1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..............................................................................................................2
1. Tính cấp thiết của đề tài......................................................................................................2
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài..........................................................................................3
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài...................................................................................................3
4. Phương pháp nghiên cứu.....................................................................................................3
5. Bố cục của khoá luận..........................................................................................................4
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI
NGUY HẠI...........................................................................................................4
1.1. Khái niệm về chất thải nguy hại và quản lý chất thải nguy hại.......................................4
1.1.1. Chất thải nguy hại và đặc điểm của chất thải nguy hại.............................................4
1.1.2. Quản lý chất thải nguy hại......................................................................................10
1.2. Đánh giá tổng quan về hiện trạng quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam hiện nay......13
1.2.1. Tình hình xả thải chất thải nguy hại........................................................................13
1.2.2. Thưc trạng quản lý chất thải nguy hại.....................................................................15
1.3. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong quản lý chất thải nguy hại...............22
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ
CHẤT THẢI NGUY HẠI Ở VIỆT NAM........................................................24
2.1. Khái quát về pháp luật quản lý chất thải nguy hại.........................................................24
2.1.1. Khái niệm pháp luật quản lý chất thải nguy hại......................................................24
2.1.2. Sự phát triển của pháp luật quản lý chất thải nguy hại...........................................25
2.2. Các quy định cụ thể về quản lý chất thải nguy hại........................................................27
2.2.1. Lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép và mã số hoạt động quản lý chất thải nguy hại.......27
2.2.2. Phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại.........................33
2.2.3. Giảm thiểu chất thải nguy hại.................................................................................41
2.2.4. Thu phí bảo vệ môi trường đối với chất thải nguy hại............................................42
2.2.5. Vấn đề xử lý vi phạm pháp luật về quản lý chất thải nguy hại...............................43
quốc gia nào có thể phát triển hùng mạnh và bền vững nếu quốc gia đó không
lấy vấn đề bảo vệ môi trường làm nền tảng cho sự phát triển kinh tế.
Hiện nay, với sự bùng nổ dân số trên toàn cầu, tốc độ công nghiệp hoá ngày
càng cao…đã gây ra những tổn thất lớn cho môi trường. Đó là tình trạng môi
trường sinh thái ngày càng suy giảm trầm trọng, nguồn tài nguyên bị cạn kiệt
dần, ô nhiễm không khí, nguồn nước, đất đai ngày một tăng khắp nơi. Trong đó
chất thải, đặc biệt chất thải nguy hại là một trong những nguyên nhân chính gây
3
ra sự ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Do có chứa những đặc tính gây hại cho
môi trường và sức khoẻ con người nên đây được coi là nguồn ô nhiễm tiềm tàng
rất đáng lo ngại vì vậy từ rất lâu nhiều nước trên thế giới đã quan tâm, nghiên
cứu về vấn đề này.
Ở Việt Nam, theo đà phát triển kinh tế ngày càng mạnh mẽ thì số lượng
chất thải nguy hại phát sinh ngày một nhiều, số lượng các cơ sở gây ô nhiễm
ngày một tăng và các hành vi vi phạm ngày một tinh vi hơn do đó Đảng và Nhà
nước ta đang rất chú trọng đến vấn đề quản lý CTNH. Tuy nhiên, trên thực tế do
nhiều nguyên nhân mà Việt Nam vẫn chưa quản lý được triệt để CTNH, trong
