.4. Kiến nghị về thủ tục đăng ký kinh doanh 91
3.5. Kiến nghị về giấy phép và điều kiện kinh doanh 94
3.6. Kiến nghị về cơ chế giải quyết tranh chấp về đăng ký kinh doanh 96
Kết Luận 98
Bảng 2.5. Điều kiện về địa điểm đăng ký kinh doanh 42
Bảng 2.6. Điều kiện về nội dung đăng ký kinh doanh 43
Bảng 2.7. Thủ tục chung về đăng ký kinh doanh 44
Bảng 2.8. Đăng ký kinh doanh kiểu hành doanh nghiệp 52
Bảng 2.9. Tên doanh nghiệp, sao khó thế! 54
Bảng 2.10. Tên doanh nghiệp và truyền thống 58
Bảng 2.11. Doanh nghiệp và quyền tự do kinh doanh 60
Bảng 2.12. Thuế môn bài, rào cản mới đối với tinh thần kinh doanh 64
Bảng 2.13. Lỗ hổng hậu đăng ký kinh doanh 74
Bảng 2.14. Giải quyết tranh chấp về đăng ký kinh doanh 77
9
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đăng ký kinh doanh là một chế định quan trọng của Luật doanh nghiệp
(LDN), các chủ thể kinh doanh muốn được kinh doanh dưới các hình thức
pháp lý quy định trong LDN thì phải tiến hành đăng ký kinh doanh (ĐKKD)
theo quy định của LDN. Trên cơ sở các quy định của LDN, hoạt động ĐKKD
đã được tiến hành khá nhanh chóng về thủ tục, thông thoáng về điều kiện
thành lập. Cùng với việc đơn giản hoá thủ tục là việc giảm chi phí để thành
lập mới một doanh nghiệp, bãi bỏ những điều kiện mà doanh nghiệp khó đáp
ứng, đồng thời nâng cao yêu cầu và trách nhiệm của cơ quan nhà nước với các
doanh nghiệp. Do vậy, hiện nay để thành lập mới một doanh nghiệp theo quy
định của LDN về mặt lý thuyết là rất đơn giản.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thực tế áp dụng các
quy định về ĐKKD đôi lúc mang lại những kết quả trái ngược, trong đó có
những kết quả không mong muốn, trái với mục đích của LDN. Những quy
cho một học viên cao học thực hiện và hoàn thành trong thời gian nghiên cứu
khoảng sáu tháng.
Trên đây là những lý do thôi thúc tác giả lựa chọn nội dung nêu trên làm
đề tài nghiên cứu trong luận văn cao học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nhìn chung hoạt động ĐKKD nói chung và pháp luật về ĐKKD nói
riêng đã được nghiên cứu và thực hiện từ trước khi ban hành LDN. Rất nhiều
các chương trình khảo sát các hoạt động khởi nghiệp của các doanh nhân
cũng như những hoạt động quản lý doanh nghiệp của các cơ quan nhà nước
cũng đã được tiến hành. Đặc biệt, sau sáu năm thi hành LDN đã có rất nhiều 11
những khảo sát, tổng kết đánh giá quá trình thực hiện LDN của các cơ quan
Nhà nước cũng như các tổ chức tiến hành đánh giá hoạt động kinh doanh và
ĐKKD của các doanh nhân Việt Nam. Các báo cáo đánh giá hoạt động
ĐKKD của doanh nghiệp Việt Nam đã vạch ra nhiều thiếu sót và gợi mở cho
các nhà làm luật Việt Nam nhiều vấn đề cần phải được thay đổi.
Điển hình trong số đó là cuộc nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quản lý
Kinh tế Trung ương (CIEM) phối hợp cùng chương trình phát triển Liên Hợp
Quốc UNDP về LDN được tiến hành năm 2004, Cuộc khảo sát của Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phối hợp cùng với trương trình phát
triển kinh tế tư nhân MPDF năm 2005; chương trình nghiên cứu về khu vực
kinh tế phi chính thức của Ngân Hàng Thế Giới năm 2003. Báo cáo đánh giá
sáu năm thi hành LDN của CIEM và Tổ chức Hợp tác Kỹ thuật Đức. Văn
phòng Quốc Hội và Chương trình phát triển kinh tế tư nhân có những tổng
hợp phân tích, đánh giá và bình luận về Dự án LDN thống nhất và Dự án Luật
đầu tư chung… Quá trình thi hành LDN cũng được giám sát và đánh giá
thường xuyên của Tổ công tác thi hành LDN. Bên cạnh đó còn nhiều những
dụng pháp luật về ĐKKD ở Việt Nam hiện nay trên cơ sở đó đưa ra những
giải pháp hoàn thiện những quy định của pháp luật về vấn đề này trong tương
lai.
