Pháp luật quản lý chất thải nguy hại ở Việt Nam - Pdf 35

1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTNMT: Bộ Tài nguyên và Môi trường.
CTNH: Chất thải nguy hại.
UBND: Ủy ban nhân dân.
Quy chế: Quy chế quản lý chất thải nguy hại ban hành kèm theo Quyết
định số 155/1999/QĐ-TTg ngày 16/07/1999.
Thông tư 12: Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT ban hành ngày 26/12/2006
hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành
nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại.
TBVTV: Thuốc bảo vệ thực vật.


2

PHẦN MỞ ĐẦU
Trong tiến trình toàn cầu hóa ngày càng gia tăng, mối quan tâm của thế giới
về vấn đề bảo vệ môi trường cũng được nâng cao rõ rệt. Tốc độ phát triển kinh
tế quá nhanh chóng và sự bùng nổ dân số thế giới đã khiến lá phổi xanh của
nhân loại ngày càng bị ô nhiễm nặng nề. Hàng loạt sự cố môi trường như: động
đất, núi lửa, sóng thần… đã và đang đe dọa đến chất lượng môi trường và đời
sống cộng đồng từng ngày, từng giờ. Ô nhiễm môi trường đã trở thành vấn đề
toàn cầu mà không phải của riêng quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nào. Thực tiễn đã
chứng minh, không một quốc gia nào có thể phát triển hùng mạnh và bền vững
nếu quốc gia đó không lấy vấn đề bảo vệ môi trường làm nền tảng cho sự phát
triển kinh tế.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường, trong đó ô nhiễm
môi trường do chất thải, đặc biệt chất thải nguy hại (CTNH) là nguyên nhân cơ
bản và khó tháo gỡ nhất. Trong hoạt động tiêu dùng của xã hội, bao gồm cả tiêu
dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân, một lượng lớn CTNH được thải bỏ vào môi

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận được kết cấu gồm 3 chương:
Chương I: Khái quát về CTNH và pháp luật quản lý CTNH .
Chương II: Các quy định pháp luật về quản lý CTNH ở Việt Nam.
Chương III: Thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về quản lý CTNH ở Việt
Nam và một số giải pháp hoàn thiện.

CHƯƠNG I


4

KHÁI QUÁT VỀ CHẤT THẢI NGUY HẠI VÀ PHÁP LUẬT QUẢN
LÝ CHẤT THẢI NGUY HẠI Ở VIỆT NAM.
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Khái niệm CTNH
Hoạt động sản xuất và tiêu dùng của con người luôn làm phát sinh ra các
loại chất thải. Hiểu một cách đơn giản, chất thải là những chất không sử dụng
được nữa, do con người thải bỏ ra trong hoạt động của mình. Theo qui định tại
Khoản 10 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam 2005 thì “Chất thải là vật
chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt
hoặc các hoạt động khác”. Từ khái niệm trên, ta có thể hiểu về chất thải một
cách cụ thể như sau:
i) Chất thải tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể như: rắn, lỏng, khí… Những
yếu tố phi vật chất không được coi là chất thải.
ii) Vật chất đó bị chủ sở hữu thải bỏ. Như vậy, vật chất đó có phải là chất
thải hay không phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí chủ quan của chủ sở hữu. Tuy
nhiên, phải loại trừ trường hợp do đặc thù trong hoạt động của mình, chủ sở hữu
phải thải bỏ vật chất và hoạt động thải bỏ này mang tính chất bị động đối với
chủ sở hữu cũng như đối với đối tượng khác. Một vật chất sẽ tồn tại dưới dạng
chất thải từ khi chủ sở hữu hoặc người sử dụng hợp pháp thải ra cho đến khi nó