đó sự bất cập của các quy định pháp luật về quản lý CTNH là một trong những
nguyên nhân chính khiến cho công tác quản lý CTNH kém hiệu quả. Nhận thức
được tầm quan trọng của pháp luật về quản lý CTNH trong thời kỳ đổi mới vì
vậy em đã quyết định chọn đề tài: “PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI
NGUY HẠI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của
mình.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Việc nghiên cứu những quy định của pháp luật về quản lý CTNH nhằm tìm
hiểu những nội dung cơ bản của pháp luật về quản lý CTNH. Từ đó phân tích,
đánh giá, tổng hợp nhằm tìm ra các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật
* Khái niệm
Khái niệm về CTNH lần đầu tiên xuất hiện vào thập niên 70 của thế kỷ
trước tại các nước Âu - Mỹ, sau đó mở rộng ra nhiều quốc gia khác. Do sự phát
triển khoa học kỹ thuật và xã hội cũng như quan điểm của mỗi nước mà hiện
nay trên thế giới có nhiều cách định nghĩa khác nhau về CTNH. Chẳng hạn như
[23, tr. 5]:
5
“CTNH là các chất phế thải mà tính chất và số lượng của chúng có thể độc
hại đến sức khoẻ con người hay môi trường và cần đến kỹ thuật thải đặc biệt để
loại trừ hay giảm thiểu mối độc hại” (Canada)
Theo chương trình môi trường của Liên Hợp Quốc (UNEP) thì CTNH là:
“Các loại phế thải ngoài phế thải phóng xạ, vì lý do tác dụng hoá học hay độc
tính, dễ nổ, gây ăn mòn hay các tính chất khác gây nguy hiểm đến sức khoẻ hay
môi trường được định nghĩa theo luật là độc hại trong xứ sở nơi chúng được
phát sinh hay thải bỏ qua đường vận chuyển”
Đạo luật RCRA (Resource Conservation and Recovery-1976: Đạo luật về
thu hồi và bảo tồn tài nguyên Mỹ thì: chất thải (ở các dạng rắn, lỏng, bán rắn và
các bình khí) có thể coi là chất thải nguy hại khi:
- Nằm trong danh mục CTNH do Cục bảo vệ môi trường Hoa Kỳ đưa ra
- Có một trong bốn đặc tính do EFA đưa ra: cháy-nổ, ăn mòn, phản ứng và
độc tính
- Được chủ nguồn thải tự công bố là CTNH
Bên cạnh đó, CTNH còn gồm các chất gây độc tính đối với con người ở
liều lượng nhỏ, đối với các chất chưa có các chứng minh của nghiên cứu dịch tễ
trên con người, các thí nghiệm trên động vật cũng có thể được dùng để ước đoán
tác dụng độc tính của chúng trên con người.
Tại Việt Nam, xuất phát từ nguy cơ bùng nổ việc phát sinh CTNH từ quá
trọng để CTNH được quản lý hiệu quả.
Thứ nhất: Chúng phải được coi là chất thải. Theo khoản 10 Điều 3 Luật
bảo vệ môi trường 2005 của Việt Nam thì Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng,
khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động
khác. Như vậy một chất được coi là chất thải khi nó tồn tại dưới dạng vật chất cụ
thể như: rắn, lỏng, khí…được sản sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ, sinh hoạt, các hoạt động khác của con người và bị chủ sở hữu hoặc
người sử dụng hợp pháp thải bỏ ra môi trường cho đến khi nó được đưa vào sử
dụng ở một chu trình sản xuất hoặc một chu trình khác (như tái sử dụng).
Thứ hai: Các chất thải này đều có chứa chất nguy hại, Theo Quyết định số
23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 về việc ban hành danh mục
chất thải nguy hại (viết tắt là Quyết Định 23/2006/QĐ-BTNMT ngày
7
26/12/2006) đã đưa ra danh mục chất thải nguy hại với những mô tả về tính chất
nguy hại tại tiểu mục 1.1 mục 1 phần I thì Các chất thải được phân loại là chất
thải nguy hại khi có ít nhất một trong các tính chất : dễ nổ, dễ cháy, dễ ăn mòn,
dễ bị oxi hoá, có khả năng gây nhiễm trùng, làm ngộ độc... CTNH được phát
sinh từ mọi ngành sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, giao thông, sinh hoạt, y
tế... Thành phần CTNH rất đa dạng, bao gồm các chất hữu cơ và vô cơ hoặc có
khi kết hợp cả hai, có thể tồn tại ở cả 3 dạng : rắn, lỏng hoặc khí (ví dụ như:
butyl axetat, CO, CO2, các loại thuốc trừ sâu, asen, selen, SO2, CH4, NOx, thuỷ
ngân, dầu thải, các kim loại nặng). Mức độ nguy hại của chất thải cũng rất khác
nhau, tùy thuộc vào liều lượng và khả năng gây hại của một số chất độc hại lẫn
trong đó, thậm chí tính chất nguy hại của chất thải chỉ thể hiện trong điều kiện
môi trường như pH, nhiệt độ, áp suất nhất định nào đó; đối với các CTNH hữu
cơ, tính độc hại còn phụ thuộc nhiều vào thành phần và cấu tạo hoá học của
chúng.