Bản luận văn cũng giành nhiều nội dung để tìm hiểu về những nguyên
nhân thúc đẩy hay cản trở các doanh nhân ĐKKD theo LDN, những nguyên
nhân thúc đẩy các cán bộ, công chức áp dụng đúng đắn và sáng tạo các quy
định của LDN về ĐKKD. Thông qua kết quả nghiên cứu, bản luận văn này
cũng có mong muốn đưa ra những khuyến nghị cho cơ quan nhà nước nên
làm gì và làm như thế nào trước những bất cập trong xây dựng và thực thi các
quy định pháp luật này.
13
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là toàn bộ các quy định của pháp luật
và chính sách hiện hành của Nhà nước về ĐKKD. Bên cạnh đó, luận văn cũng
nghiên cứu một số nhân tố có tác động đến hoạt động ĐKKD của doanh nhân,
doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, công chức nhà nước.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là phân tích và đánh giá những vấn đề
liên quan đến hoạt động ĐKKD của doanh nhân bao gồm những yếu tố tác
động đến doanh nhân trong quá trình doanh nhân thực hiện các quy định của
pháp luật về ĐKKD. Bên cạch việc tập trung nghiên cứu hoạt động ĐKKD
theo quy định của LDN năm 1999 và năm 2005, luận văn cũng giành một
phần nội dung để phân tích hoạt động ĐKKD của các doanh nghiệp hoạt động
theo Luật đầu tư nước ngoài, Luật doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và các
hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã hoạt động theo Luật hợp tác xã.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trong bản luận văn này tác giả sử dụng kết hợp nhiều phương pháp
Mục đích, ý nghĩa và các nguyên tắc của các quy định pháp luật về ĐKKD ở
Việt Nam trong điều kiện hiên nay.
Chương 2. Thực trạng pháp luật về ĐKKD theo LDN ở Việt Nam hiện
nay
Trong chương này tác giả tập trung tìm hiểu nội dung pháp luật về
ĐKKD, thực trạng ban hành và thực thi pháp luật về ĐKKD hiện nay. Phát
hiện những tồn tại, bất cập của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về
ĐKKD, từ đó xác định những nhân tố tác động đến thực trạng pháp luật về
ĐKKD ở Việt Nam hiện nay.
Chương 3. Một vài kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về ĐKKD
trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam 15
Trên cơ sở những mặt hạn chế của pháp luật về ĐKKD của Việt Nam
hiện nay. Tác giả đã đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về
ĐKKD cũng như việc áp dụng pháp luật về ĐKKD trong thời gian tới.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐĂNG KÝ KINH DOANH VÀ PHÁP LUẬT
VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH
1.1. Đăng ký kinh doanh một phương thức thực hiện quyền tự do
kinh doanh
Đối với mỗi người kinh doanh gắn liền với lao động để mưu sinh, hoạt
động kinh doanh vì thế mà khó phân biệt với lao động kiếm sống, tạo thu
nhập. Chính vì vậy nếu nói kinh doanh là quyền tự do gắn liền với quyền cơ
bản của con người cũng không có gì sai lệch. Trong xã hội hiện đại, quyền tự
1.2. Vài nét về lịch sử pháp luật đăng ký kinh doanh ở Việt Nam
Khi nhìn lại lịch sử pháp luật về ĐKKD ở Việt Nam, chúng ta cũng
không hy vọng học hỏi được nhiều từ một xã hội không coi trọng thương mại
và pháp luật. Trong lịch sử hàng nghìn năm phong kiến, cũng giống như nền
ngoại thương, các thiết chế tổ chức kinh doanh và các quy định về ĐKKD
cũng rất mờ nhạt. Một xã hội “dĩ nông vi bản” không coi trọng thương nhân
và thương mại đã không tạo cho xã hội nhiều điều kiện thuận lợi để tổ chức
kinh doanh. Các quy định hiếm hoi mà lịch sử ghi nhận được về hoạt động
ĐKKD trong truyền thống đó là dưới thời Minh Mạng, các phường, hội, ty
(còn được gọi là cuộc) do nhiều gia đình hợp thành nếu có mười người trở
lên, tự chọn ra người lãnh đạo (cuộc trưởng) và được quan Bố chánh cho phép 17
hoạt động thì hàng năm phải trình quan tỉnh một bản hộ tịnh gồm tên, ngày
sinh và quê quán của những người trong cuộc [25, tr 62]. Như vậy, một thứ sơ
khai của ĐKKD đã hình thành, mục đích chính là để quản lý thuế và các
nghĩa vụ của cuộc [38, tr 238].
