Pháp luật vầ quản lý chất thải nguy hại tại Việt Nam - Pdf 15

Tài liệu
PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÍ CHẤT THẢI
NGUY HẠI TẠI VIỆT NAM
1
Lời mở đầu
Môi trường là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng và
cần thiết với mỗi con người và mỗi quốc gia. Nó là nền tảng
của sự tồn tại và phát triển bền vững của xã hội, bất cứ hoạt
động gì của con người cũng diến ra trong môi trường và vì thế
nó có những tác động nhất định tới môi trường. Hiện nay với sự
bùng nổ dân số trên toàn cầu và tốc độ công nghiệp hóa cao đã
gây ra những tổn thất to lớn cho môi trường. Những tốn thất
này đang là mối đe dọa cho toàn nhân loại. Chính vì vậy một
trong những vấn đề mang tính toàn cầu hiện nay là những biện
pháp bảo vệ hiệu quả nhất cho môi trường của trái đất. Việt
Nam cũng không tránh khỏi những vấn đề nan giải về môi
trường. Trong đó, vấn đề quản lí chất thải nguy hại là một vấn
đề bức thiết, đòi hỏi chúng ta phải có những biện pháp giải
quyết. Xuất phát từ tấm quan trọng của chất thải nguy hại, Nhà
nước đã ban hành những văn bản pháp luật điều chỉnh lĩnh vực
này. Tuy nhiên, đây là một vấn đề khá mới mẻ nên bên cạnh
những ưu điểm của những quy định về quản lí chất thải nguy
hại không tránh khỏi những bất cập, những thiếu sót. Việc hoàn
thiện những quy định về quản lí chất thải nguy hại sẽ góp phần
không nhỏ cho công tác bảo vệ môi trường của nước ta đảm
bảo cho sự phát triển bền vững trong thòi kì phát triển kinh tế
như hiện nay.
I – Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại
2
1. Khái niệm chất thải nguy hại
Chất thải nguy hại luôn là một trong những vấn đề môi

chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể liên quan đến chất
thải nguy hại đối với cơ quan quản lý nhà nước về môi
3
trường và với nhau trong quy trình quản lý chất thải
nguy hại nhằm bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng
đồng.
Với tư cách là phương tiện hàng đầu của quản lý nhà
nước đối với chất thải nguy hại, pháp luật xác định địa vị
pháp lý của các cá nhân, các tổ chức sản xuất kinh doanh
có liên quan đến lĩnh vực chất thải nguy hại, tạo hành
lang pháp lý để các chủ thể này tham gia vào các quan hệ
khai thác, sử dụng các thành phần môi trường. Cũng
thông qua pháp luật, Nhà nước với vai trò là chủ thể
quản lý tạo ra môi trường thuận lợi, tin cậy và chính thức
cho các hoạt động quản lý chất thải nguy hại trong phạm
vi cả nước, cần kiểm soát tốt chất thải nguy hại ngay từ
nguồn thải đồng thời thực hiện tốt các bước trong quy
trình quản lý chất thải nguy hại như thu gom, vận
chuyển, quá cảnh, lưu trữ, xử lý và tiêu hủy chất thải
nguy hại.
b, Nội dung pháp luật về quản lý chất thải nguy hại
Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại đã đưa ra một
quy trình để triển khai và thực hiện một cách lần lượt từ
việc thu gom, lưu giữ, vận chuyển đến việc xử lý và tiêu
hủy chất thải nguy hại. Đồng thời cũng quy định rõ trách
nhiệm của các chủ thể liên quan đến chất thải nguy hại,
từ các cơ quan quản lý nhà nước đến các tổ chức, cá nhân.