động không nhỏ:
- Tác động của CTNH tới môi trường: việc chôn, lấp xử lý CTNH không
đúng quy cách đã gây ra ô nhiễm trầm trọng cho môi trường đất, nước và không
khí.
Việt Nam với mạng lưới sông ngòi dày đặc được xem là một ưu đãi của
thiên nhiên đối với con người Việt Nam, tuy nhiên mạng lưới sông ngòi này
đang bị đe doạ trầm trọng bởi chúng đang được sử dụng như nguồn chứa nước
thải từ chính các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân. Tại những
thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh… nơi có nền kinh tế phát
triển mạnh, đặc biệt là đối với công nghiệp thì hệ thống xử lý chất thải lại chưa
được chú trọng và đảm bảo đúng yêu cầu; mạng lưới sông ngòi, kênh rạch đã trở
thành các bể chứa chất thải chính. Không chỉ có các doanh nghiệp, các cơ sở sản
xuất kinh doanh mà cả đến những bệnh viện được coi là lớn của Việt Nam cũng
chưa có hệ thống xử lý nước thải, hay nếu có cũng không được đưa vào hoạt
động. Các chất thải này đã được xả trực tiếp qua hệ thống sông ngòi của chúng
ta
Ở nông thôn, tình trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tràn lan và những vỏ
bao thuốc này sau khi được sử dụng hầu hết không được xử lý đúng nơi quy
9
định mà được vứt trên ruộng, sông, hồ, ao làm cho nguồn nước ở những nơi này
bị suy thoái. Biểu hiện cụ thể cho sự suy thoái, ô nhiễm này chính là việc những
đàn tôm, cá hay cả côn trùng ở đó cũng không thể sống sót được
Hiện tượng chôn lấp chất thải nguy hại không đúng quy định vào lòng đất,
hay tại những bãi chôn lấp đã khiến cho lượng nước từ các chất thải này ngấm
sâu vào lòng đất và ngấm vào nguồn nước ngầm xung quanh làm cho nguồn
nước ngầm cung cấp cho các vùng dân cư lân cận không thể sử dụng được, mặc
dù đã qua những cách thức xử lý cơ bản nhưng nước vẫn đen và có mùi tanh rất
Rác thải y tế: lượng rác thải y tế độc hại chiếm số lượng không lớn trong cơ
cấu rác thải y tế (5%) [32] nhưng chúng lại có khả năng truyền bệnh rất cao như:
kim tiêm, chai thuốc, hoá chất, bộ phận cơ thể người bị cắt bỏ, dụng cụ y tế….
khi các dụng cụ này tiếp xúc với môi trường xung quanh khiến cho các loại vi
rút, vi khuẩn, mầm bệnh được lan truyền nhanh chóng. Theo các kết quả phân
tích cho thấy nước do các bệnh viện thải ra bị ô nhiễm nặng về mặt hữu cơ và vi
sinh. Hàm lượng vi sinh cao gấp 100-1000 lần so với tiêu chuẩn cho phép (tiêu
chuẩn cho phép của Bộ Y Tế, nhu cầu oxy hoá sinh học BOD: 20 mg/l, COD là
80 mg/l). Những mầm bệnh trong nước thải khi được thải ra ngoài đã xâm nhập
vào cơ thể các loại thuỷ sản, vật nuôi, cây trồng và dễ dàng gây bệnh cho con
người khi con người tiếp xúc với chúng qua nhiều con đường.