Đăng ký kinh doanh thời Pháp thuộc cũng không có nhiều quy định cho
chúng ta tham khảo bởi thời kỳ này pháp luật chủ yếu ban bố chế độ đặc
quyền kinh doanh và khai thác tài nguyên cho người Pháp. Pháp luật kinh
doanh và ĐKKD thời kỳ này cũng không được mở rộng và khuyến khích cho
mọi người dân trong xã hội.
Khi hoà bình được lập lại ở miền Bắc, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà đã ban hành những quy định đầu tiên về ĐKKD với mục đích tập thể hoá
và kế hoạch hoá nền sản xuất của miền Bắc. Do đó, các quy định về ĐKKD
chủ yếu tập trung vào phát triển nền sản xuất tập thể, kinh tế cá thể và kinh tế
ngoài quốc doanh không được khuyến khích phát triển. Trong giai đoạn từ
năm 1954 đến năm 1986 Nhà nước đã ban hành rất nhiều các văn bản về
ĐKKD. Tuy nhiên, những quy định của pháp luật về ĐKKD trong giai đoạn
quy định ĐKKD như là một chế định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể
kinh doanh mà chưa có quy định về thuật ngữ ĐKKD.
Thuật ngữ ĐKKD được ghép từ hai từ ghép “đăng ký” và “kinh doanh”.
Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt [47, tr 60], đăng ký được hiểu là “ghi
vào sổ của cơ quan quản lý để chính thức được công nhận cho hưởng quyền
lợi hay làm nghĩa vụ”. Kinh doanh theo giải thích từ ngữ tại khoản 2 Điều 4
của LDN năm 2005 là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công
đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng
dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Trên cơ sở các quy định của LDN, có thể khẳng định ĐKKD là nghĩa vụ
của các chủ thể muốn kinh doanh và của các cơ quan quản lý nhà nước về 19
ĐKKD. Đối với chủ thể muốn kinh doanh, ĐKKD được hiểu là đăng ký để
được kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận theo quy định của pháp luật,
để được hưởng các quyền lợi hay để thực hiện các nghĩa vụ. Đối với các cơ
quan nhà nước, ĐKKD là việc thực hiện các công việc thuộc trách nhiệm của
mình để thiết lập nên và quản lý một chủ thể pháp lý có mục đích kinh doanh.
Để thành lập một chủ thể pháp lý có chức năng kinh doanh theo quy định của
LDN, chủ thể ĐKKD phải đáp ứng được các điều kiện ĐKKD, hoàn chỉnh hồ
sơ ĐKKD, có nội dung ĐKKD phù hợp và thực hiện các trình tự, thủ tục
ĐKKD. Các cơ quan nhà nước có trách nhiệm kiểm tra các điều kiện ĐKKD,
hồ sơ ĐKKD, nội dung ĐKKD và hướng dẫn các chủ thể ĐKKD thực hiện
các trình tự, thủ tục theo quy định để có căn cứ cho phép hay không cho phép
ĐKKD. Do đó, ĐKKD có thể được hiểu là:
“Đăng ký kinh doanh là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức thực
hiện các yêu cầu về điều kiện, nội dung và trình tự thủ tục theo quy
định của pháp luật nhằm thiết lập nên một chủ thể pháp lý (công cụ
pháp lý) có chức năng kinh doanh.”
hình thức cấp phép hoặc thẩm định mà không nhất thiết phải do Cơ quan
ĐKKD thực hiện.