đến môi trường và sức khỏe con người.
Ở Việt Nam, lần đầu tiên khái niệm CTNH được đề cập đến một cách
chính thức tại quy chế quản lý CTNH ban hành kèm theo QĐ 155/1999/QĐ-TTg
của Thủ tướng Chính phủ. Tại Khoản 2 Điều 3 Quy chế quy định: “CTNH là
chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất có một trong các đặc tính gây nguy hại
trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính
gây nguy hại khác) hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại đến môi
trường và sức khỏe con người”.
Đến năm 2005, định nghĩa này đã được sửa đổi và hoàn thiện hơn với cách
diễn đạt rất ngắn gọn và súc tích tại Khoản 11 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường
2005. Theo đó, CTNH là chất thải chứa yếu tố độc hại, phóng xạ, dễ cháy, dễ
nổ, dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác.
Khi đối chiếu khái niệm CTNH ở hai văn bản pháp luật trên, có thể dễ dàng


6

nhận thấy về mặt hình thức thì khái niệm CTNH trong Luật Bảo vệ môi trường
(2005) đã rút gọn đi rất nhiều về số lượng câu, chữ, cách diễn đạt cũng rõ ràng
hơn và súc tích hơn. Tuy nhiên, điều đó vẫn không làm giảm hay sai lệch phần
nội dung mà khái niệm muốn đề cập đến: CTNH là một loại chất thải, có các đặc
tính lý, hóa hoặc sinh học có thể gây nguy hại trực tiếp hay gián tiếp khi tương
tác với các chất khác.
Có nhiều tiêu chí để phân loại CTNH như: Phân loại theo nguồn thải đặc
thù, phi đặc thù; phân loại theo chất thải công nghiệp; phân loại theo loại nguy
hại; theo nhóm hóa học; theo thành phần hóa học ban đầu; theo tình trạng vật
lý… [21, tr.6]. Theo Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ban hành ngày
26/12/2006 về việc ban hành danh mục CTNH, CTNH được phân loại theo các
nhóm nguồn hoặc dòng thải chính như: Chất thải từ ngành thăm dò, khai thác,
chế biến khoáng sản, dầu khí và than; chất thải từ ngành sản xuất hóa chất vô cơ,

i) Trách nhiệm quản lý chất thải thuộc về cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
quản lý CTNH và các tổ chức, cá nhân có liên quan. Các cơ quan Nhà nước có
trách nhiệm quản lý CTNH trong phạm vi chức năng luật định. Các tổ chức, cá
nhân có trách nhiệm quản lý CTNH là những chủ thể có những hoạt động liên
quan trực tiếp đến CTNH như: chủ nguồn thải, chủ thu gom, vận chuyển, xử lý,
tiêu huỷ.
ii) Nội dung quản lý CTNH là các hoạt động mà các cơ quan quản lý Nhà nước
về bảo vệ môi trường và các tổ chức, cá nhân có liên quan phải thực hiện. Cụ thể
là: các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật về quản lý CTNH, thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời những sai
phạm… các tổ chức, cá nhân có liên quan phải tiến hành những hoạt động phân
loại, thu gom, vận chuyển, xử lý… CTNH.
Quy trình quản lý CTNH được thực hiện theo 5 giai đoạn. Đó là:
Giai đoạn 1: Quản lý nguồn phát sinh CTNH. Đây là việc tiến hành các
biện pháp để quản lý CTNH ngay tại chính nguồn phát sinh ra chất thải đó.
Kiểm soát CTNH tại nguồn là một công việc khá phức tạp. Cách thông thường
nhất được nhiều quốc gia sử dụng để giải quyết những vấn đề trên là tiến hành
thủ tục đăng ký cấp giấy phép đối với các chủ nguồn thải CTNH, đặc biệt là
trong ngành công nghiệp.