Thuốc BVTV cũng là một trong những nguồn gây hại lớn cho sức khoẻ con
người. Do ý thức bảo quản thuốc của người dân không cao nên một phần dư
lượng thuốc đã phát tán vào môi trường, mặt khác do người người dân ở nhiều
nơi đã lạm dụng thuốc BVTV đối với rau quả đã khiến dư lượng thuốc quá cao
trong sản phẩm. Khi chúng xâm nhập vào cơ thể con người qua con đường tiêu
hoá đã gây ra nhiều căn bệnh nguy hiểm.
1.1.2. Quản lý chất thải nguy hại
* Khái niệm
Tại Khoản 3 Điều 3 quy chế quản lý CTNH ban hành kèm theo Quyết Định
155/1999/QĐ-TTg thì: quản lý CTNH là các hoạt động kiểm soát CTNH trong
suốt quá trình từ phát sinh đến thu gom, vận chuyển, quá cảnh, lưu giữ, xử lý và
tiêu huỷ CTNH.
11
Sau đó khái niệm này đã được chỉnh sửa tại Thông Tư 12/2006/TT-BTNMT
ngày 26/ 12/2006/TT2006 tại mục 2.1 như sau: quản lý CTNH gồm các hoạt
động liên quan đến việc phòng ngừa, giảm thiểu, phân loại, thu gom, vận
đến nơi tập kết bằng hệ thống các phương tiện đảm bảo an toàn trong vận
chuyển CTNH; hệ thống kho, bãi để tập kết đến các nhà máy xử lý tái chế và hệ
thống lò đốt, các bãi chôn lấp đạt tiêu chuẩn. Ngoài ra, hệ thống công nghệ
thông tin được chú trọng tạo điều kiện cho việc đăng ký chủ nguồn xả thải
CTNH được thuận tiện, các cơ quan chức năng dễ dàng nắm bắt số liệu và kiểm
tra trên thực tế.
- Quản lý CTNH cần có sự phối hợp đồng bộ của tất cả các cơ quan nhà
nước từ các cơ quan trung ương (như BTNMT, Bộ Y tế…) đến các cơ quan ở địa
phương (Sở Tài Nguyên & Môi Trường, UBND các cấp…) trong việc đưa ra các
chiến lược, chính sách bảo vệ môi trường; trong việc giám sát, kiểm tra, phát
hiện, xử lý kịp thời các vụ việc vi phạm pháp luật về quản lý CTNH; trong công
tác tuyên truyền, giáo dục ý thức của toàn thể nhân dân trong việc bảo vệ môi
trường nói chung và quản lý CTNH nói riêng
- Quản lý CTNH chủ yếu tập trung vào việc giảm thiểu và xử lý CTNH
(chủ yếu là thiêu đốt, chôn lấp) nhằm phòng ngừa, hạn chế và khắc phục tình
hình xả thải CTNH, còn một số các hoạt động khác như tận dụng CTNH thì ít do
trình độ khoa học kỹ thuật, năng lực, kinh phí… thường đòi hỏi cao mà đối với
một nước có nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam khó có thể đáp ứng
được
- Đây là một hoạt động khó khăn, tốn kém có tính nguy hiểm cao (do liên
quan đến các chất nguy hại) đòi hỏi phải có sự đầu tư đồng bộ về khoa học kỹ
thuật, đào tạo trình độ, nâng cao năng lực,… thì hoạt động quản lý mới có thể
đạt được hiệu quả cao trên thực tế.