1.3.2. Khái niệm pháp luật về đăng ký kinh doanh
ĐKKD và pháp luật về ĐKKD về mặt nội dung có nội hàm khá giống
nhau. Khi nói đến ĐKKD là nói đến những nội dung, hoạt động, thủ tục của
các chủ thể liên quan nhằm thiết lập nên một chủ thể pháp lý có chức năng
kinh doanh hoặc thực hiện các thủ tục hành chính khác liên quan đến tư cách
pháp lý của doanh nghiệp trước Nhà nước và pháp luật. ĐKKD về bản chất là
những hoạt động nhằm mục đích tạo nên mối quan hệ pháp lý giữa một chủ 21
thể kinh doanh và Nhà nước thông qua các quy phạm pháp luật. Trong khi đó
pháp luật về ĐKKD có nội dung là những quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt
động ĐKKD của các chủ thể. Do đó, trong thực tiễn ĐKKD sẽ có những hoạt
động nhằm mục đích thực hiện ĐKKD nhưng lại chưa được pháp luật về
ĐKKD điều chỉnh. Pháp luật về ĐKKD có thể được hiểu là:
“Pháp luật về đăng ký kinh doanh là tổng thể các quy phạm
pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận bắt buộc áp dụng
và đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh những vấn đề về điều kiện,
nội dung và trình tự thủ tục đăng ký kinh doanh.”
Theo khái niệm này pháp luật về ĐKKD sẽ không chỉ giới hạn trong các
quy định về ĐKKD theo LDN mà sẽ bao gồm cả những quy phạm pháp luật
về ĐKKD được ban hành tại các văn bản pháp luật khác như Luật DNNN,
Luật đầu tư, Luật hợp tác xã Tuy vậy, trong phạm vi luận văn này các quy
định pháp luật được nghiên cứu chủ yếu là các quy định về ĐKKD theo LDN
và một số văn bản có liên quan.
Pháp luật về ĐKKD là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan
hệ xã hội phát sinh giữa cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về ĐKKD với cá
doanh
Quyền bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh có cơ sở từ đặc điểm phổ
quát của pháp luật đó là pháp luật có giá trị áp dụng như nhau đối với mọi đối
tượng chịu sự điều chỉnh mà không có sự phân biệt. Mọi chủ thể kinh doanh
hoạt động trong cùng một môi trường pháp lý sẽ có các quyền và nghĩa vụ
như nhau mà không có sự phân biệt doanh nghiệp lớn hay nhỏ, DNNN hay
doanh nghiệp dân doanh. 23
Thể chế hoá sâu sắc đường lối đổi mới và các chủ trương chính sách đã
được khẳng định tại Đại hội lần thứ IX của Đảng và các Hội nghị của ban
chấp hành Trung ương đảng; nhất là chính sách phát triển nền kinh tế nhiều
thành phần, coi các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng
của nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, chính sách phát huy
tối đa nội lực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. LDN năm 2005 đã thể
chế hoá mạnh mẽ các nội dung trong các văn kiện nêu trên. Khoản 1 Điều 5
của LDN năm 2005 quy định “Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và phát
triển của các loại hình doanh nghiệp được quy định trong luật này; bảo đảm
sự bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp không phân biệt hình
thức sở hữu và thành phần kinh tế; thừa nhận tính sinh lợi hợp pháp của hoạt
động kinh doanh”.
1.4.3. Nguyên tắc công khai, minh bạch
Trong các văn bản pháp luật quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc là
thành viên nguyên tắc công khai, minh bạch là những yêu cầu bắt buộc đối
với các cán bộ, công chức và các cơ quan nhà nước. Đối với pháp luật trong
nước nguyên tắc công khai, minh bạch đang dần trở thành một nguyên tắc cơ
bản của cả hệ thống pháp luật Việt Nam. Pháp luật về ĐKKD là một lĩnh vực
pháp luật vừa liên quan đến doanh nghiệp vừa liên quan đến thủ tục hành
bộ của doanh nghiệp cũng đóng góp tích cực vào cơ chế hậu kiểm. Việc
chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm là nhu cầu tất yếu của nền kinh tế thị
trường vì cơ chế tiền kiểm vừa hạn chế quyền tự do kinh doanh, vừa mang lại
môi trường tiêu cực khi thực hiện. Cơ chế hậu kiểm coi việc khuyến khích,
trợ giúp là một trong những chức năng chính của từng công chức và cơ quan
nhà nước. Quy chế này coi nhà đầu tư, doanh nghiệp là đối tượng phục vụ của
cơ quan hành chính Nhà nước. Trách nhiệm giám sát doanh nghiệp không chỉ 25
là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước mà còn là trách nhiệm của toàn
xã hội, do đó cần có cơ chế và biện pháp khuyến khích các cơ chế hậu kiểm
ngoài nhà nước hoạt động có hiệu quả. Điều này muốn thực hiện được phải
thay đổi cơ bản phong cách làm việc của từng công chức và từng cơ quan nhà
nước cũng như những quy định và chính sách đối với doanh nghiệp.