8

Giai đoạn 2: Phân lập, thu gom và vận chuyển CTNnước. Giai đoạn này
được thực hiện bằng việc phân loại, thu gom toàn bộ CTNH tại tất cả các nguồn
phát sinh ra chúng. Sau khi tiến hành việc thu gom, chất thải sẽ được vận
chuyển đến khu xử lý và thải bỏ hoặc đến trạm trung chuyển hay đến nơi lưu giữ
tạm thời [24, tr. 79].
Giai đoạn 3: Xử lý trung gian. Giai đoạn này được tiến hành bởi những
phương pháp xử lý khác nhau như: xử lý cơ học, xử lý hóa học, sinh học và

trường, bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ giữa
các chủ thể tiến hành hoạt động liên quan đến chất thải nguy hại với cơ quan
quản lý Nhà nước về môi trường và giữa các chủ thể tiến hành hoạt động liên
quan đến chất thải nguy hại với nhau trong quy trình quản lý chất thải nguy hại
nhằm bảo vệ môi trường và sức khoẻ cộng đồng.
Từ khái niệm trên, có thể hiểu về pháp luật quản lý CTNH một cách cụ thể
như sau:
Thứ nhất: Pháp luật quản lý CTNH là một bộ phận của pháp luật môi trường.
Như đã trình bày ở trên, pháp luật bảo vệ môi trường điều chỉnh 2 vấn đề
chính, trong đó có vấn đề kiểm soát, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường. Đây là tổng
hợp các quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề: Đánh giá tác động môi trường,
quản lý chất thải, bảo vệ môi trường trong các hoạt động xây dựng, sản xuất,
kinh doanh dịch vụ… Trong nhóm quy phạm pháp luật về quản lý chất thải bao
hàm cả nội dung quản lý CTNH. Do đó, pháp luật quản lý CTNH là một bộ
phận của pháp luật bảo vệ môi trường.
Thứ hai: Pháp luật quản lý CTNH điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể tiến
hành hoạt động có liên quan đến CTNH với cơ quan quản lý Nhà nước về môi
trường và mối quan hệ giữa các chủ thể tiến hành hoạt động có liên quan đến
CTNH với nhau: Các quan hệ phát sinh giữa cơ quan quản lý Nhà nước về môi
trường với các tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động liên quan đến CTNH, bao
gồm quan hệ giữa chủ nguồn thải, chủ thu gom, vận chuyển, xử lý CTNH với
các cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường. Các quan hệ này chính là những
quan hệ phát sinh trong quá trình tiến hành các quan hệ quản lý Nhà nước về
CTNH (quan hệ phát sinh từ hoạt động quy hoạch quản lý CTNH, hoạt động
thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hoạt động xử lý CTNH…). Mối quan hệ


10

giữa các chủ thể tiến hành hoạt động liên quan đến CTNH với nhau, bao gồm


Chất thải nguy hại phát sinh tại các vùng kinh tế trọng điểm
Đơn vị
Khu kinh tế trọng điểm phía Bắc

Khối lượng (tấn/năm)
28.739

Hà Nội

24.000

Hải Phòng

4.620

Quảng Ninh

119

Khu kinh tế trọng điểm miền Trung

4.117

Đà Nẵng

2.257

Quảng Nam



Lượng chất thải nguy hại phát sinh theo ngành
Ngành

Khối lượng (tấn)