Cụ thể:
+ Việc quản lý chất thải nguy hại phải được lập hồ sơ và
đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi

hóa học, lý học và sinh học của từng loại chất thải nguy
hại để đảm bảo đạt tiêu chuẩn môi trường. Trường hợp
trong nước không có công nghệ, thiết bị xử lý thì phải lưu
giữ theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ
quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường cho đến khi
chất thải được xử lý. Chỉ những tổ chức, cá nhân được cơ
quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép và
mã số hoạt động mới được tham gia xử lý chất thải nguy
hại. Tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng cơ sở xử lý chất
thải nguy hại phải lập báo cáo đánh giá tác động môi
trường và thực hiện yêu cầu về bảo vệ môi trường. Việc
chuyển giao trách nhiệm xử lý chất thải nguy hại giữa
5
chủ có hoạt động làm phát sinh chất thải và bên tiếp
nhận trách nhiệm xử lý chất thải được thực hiện bằng
hợp đồng, có xác nhận của cơ quan chuyên môn về bảo vệ
môi trường cấp tỉnh. Hợp đồng chuyển giao trách nhiệm
xử lý chất thải nguy hại phải ghi rõ xuất xứ, thành phần,
chủng loại, công nghệ xử lý, biện pháp chôn lấp chất thải
còn lại sau xử lý. (Điều 73 Luật bảo vệ môi trường 2005)
+ Việc thải bỏ, chôn lấp chất thải nguy hại còn lại sau khi
xử lý phải được thực hiện theo quy định của pháp luật và
hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền
về bảo vệ môi trường. Khu chôn lấp chất thải nguy hại
phải đáp ứng các yêu cầu: Được bố trí đúng quy hoạch,
thiết kế theo yêu cầu kỹ thuật đối với khu chôn lấp chất
thải nguy hại. Có khoảng cách an toàn về ôi trường đối
với khu dân cư, khubaor tồn thiên nhiên, nguồn nước
mặt, nước dưới đất phục vụ mục đích sinh hoạt. Có hàng
rào ngăn cách và biển hiệu cảnh báo. Có kế hoạc và trang

nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong
việc chỉ đạo các Sở Giao thông Công chính trong việc lập
quy hoạch và kế hoạch xây dựng các khu lưu giữ, các cơ
sở xử lý, tiêu hủy, các bãi chôn lấp chất thải nguy hại hợp
vệ sinh, lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch quản
lý chất thải (bao gồm cả chất thải nguy hại) của địa
phương (Điều 22 Quy chế quản lý chất thải nguy hại)
- Bộ công nghiệp có trách nhiệm Giám sát, kiểm tra và
triển khai các biện pháp hữu hiệu buộc các chủ nguồn
thải phải tuân thủ các quy định của Quy chế. Trường hợp
các chủ nguồn thải không có khả năng tự thực hiện được
việc thu gom, xử lý, tiêu hủy chất thải nguy hại, thì yêu
cầu các chủ nguồn thải phải ký hợp đồng với các chủ thu
gom, vận chuyển, xử lý, tiêu hủy chất thải nguy hại. Phối
hợp với Tài nguyên và môi trường tổ chức điều tra, đánh
giá mức độ ô nhiễm môi trường do chất thải nguy hại gây
ra tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc Bộ Công
nghiệp quản lý (Điều 23 Quy chế quản lý chất thải nguy
hại)
- Bộ y tế có trách nhiệm Giám sát, kiểm tra và có các biện
pháp hữu hiệu buộc các bệnh viện, trạm y tế, cơ sở dịch
vụ y tế tuân thủ các quy định của Quy chế. Chủ trì, phối
7
hợp với Bộ Tài nguyên và môi trường, Bộ Xây dựng trong
việc quy hoạch, lựa chọn công nghệ, thiết bị, đầu tư xây
dựng và vận hành hệ thống lò thiêu đốt chất thải y tế đạt
tiêu chuẩn môi trường Việt Nam, ban hành quy chế quản
lý chất thải y tế. (Điều 24 Quy chế quản lý chất thải nguy
hại)
- Bộ quốc phòng, Bộ công an có trách nhiệm Giám sát,

của các tổ chức cá nhân liên quan đến chất thải nguy hại. Pháp luật quản lý
chất thải nguy hại đã phân định rõ quyền hạn cho các cơ quan Nhà nước
giúp cho hoạt động quản lý của Nhà nước đối với vấn đề này đạt hiệu quả
cao. Đồng thời pháp luật còn định hướng cho hành vi, xử sự của các chủ
thể khi tham gia các hoạt động liên quan đến chất thải nguy hại. Qua đó
ngăn ngừa, hạn chế việc gia tăng số lượng chất thải nguy hại vào môi
trường, giảm thiểu những ảnh hưởng bất lợi của nó đối với sức khỏe con
người cũng như môi trường sống.