* Yêu cầu của quản lý chất thải nguy hại
Để thực hiện tốt công tác quản lý CTNH trước tiên chúng ta cần sử dụng có
hiệu quả công cụ luật pháp. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như áp
dụng đồng bộ một cách hợp lý, linh hoạt các quy định của pháp luật trên phạm
13
hại rất phức tạp, tuỳ thuộc vào nguyên liệu sản xuất, sản phẩm tạo thành của
14
từng công nghệ và dịch vụ có liên quan. Chỉ tính riêng tại Tp. HCM: Theo tính
toán, lượng chất thải nguy hại phát sinh mỗi ngày ở Tp. HCM là từ 540-770 tấn
và mỗi tháng khoảng 16.300-23.200 tấn, trong đó chiếm đến 30% là lượng phát
thải của doanh nghiệp, gồm các chất khó phân hủy như: bùn thải, giẻ lau, bóng
đèn huỳnh quang…
Nguồn phát sinh chất thải nguy hại lớn nhất là các cơ sở công nghiệp (với
130.000 tấn/năm) và các bệnh viện (21.000 tấn/năm). Theo thống kê, lượng chất
thải công nghiệp nguy hại phát sinh từ vùng kinh tế trọng điểm phía Nam chiếm
tới 75% tổng lượng chất thải công nghiệp nguy hại của cả nước. Trong khi đó,
lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh từ Tp. Hồ Chí Minh, Hà Nội và Thanh
Hoá chiếm 27% tổng lượng chất thải y tế nguy hại của cả nước.
Nước mặt của ta đang bị ô nhiễm ngày càng tăng do nước thải công
nghiệp, bệnh viện, rác thải sinh hoạt: 90% số doanh nghiệp được khảo sát không
đạt tiêu chuẩn chất lượng nước thải ra môi trường; 73% số doanh nghiệp xả
nước thải không đạt tiêu chuẩn do không có các công trình và thiết bị xử lý nước
thải; 60% số công trình xử lý nước thải hoạt động, vận hành không đạt yêu cầu;
cả Hà Nội chỉ có 5/31 bệnh viện, 3/400 cơ sở sản xuất có xử lý nước thải; Tp.
Hồ Chí Minh mới chỉ có 24/142 cơ sở y tế lớn là có hệ thống xử lý nước thải;
Tp. Hồ Chí Minh hiện có 28.573 cơ sở sản xuất, trong đó có gần 3.000 cơ sở sản
xuất gây ô nhiễm môi trường, trong đó có gần 1.000 cơ sở gây ô nhiễm nặng,
phải di chuyển. Qua khảo sát chưa đầy đủ, chỉ riêng Hà Nội và Tp. Hồ Chí
Minh, lượng rác thải sinh hoạt mỗi ngày xả vào các khu ven hồ, kênh mương nội
thành lên tới 1.200 m3.
Hiện nay nước ta có khoảng 1.500 làng nghề truyền thống, điều kiện và môi
trường lao động đáng lo ngại. Điều tra năm 2000 cho thấy, có tới 60%-90% số
tra chất lượng xăng dầu bán trên thị trường, bảo đảm chất lượng xăng dầu 100%
đạt tiêu chuẩn. Tiến tới nghiên cứu và phát triển các loại phương tiện giao thông
chạy bằng acquy điện, khí tự nhiên, khí hoá lỏng…
- Trong hoạt động công nghiệp:
Từ năm 2007, Sở Tài nguyên và môi trường đã yêu cầu doanh nghiệp có
chất thải nguy hại phải đăng ký chủ nguồn xả thải chất thải nguy hại để tạo
thuận lợi trong việc quản lý CTNH.
16
Hoạt động tiến hành điều tra, giải quyết và xử lý đối với các cơ sở sản xuất
công nghiệp, thủ công nghiệp gây ra ô nhiễm môi trường của các cơ quan chức
trách cũng tạo ra những hiệu quả nhất định. Các hoạt động kiểm tra và bắt buộc
tất cả các cơ sở sản xuât có nguồn thải khí ô nhiễm vượt quá tiêu chuẩn môi
trường phải áp dụng các biện pháp lọc bụi, xử lý khí thải để đạt tiêu chuẩn môi
trường. Áp dụng phổ biến công nghệ sản xuất sạch hơn đối với mọi ngành sản
xuất, mọi cơ sở sản xuất được đẩy mạnh.