1.4.5. Nguyên tắc giảm chi phí gia nhập thị trường
Nguyên tắc giảm chi phí gia nhập thị trường là một nguyên tắc quan
trọng của pháp luật về doanh nghiệp và pháp luật về ĐKKD. Nguyên tắc này
yêu cầu các quy định của pháp luật về ĐKKD nói riêng cũng như các quy
định pháp luật về gia nhập thị trường của doanh nghiệp nói chung phải giảm
đến mức thấp nhất chi phí cho doanh nghiệp khi doanh nghiệp ra nhập thị
trường. Điều này sẽ rất có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp mới lần đầu bước
vào thị trường kinh doanh, đang còn nhiều khó khăn. Thực hiện tốt được
nguyên tắc này sẽ bảo đảm cho việc thành lập doanh nghiệp nhanh chóng với
chi phí thấp, tạo thuận lợi hơn cho gia nhập thị trường. Tuy vậy, nguyên tắc
giảm chi phí gia nhập thị trường chỉ có thể được thực hiện có hiệu quả khi
được thực hiện đồng bộ trên tất cả các quy định về gia nhập thị trường. Giảm
chi phí nếu chỉ được thực hiện trong các quy định về ĐKKD thì sẽ chỉ có ý
nghĩa giảm chi phí ở khâu ĐKKD mà không có nhiều ý nghĩa đối với hoạt
Pháp luật về ĐKKD có đặc điểm là một thủ tục hành chính bắt buộc,
trong đó người đại diện doanh nghiệp phải khai trình với cơ quan Nhà nước
và giới kinh doanh về hoạt động kinh doanh của mình. Đăng ký kinh doanh
nhìn ở góc độ quản lý Nhà nước là một hoạt động mang tính chất hành chính,
từ đó Nhà nước ghi nhận cho chủ thể đăng ký được chính thức hưởng các
quyền lợi hay thực hiện nghĩa vụ của một tổ chức kinh doanh. Do đó, để hoạt 27
động kinh doanh được chính thức tuân thủ theo những quy định của pháp luật
thì chủ thể kinh doanh phải ĐKKD theo thủ tục hành chính mà pháp luật đã
quy định.
1.5.3. Pháp luật về đăng ký kinh doanh mang bản chất tư pháp
Pháp luật về ĐKKD còn mang bản chất tư pháp, bởi ĐKKD vừa là sự
ghi nhận của Nhà nước về các quyền và lợi ích mà chủ thể ĐKKD được
hưởng nhưng cũng từ khi ĐKKD, tổ chức kinh doanh được ĐKKD sẽ có
những quyền và nghĩa vụ tư pháp khi tổ chức kinh doanh đó tham gia những
quan hệ tố tụng. Điều này sẽ được thể hiện rất rõ khi tổ chức kinh doanh lâm
vào tình trạng phá sản. Chủ thể ĐKKD là doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp
hợp tác xã, hộ kinh doanh sẽ chịu ảnh hưởng của các quy phạm pháp luật tố
tụng rất khác so với các chủ thể không ĐKKD. Điều 29 của Bộ luật tố tụng
dân sự quy định tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại
giữa cá nhân, tổ chức có ĐKKD với nhau và đều có mục đích lợi nhuận thì
thuộc thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế (Toà kinh tế). Các tranh chấp
giữa các chủ thể không có ĐKKD hoặc chỉ có một bên có ĐKKD thì sẽ thuộc
thẩm quyền giải quyết các vụ án về dân sự (Xem Điều 29 của Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2004 và Mục 1 Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31-1-
2005 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành
một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật tố