Trong xu thế hội nhập hiện nay, với việc thành lập nhiều nhà máy, xí
nghiệp, pháp luật về quản lý chất thải nguy hại đã góp phần đáng kể hạn
chế các vi phạm về môi trường thông qua các biện pháp cụ thể.
Biện pháp pháp lý: Với tư cách là hệ thống các quy phạm pháp luật điểu
chỉnh hành vi xử sự của con người, pháp luật quản lý chất thải nguy hại đã
tác động trực tiếp đến hành vi xử sự của các chủ thể. Đây là biện pháp đem
lại hiểu quả cao nhất, thông qua đó hoạt động quản lý chất thải nguy hại
được thể chế hóa bằng pháp luật.
Biện pháp kinh tế: Đó là việc sử dụng lợi ích vật chất để kích thích hoặc bắt
buộc các chủ thể thực hiện những hoạt động có lợi cho hoạt động quản lý
chất thải. Biện pháp này thực hiện thông qua hình thức thu phí chất thải đổi
với các cơ sở sản xuất kinh doanh nhằm hạn chế lượng chất thải có thể phát
sinh ngay tại nguồn. Áp dụng thuế cao đối với những sản phẩm có khả
năng gây ô nhiễm môi trường hoặc sức khỏe con người ở mức độ cao. Đó
còn là những biện pháp hỗ trợ vốn, miễn giảm thuế cho doanh nghiệp đầu
tư trang thiết bị công nghệ thân thiện môi trường, Biện pháp kinh tế rất
cần thiết và có hiệu quả phòng ngừa cao vì nó tác động trực tiếp tới nguồn
thu nhập, lợi nhuận của doanh nghiệp
Biện pháp khoa học công nghệ: Vận dụng các thiết bị khoa học công nghệ
tiên tiến vào việc quản lý chất thải. Biện pháp này giúp hạn chế được lượng
chất thải, đồng thời xử lý được khối lượng lớn và triệt để chất thải.
Biện pháp chính trị: Đảng đưa ra vấn đề môi trường và quản lý chất thải

CHấT THảI có tính đa dạng hơn nhiều so với các hóa chất thuần túy và vì
thế quy chế đã được ban hành nhưng thiếu tính khả thi vì nó chưa bao trùm
hết các dạng chất thaỉ nguy hại.
Để các văn bản pháp luật liên quan đến quản lí chất thải phát huy hiệu lực
cần có sự hướng dẫn cu thể và chi tiết, ví dụ cần chỉ rõ các yêu cầu thiêu
đốt chất thải y tế và chỉ ra cụ thể diện tích tối thiểu mà một bãi chôn lấp
hợp vệ sinh cần có hay chí tiết hóa mục tiêu với phần trăm phạm vi thu
gom. Tuy nhiên cho đến nay mặc dù quy chế quản lí chất thải nguy hại và
sau đó là quy chế quản lí chất thải y tế đã được ban hành khá lâu nhưng
điều bất cập là chưa có đầy đủ các thông tư hướng dẫn cụ thể. Việc thực
hiện quy chế cho các đối tượng là các cơ quan quản lí nhà nước về CHấT
THảI ở địa phương các nguồn chất thải chủ thu gom vận chuyển, chủ xử lí
tiêu hủy CHấT THảI. Việc ban hành các văn bản quy định về các tiêu
chuẩn bãi chôn lấp hợp vệ sinh tiêu chuẩn xe chuyển tải, tiêu chuẩn thiết bị
vận hành xử lí cũng còn chậm trễ và chưa đồng bộ.