- Trong ngành y tế:
Để kiểm soát tốt chất thải y tế nguy hại Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành
quyết định số Quyết Định 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 về việc ban hành
quy chế quản lý chất thải y tế. Theo quy chế này thì các chất thải y tế nguy hại
sẽ bị cấm tái chế và buôn bán, quy trình quản lý phải chặt chẽ hơn so với các
loại chất thải nguy hại khác. Từ khi quyết định này được đưa vào thực hiện,
công tác giảm thiểu CTNH đã đạt được nhiều kết quả nhất định, phần lớn các
bệnh viện đã xây dựng các hệ thống xử lý nước thải, xử lý chất thải nguy hại,
nhiều bệnh viện đã tự tiến hành chôn lấp chất thải y tế nguy hại (khoảng 30%)
[26].
- Trong đời sống sinh hoạt hàng ngày:
Hiện chúng ta đã thực hiện một số dự án để tiến hành phân loại luôn rác
Số lượng đơn vị đăng ký chủ nguồn CTNH vẫn còn thấp khoảng trên
1.000/30.000 đơn vị. Nhiều dự án đầu tư công nghiệp mới, khi đánh giá tác động
môi trường đều đạt tiêu chuẩn, nhưng khi vận hành thực tế thì vẫn vi phạm các
tiêu chuẩn về xả thải.
Nhiên liệu sử dụng cho các ngành công nghiệp và các phương tiện giao
thông vẫn chủ yếu là nhiên liệu truyền thống như than, xăng dầu với chất lượng
chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ môi trường, hàm lượng sulphur trong dầu
diezen còn cao, hàm lượng bụi trong than rất lớn... khiến cho hiệu quả của công
tác quản lý CTNH còn thấp. Số lượng các phương tiện tham gia giao thông ở
Việt Nam ngày càng gia tăng đã thải ra môi trường một lượng ngày càng lớn khí
nhà kính (CO2), cacbon monoxit (CO)…
18
Để tiết kiệm chi phí, nhiều doanh nghiệp đã xả thẳng CTNH (vụ công ty
Vêđan) ra môi trường hoặc sẵng sàng ký hợp đồng xử lý chất thải nguy hại với
các cơ sở tư nhân năng lực yếu mà không cần quan tâm đến việc các chất thải
này được xử lý ra sao. Các cơ sở này đem chất thải nguy hại đi chôn lấp không
đúng quy cách hoặc đổ ra ngoài, gây ô nhiễm và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng
đồng. Thời gian qua các cơ quan chức năng đã bắt quả tang nhiều doanh nghiệp
vi phạm như: công ty TNHH Tân Đức Thảo, DNTN Đặng Tư Ký… Nhiều
trường hợp các CTNH khi đưa vào tái chế còn chưa được làm sạch như trường
hợp thân vỏ tàu cũ nhập về còn chứa nhiều CTNH chưa làm sạch (còn dính dầu,
mỡ) đã đem vào lắp ghép (ví dụ đối với các trường hợp ở Hải Phòng: Nhà máy
Đóng tàu Phà Rừng, Công ty Công nghiệp tàu thủy Ngô Quyền, Công ty TNHH
Quý Hải, Công ty CP Thương mại Duy Linh, Công ty CP thương mại Bến Nước,
Công ty Thương mại Nam Ninh) [34].
Tình trạng CTNH được thu gom và xử lý, chôn lấp chung với chất thải
thông thường vẫn tiếp tục diễn ra khiến môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng.
người dân sẽ phải sống chung với rác thải của chính mình.
Bên cạnh đó nhận thức về bảo vệ môi trường nói chung và môi trường
trong các KCN nói riêng của chính quyền địa phương còn chưa thực sự được coi
trọng, chưa coi môi trường KCN là một nhiệm vụ quản lý nhà nước, chưa đánh
giá được đúng mức tầm quan trọng của môi trường trong mối quan hệ với phát
triển bền vững giữa hoạt động sản xuất và sinh hoạt trong KCN cũng như giữa
KCN với khu vực bên ngoài. Ý thức bảo vệ môi trường của một số chủ đầu tư
xây dựng hạ tầng KCN và nhà đầu tư vào các KCN còn rất hạn chế. Sự mâu
thuẫn lợi ích – chi phí khi xây dựng hệ thống xử lý chất thải cùng với việc chưa
có cơ chế hỗ trợ thỏa đáng từ phía Nhà nước đã khiến cho các nhà đầu tư chậm
triển khai việc xây dựng hệ thống xử lý chất thải tập trung cho KCN. Nhiều
công ty, doanh nghiệp đang sử dụng những “chiêu thức” để kín đáo “xả thải”
hoặc làm giảm nhẹ “tội” của cơ sở vi phạm như: Cho thấm, bay hơi tự nhiên;
Pha loãng nước thải; Giảm thời gian lưu…
Ý thức của chính các cơ quan, cán bộ quản lý môi trường cũng chưa được
nâng cao, trình độ, nghiệp vụ còn hạn chế, khả năng phổ biến về tầm quan trọng
của việc bảo vệ môi trường đến người dân còn chưa sâu, rộng.