Một vấn đè nữa đang gây rất nhiều khó khăn trong công tác thực hiện pháp
luật về quản lí CHấT THảI hiện nay là chúng ta chưa thể thể chế hóa được
các chế tài xử lí cu thẻ việc vi phạm các quy định về quản lí CHấT THảI
trong quy chế mới Điều 30 đề cập tới vấn đề này nhưng rất chunh chung
10
chưa cụ thể.
Việc xây dưng các tiêu chuẩn hiện nay dựa tên giả định trước rằng đã đầy
đủ cơ quan giám sát các hoạt động người gây ô nhiễm và có quyền ra lệnh
phạt những người vi phạm. Tuy nhiên hiện nay hệ thống thanh tra môi
trường ở các địa phương còn yếu, chưa có đủ chuyên môn và kinh nghiệm
cần thiết. Từ góc đọ khác có thể thấy những người tham gia xây dựng các
tiêu chuẩn thường có tham vọng và đưa ra các tiêu chí tương đối nghiêm
ngặt thường quá cao so vói trình độ phát triển chung toàn quốc và do đó
khó có đủ cơ sở để thực thi hiệu quả.
- Đối với những quy định của pháp luật về nghĩa vụ của người sản sinh chất

pháp cụ thể xử lí.
11
Do tính chất của việc vận chuyển chất thải nguy hại có tính chất đặc thù
nên pháp luật phải quy định cụ thể hơn nữa về người vận chuyển chất thải
nguy hại vì người này gắn liền với quá trình vận chuyển và là người chủ
yếu đảm bảo an toàn cho quá trình vận chuyển.
Thiếu quy định về việc quyết định các biện pháp xử lý khi có sự cố xảy ra
trong quá trình vận chuyển chất thải nguy hại. Pháp luật chỉ quy định là tự
chịu trách nhiệm còn chịu trách nhiệm cụ thể như thế nào thì chưa quy định
rõ.
Việc quy định về phương tiện vận chuyển còn lỏng lẻo. Pháp luật chỉ quy
định bằng phương tiện chuyên dụng phù hợp để xác định một phương tiện
đủ tiêu chuẩn để vận chuyển chất thải nguy hại thì chưa có những tiêu
chuẩn cụ thể
- Đối với người xử lý chất thải nguy hại
Chỉ được thực hiện những hoạt động xử lý khi có giấy phép và mã số hoạt
động do cơn quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp. Đây là một quy
định hợp lý nhưng trên thực tế khâu cấp giấy phép lại gây ra những khó
khăn cho hoạt động xử lý. Hoạt động xử lý vô hình chung làm ảnh hưởng
đến tốc độ của quá trình này.
Pháp luật quy định phương pháp xử lý chất thải nguy hại bằng phương
pháp công nghệ, thiết bị phù hợp với đặc thù hóa học, lý học và sinh học
của từng loại chất thải nguy hại đểm đảm bảo đạt được tiêu chuẩn môi
trường. Trường hợp trong nước không có công nghệ thiết bị xử lý thì phải
lưu giữ theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà
nước về bảo vệ môi trường cho đến khi chất thải được xử lý. Nhưng trên
thực tế công nghệ khoa học kỹ thuật trong nước vể kiểm định và xử lý chất
thải còn lạc hậu, vấn đề kinh phí để đổi mới và bổ sung các thiết bị khoa
học tiên tiến còn đang gặp khó khăn do thiếu nguồn đầu tư, bởi vậy nếu
không có công nghệ thiết bị phù hợp với đặc tính của chất thải nguy hại mà

thống vận hành không đúng theo hướng dẫn kĩ thuật, làm giảm tuổi thọ hệ
thống.