20
- Trách nhiệm của cơ quan quản lý: Hiện nay các cơ quan quản lý nhà nước
về môi trường đã tích cực tham gia vào công tác bảo vệ môi trường nói chung và
quản lý CTNH nói riêng, nhiều chiến lược, chính sách đã được đặt ra, nhiều
chương trình đã được triển khai trên thực tế và đã đạt được những hiệu quả nhất
định. Nhiều sự việc liên quan đến công tác quản lý CTNH đã được phát hiện,
điều tra và xử lý nghiêm minh.
Tuy nhiên sự tham gia đó còn chưa đạt được những hiệu quả như đã đặt ra,
trong hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường thì hệ thống các quy định thống
nhất về công tác quản lý môi trường theo các loại hình ô nhiễm (rắn, lỏng, khí)
ở những nơi nuôi trồng, khai thác, và chế biến đã bị ô nhiễm trầm trọng với hơn
12 triệu m3 nước thải hàng năm [21]làm tiêu diệt nguồn cá và hệ sinh thái, đặc
biệt như nguồn san hô theo dọc bờ biển, môi trường chính của tôm cá.
Công nghiệp của Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh nhưng do còn lạc
hậu nên còn phải dựa nhiều vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên. Cộng với
đó các nghành công nghiệp hiện có ở Việt Nam còn tiêu thụ quá nhiều năng
lượng so với số lượng thành phẩm thu hoạch được khiến cho nguy cơ gây ô
nhiễm ngày càng cao, đặc biệt là những khu công nghiệp lớn như: ĐB sông
Hồng, Tp. HCM, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai, Sông Bé. Trong khi đó, hệ thống
đường xá giao thông vận tải chỉ mới đáp ứng được 35-40% so với nhu cầu cần
thiết nên tình trạng ứ đọng, kẹt xe xảy ra thường xuyên làm cho ô nhiễm bụi
(PM10), khí thải và tiếng ồn...ngày càng tăng.
Du lịch Việt Nam đang ngày càng được đầu tư chú trọng phát triển nhiều
khu nghỉ mát, resort, khu vui trơi, giả trí đã được xây dựng dọc bờ biển và các
đảo nhỏ. Song xây dựng không chú trọng đến đầu tư về sử lý nước thải, cho nên
bờ biển ngày càng bị ô nhiễm, hệ sinh thái của từng vùng đang từng ngày bị huỷ
diệt
Để hoà nhập vào nền kinh tế thế giới hệ thống pháp luật môi trường của
Việt Nam cần sửa đổi, chấp nhận 1 số hy sinh để cải đổi cung cách quản lý vẫn
còn lạc hậu. Đặc biệt hơn hết là Việt Nam phải chấp nhận nguy cơ ô nhiễm môi
trường do phát triển và do trao đổi về đầu tư sản xuất. Vì thiếu quản lý chặt chẽ
cho nên hiện tại Việt Nam đang biến thành một bãi thải thiết bị công nghệ lạc
22
hậu khổng lồ và là nơi tiêu thụ những mặt hàng hoá kém phẩm chất, không đảm
bảo yêu cầu của môi trường.
1.3. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới trong quản lý chất
độc hại, các hoá chất dễ cháy nổ và chất nổ. Bất kỳ tổ chức nào xử lý chất thải
nguy hiểm đều phải tiến hành các bước thích hợp nhằm đảm bảo thu gom, lưu
trữ và xử lý thích hợp loại chất thải này trực tiếp hoặc thông qua bộ phận vận
hành của cơ sở xử lý. Hiện nay, chính phủ Ấn Độ đang đẩy mạnh việc huy động
vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế để thúc đẩy việc xây dựng thiết bị xử lý và
chôn lấp chất thải.
Trung Quốc [31]: là một nước có tốc độ phát sinh chất nguy hại rất cao nên
hiện Trung Quốc rất chú trọng đến công nghệ tái chế để tận dụng lại phần lớn
CTNH. Phần lớn các cơ sở sản xuất ở đây có khả năng xử lý chất thải tại chỗ,
điều này đã giúp các cơ sở sản xuất có thể tiết kiệm khá nhiều chi phí trong quá
trình quản lý chất thải. Bên cạnh đó Trung Quốc cũng rất chú trọng đến việc
hoàn thiện hệ thống pháp luật quy định về quản lý CTNH. Năm 1995, “luật
kiểm soát và phòng ngừa nhiễm bẩn do chất thải rắn” được ban hành, trong đó
quy định các ngành công nghiệp phải đăng ký việc phát sinh chất thải, nước thải,
… đồng thời phải đăng ký việc chứa đựng, xử lý và tiêu huỷ chất thải, liệt kê các
chất thải từ các ngành công nghiệp...Do công nghiệp điện tử của Trung Quốc
hiện đang có những bước phát triển mạnh, khả năng gây ô nhiễm của các sản
phẩm điện tử cao vì vậy pháp luật Trung Quốc đã quy định các sản phẩm điện tử
sản xuất sau ngày 1/3/2007 buộc phải dán nhãn chỉ rõ có hay không có độc chất
trong sản phẩm nhằm hạn chế những tác động bất lợi do ngành công nghiệp sản
xuất điện tử mang lại.
Đối với Việt Nam, trong điều kiện nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn,
nhận thức của cộng đồng chưa được nâng cao thì chúng ta cần phải quan tâm,
chú ý tới việc học tập kinh nghiệm của các nước và áp dụng phù hợp với tình
hình thực tế của đất nước nhằm mục đích đạt được hiệu quả cao nhất trong công
tác quản lý CTNH.
24
chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý CTNH như: thu gom,
vận chuyển, quá cảnh, lưu giữ, xử lý và tiêu huỷ CTNH nhằm bảo vệ môi trường
và sức khoẻ cộng đồng.
2.1.2. Sự phát triển của pháp luật quản lý chất thải nguy hại
Tình hình kinh tế xã hội ngày càng phát triển, hệ thống pháp luật ngày càng
được hoàn thiện nên công tác bảo vệ môi trường, trong đó có lĩnh vực quản lý
CTNH ngày càng được quan tâm. Sự quan tâm này được đánh dấu bằng sự ra
đời của LBVMT 1993.
Trong LBVMT 1993 đã đưa ra một số quy định chung về quản lý chất thải.
Quản lý CTNH đã được phân cấp theo các nội dung quản lý môi trường nói
chung, theo đó các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các
cấp theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình phải có trách nhiệm trong
việc quản lý chất thải, đặc biệt là CTNH. Như vậy về mặt pháp lý vấn đề quản lý
CTNH đã bước đầu được nhà nước ta đề cập tới. Ngày 28/10/1994 Chính phủ
ban hành Nghị định 175/CP về hướng dẫn thi hành LBVMT 1993 đã khẳng định
nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ khoa học, Công nghệ và Môi trường và các Sở
Khoa học, Công nghệ và Môi trường…. trong quản lý CTNH
Một loạt các văn bản khác đề cập đến các khía cạnh khác nhau trong lĩnh
vực quản lý CTNH cũng đã ra đời như: Nghị định số 02/CP ngày 05/01/1995
của Chính phủ quy định hàng hoá cấm kinh doanh thương mại và hàng hóa dịch