Nhận thức của cộng đông về công tác bảo vệ môi trường và xử lí chất thải
còn yếu kém. Người dân hầu như không nhận thức được tác hại của rác thải
và sự ảnh hưởng của rác thải với sức khỏe và môi trường sống, ý thức bảo
vệ môi trường chưa cao. Người dân thường quan niệm quản lí chất thải là
công việc của nhà nước, pháp luật, chính vì vậy tình trạng xả thác tràn lan
bừa bãi còn phổ biến. Nếu cứ tiếp tục xả rác như hiện nay thì phải sống
chung với rác thải của chính mình
III - Giải pháp
13
Bảo vệ môi trường để phát triển bền vững hiện nay đã trở thành một vấn đề
sống còn của toàn nhân loại. Cùng với phát triển kinh tế, mức sinh hoạt của
người dân ngày càng được nâng cao thì lượng chất thải nguy hại cũng tăng
nhanh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng môi trường và sức khoẻ
con người.Chất thải nguy hại luôn là một trong những vấn đề môi trường
trầm trọng nhất mà con người dù ở bất cứ đâu cũng phải tìm cách để đối
phó. Có người cho rằng, chỉ có các nước phát triển mới phải lo lắng đến
việc quản lý chất thải nguy hại vì ở các nước phát triển đã sản sinh ra nhiều
chất thải, còn các nước đang phát triển thì còn nhiều vấn đề khác cần ưu
tiên quan tâm hơn. Đây là một suy nghĩ rất sai lệch. Vì, như chúng ta biết,
với tốc độ phát triển liên tục của công nghiệp hoá ở các nước đang phát
triển, vấn đề quản lý chất thải nguy hại là hết sức cần thiết, đòi hỏi phải có
sự quan tâm đặc biệt để đối phó ngay một cách nghiêm túc, kịp thời trước
khi vấn đề đã trở nên trầm trọng.
Ở Việt Nam, quản lý chất thải và đặc biệt là chất thải nguy hại đang là một
trong những nội dung quan trọng trong lĩnh vực quản lý môi trường.
Ngày 16/7/1999, Chính phủ đã ban hành Quy chế quản lý chất thải nguy
hại, theo đó khái niệm chất thải nguy hại đã được nêu tại Khoản 2, Điều 3
như sau: “Chất thải nguy hại là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất

(hay còn gọi là chất thải nguy hại).
Ngày 2/2/1995, Pháp lại có thêm một bộ luật mới là Bộ luật về tăng cường
bảo vệ môi trường đã thiết lập thêm phụ phí đối với việc xử lý chất thải
nguy hại, tương đương 40F (frăng Pháp)/1 tấn chất thải được loại bỏ để lại
trong một cơ sở xử lý, và sẽ được tăng gấp đôi nếu tấn chất thải đó được
tích trong một bãi thải đặc biệt. Phụ phí này do Cục Môi trường và quản lý
năng lượng thu lại và trong vài năm tới sẽ tăng gấp đôi. Năm 1998, phụ phí
trên đã mang lại 10 triệu frăng Pháp được sử dụng cho việc phục hồi và xử
lý những địa điểm ô nhiễm đã bị bỏ hoang.
Cộng hoà liên bang Đức đã đưa ra các biện pháp chiến lược để quản lý các
chất thải nguy hại như: ngăn ngừa ngay từ nguồn thải, giảm thiểu số lượng
chất thải nguy hại, xử lý và tái sử dụng chúng. Trong vòng 20 năm lại đây,
Cộng hoà liên bang Đức đã ban hành nhiều đạo luật về quản lý chất thải.
Có khoảng 2000 điều luật, quyết định, quy định về hành chính với nội
dung phân loại các chất độc hại trong chất thải khí, rắn, nước về thu thập,
vận chuyển, xác định biện pháp giải quyết chất thải. Mỗi lần thay đổi luật,
quy định mới lại khắt khe và chặt chẽ hơn. Đó là những biện pháp xử lý
bằng pháp luật rất nghiêm các trường hợp làm phát sinh các chất thải nguy
hại mà chưa xử lý hoặc quá giới hạn cho phép, có thể áp dụng biện pháp
phạt tiền hoặc đình chỉ hoạt động của nhà máy, xí nghiệp hay cơ sở sản
xuất đã vi phạm pháp luật, bắt bồi thường thiệt hại gây ra hoặc truy tố trước
pháp luật.
Bên cạnh đó, pháp luật của Cộng hoà liên bang ĐỨc khuyến khích việc đổi
mới công nghệ và thiết bị (bằng cách thay thế từng phần hoặc toàn bộ)
nhằm hướng tới một công nghệ không hoặc ít sinh ra chất thải nguy hại.
Nhà nước cộng hoà Liên bang Đức giảm thuế hoặc cho vay tiền với lãi suất
thấp trả dần nếu đầu tư vào công nghệ mới hay thiết bị xử lý chất thải nguy
hại. Thêm vào đó, Nhà nước còn tuyên truyền, giáo dục cho nhân dân nhận
thức được tác hại nguy hiểm của loại chất thải này và chính nhân dân sẽ là
người giúp cho các cơ quan nhà nước kiểm tra, phát hiện các nguồn phát

hiệu quả vì đặc thù kinh tế - xã hội của các nước không hoàn toàn giống
nhau.
2. Thực trạng công tác quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam
Đồng thời với những thành quả do sự phát triển kinh tế đem lại, cũng xuất
hiện những nguy cơ gây ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng mà sự đe
doạ từ việc phát thải các chất thải nguy hại có ảnh hưởng trực tiếp đến sức
khoẻ cộng đồng là một trong những vấn đề đáng lo ngại nhất. Nhận thức rõ
được điều đó, chúng ta đã sớm nhận ra các yêu cầu về việc xây dựng và
hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý chất thải nguy hại, nhằm
đạt được mục tiêu đã đặt ra là không làm kìm hãm sự phát triển kinh tế,
đồng thời ngăn ngừa và giảm thiểu tối đa những tác hại do chất thải nguy
hại gây ra cho môi trường và sức khoẻ cộng đồng.
Luật bảo vệ môi trường 2005 và Quy chế quản lý chất thải nguy hại đã
được ban hành nhưng việc quản lý chất chải nguy hại vẫnkhông ít khó
khăn, trở ngại mà những nguyên nhân, những tồn tại chủ yếu xuất phát từ 2
vấn đề sau:
16
Thứ nhất, thực trạng các văn bản pháp luật
Pháp luật về quản lý chất thải nguy hại của chúng ta hiện nay vẫn còn chưa
đầy đủ, chưa hoàn thiện, thiếu tính đồng bộ, tổng thể; thiếu những văn bản
chi tiết hướng dẫn việc thực hiện quy chế quản lý chất thải nguy hại; các
địa phương áp dụng chưa thống nhất và còn nhiều lúng túng và nhất là
thiếu các chế tài xử phạt cụ thể đối với các hành vi vi phạm.
Thứ hai, thực trạng áp dụng các văn bản pháp luật
Việc triển khai áp dụng các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường nói
chung và quản lý chất thải nguy hại nói riêng là một vấn đề hết sức khó
khăn, đòi hỏi phải kết hợp đồng bộ nhiều yếu tố như: tuyên truyền, giáo
dục để các đối tượng liên quan đến lĩnh vực quản lý chất thải nguy hại hiểu
biết và nâng cao được ý thức tự giác trong việc thực hiện trách nhiệm của
mình; việc thực hiện chức năng, vai trò quản lý nhà nước trong việc triển

đến lĩnh vực quản lý chất thải nguy hại như: các cơ quan quản lý nhà nước,
các chủ nguồn thải, chủ thu gom, vận chuyển, chủ lưu giữ, xử lý tiêu huỷ
chất thải nguy hại cũng như các chế tài xử phạt nghiêm minh đối với các
hành vi vi phạm. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần phải biết “mềm” hoá việc
thực thi pháp luật bằng các cơ chế, chính sách phù hợp nhằm tạo điều kiện
kích thích cho việc đầu tư phát triển nền kinh tế nhưng vẫn kiểm soát và
ngăn ngừa được ô nhiễm do việc phát sinh các chất thải nguy hại gây ra.
Để cụ thể hoá cho quan điểm trên, theo nhóm em cần thực hiện một số biện
pháp sau:
- Xây dựng các văn bản hướng dẫn cụ thể
Ban hành các chỉ tiêu môi trường cho việc chọn lựa địa điểm, thiết kế xây
dựng, vận hành bãi chôn lấp chất thải nguy hại. Nghiên cứu, ban hành các
hướng dẫn về phương pháp tính để xây dựng phí thu gom, xử lý, tiêu huỷ
chất thải nguy hại. Ban hành danh mục các loại phế liệu, phế phẩm (trong
đó có quy định khống chế tỷ lệ chất thải nguy hại) được phép nhập khẩu
dùng trong sản xuất công nghiệp.
- Sửa đổi, bổ sung các quy định về xử lý các vi phạm
Hiện nay, các mức phạt theo các quy định tại Nghị định số 26/CP quy định
xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường là quá nhẹ, không hợp lý
và còn nhiều điểm quy định rất chung chung (ví dụ: theo Điểm b, Điều 16
Nghị định 26/CP, mức phạt cao nhất chỉ là 15.000.000đ áp dụng đối với
hành vi chôn vùi, thải các chất thải nguy hại quá giới hạn cho phép với khối
lượng lớn, thời gian khắc phục hậu quả lâu dài). Ngay cả trong 10 tội danh
tại Chương 17 Bộ luật Hình sự Việt Nam quy định tội phạm về môi trường
cho thấy các mức xử lý các cá nhân vi phạm cũng còn rất thấp (chỉ có từ 5
– 10 năm là tối đa). Ở đây, chúng ta thử một phép so sánh một cá nhân nếu
phạm tội cố ý giết người trong Luật hình sự có thể bị kết án tử hình. Tuy
nhiên, chủ một doanh nghiệp cố ý thải chất thải nguy hại gây ô nhiễm
nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất của nhân dân, gây nên nhiều
căn bệnh nan y dẫn đến tử vong cho nhiều người trong một thời gian dài thì

biệt cho các nhà sản xuất và tránh được ô nhiễm môi trường ở nhiều khu
vực khác nhau.
+ Khuyến khích việc nghiên cứu áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công
nghệ trong lĩnh vực xử lý chất thải nguy hại.
- Công tác tuyên truyền, giáo dục
Khuôn khổ pháp lý là cần thiết nhưng ý thức tự giác của các tổ chức, cá
nhân trong hoạt động bảo vệ môi trường cũng đóng góp một vai trò quan
trọng, phù hợp với quan điểm chung: “Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của
toàn dân”, tất cả cùng hướng đến mục đích vì một sự phát triển bền vững
trong hiện tại và tương lai cho đất nước. Vì vậy, chúng ta cần tăng cường
hơn nữa việc tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức về chất thải nguy
hại và pháp luật về chất thải nguy hại, phân tích làm cho nhân dân hiểu
được rằng đây là một vấn đề đang được cả thế giới quan tâm và “tai hoạ sẽ
đến với tất cả chúng ta, không kể người giàu hay nghèo” nếu không ý thức
được điều này.
- Mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế
Để thúc đẩy nhanh và có hiệu quả quá trình hội nhập chúng ta cần:
+ Tích thực nghiên cứu học hỏi kinh nghiệm của các nước trong khu vực và
các quốc gia trên thế giới trong vấn đề quản lý chất thải nguy hại để tìm ra
các giải pháp, các chính sách phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất
nước.
+ Thiết lập và phát triển mối quan hệ hợp tác quốc tế sẽ giúp cho các hoạt
19
động quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý chất thải nguy hại đạt kết quả
cao hơn. Thông qua các hoạt động như trao đổi thông tin, chuyển giao công
nghệ, đào tạo cán bộ quản lý, hỗ trợ về tài chính, chúng ta sẽ có điều kiện
triển khai giải quyết nhiều vấn đề vướng mắc trong công tác quản lý chất
thải nguy hại, nhất là vấn đề vốn và công nghệ.
+ Tham gia xây dựng và thực hiện các công ước quốc tế về lĩnh vực quản
lý chất thải nguy hại cũng cần coi là một ưu tiên hàng đầu trong chính sách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status