12

Công nghiệp nhẹ

60.000

Hóa chất

45.000

Cơ khí luyện kim

26.000

Y tế

10.000

Từ chất thải sinh hoạt đô thị

5.000

Chế biến thực phẩm

y tế [30]. Theo kết quả điều tra năm 2005, tổng lượng chất thải rắn phát sinh từ


13

các cơ sở y tế khoảng 300 tấn/ngày, trong đó có khoảng 40 – 50 tấn/ngày là chất
thải rắn y tế nguy hại. Dự tính đến năm 2010, tổng lượng chất thải rắn y tế phát
sinh sẽ vào khoảng hơn 500 tấn/ngày, trong đó chất thải rắn y tế nguy hại chiếm
khoảng 60 – 70 tấn/ngày.
Một nguồn phát sinh CTNH nữa mà chúng ta không thể không kể đến, đó
là CTNH phát sinh trong hoạt động sinh hoạt mà chủ yếu do quá trình sử dụng
các phương tiện giao thông cơ giới của người dân. Theo kết quả thống kê, năm
1999, Việt Nam có khoảng hơn 478.000 xe ô tô các loại và hơn 5,4 triệu xe máy.
Dự tính, đến năm 2010, lượng ô tô các loại có thể lên tới gần 1,3 triệu chiếc và
khoảng 9 triệu xe mô tô. Theo số liệu của Bộ Giao thông vận tải, số lượng xe
máy trung bình mỗi năm tăng từ 15 đến 18% [25, tr. 169]. Do mức thu nhập
bình quân tính theo đầu người của Việt Nam còn thấp so với con số này ở các
nước trong khu vực và quá chênh lệch so với các cường quốc trên thế giới, nên ô
tô và xe máy ở Việt Nam tuy đa dạng về chủng loại nhưng hầu hết đã qua nhiều
năm sử dụng, tiêu thụ nhiều nhiên liệu và độc tố trong khí xả rất cao. Hiện nay,
ô tô và xe máy ở Việt Nam chủ yếu vẫn sử dụng xăng pha chì và chưa được lắp
đặt hệ thống trung hòa khí xả. So với các phương tiện giao thông khác như: Tàu
thủy, tàu hỏa, máy bay… thì ô tô, xe máy sử dụng đến 65% lượng nhiên liệu
dùng cho hoạt động giao thông. Do đó, lượng khí thải ô nhiễm và độc hại từ
những phương tiện giao thông cơ giới này rất cao [21, tr.137].
Ngoài lượng CTNH phát sinh từ hoạt động công nghiệp, y tế, giao thông,
còn phải kể đến nguồn đáng kể sản sinh ra CTNH hiện nay, đó là thuốc bảo vệ
thực vật (BVTV). Với số lượng lớn và ngày càng phong phú về chủng loại, giá
cả, số lượng thuốc BVTV được sử dụng ở Việt Nam khoảng 6.500 đến 9.000
tấn/năm, chủ yếu là các loại thuốc có tính độc cao, dễ lây nhiễm và chậm phân

đó cho thấy việc quản lý CTNH ngày càng được chú trọng ở Việt Nam. Tuy
nhiên, đó mới chỉ là bước đầu, bởi để đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn quản
lý CTNH thì chúng ta cần phải nỗ lực hơn rất nhiều.
1.3. Ảnh hưởng của CTNH đến môi trường và sức khỏe cộng đồng
1.3.1. Ảnh hưởng của CTNH đối với môi trường
Việc chôn lấp, xử lý CTNH không đúng quy cách đã gây ra những tác động


15

vô cùng nghiêm trọng đối với môi trường, cụ thể là ảnh hưởng đến nước ngầm,
nước mặt, đất và không khí.
Đặc điểm địa lý của Việt Nam với phần lớn diện tích đồi, núi, phần còn lại
là đồng bằng với mạng lưới sông ngòi dày đặc. Đây được xem như một ưu đãi
của thiên nhiên đối với con người Việt Nam, bởi chúng ta có thể sử dụng mạng
lưới sông ngòi này vào sinh hoạt và sản xuất. Tuy nhiên, mạng lưới sông ngòi
này đang bị đe dọa trầm trọng bởi chúng đang được sử dụng như nguồn chứa
nước thải từ chính hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân, đặc biệt ở
những khu đô thị và khu công nghiệp... Tại những thành phố lớn như: Hà Nội,
Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh… chưa có hệ thống xử lý chất thải công
nghiệp và sinh hoạt. Do đó, mạng lưới kênh rạch trong thành phố được coi là nơi
chứa chất thải chính, giải quyết vấn đề nhức nhối do chất thải một cách tạm thời.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế càng cao thì vấn đề ô nhiễm nguồn nước càng ở mức
báo động. Hầu hết các bệnh viện lớn đều không có hệ thống xử lý nước thải,
hoặc có nhưng không hoạt động đã thải lượng nước này trực tiếp vào sông ngòi
lân cận mà không qua xử lý, hoặc xử lý không đảm bảo vệ sinh. Hàng loạt
những con sông ở các thành phố đang trở thành những con sông chết khi nguồn
nước ở đây có màu đen sẫm và bốc mùi hôi nồng nặc vào không khí. Ngoài ra,
nhiều sự cố tràn dầu xảy ra trong thời gian gần đây cũng cảnh báo khả năng gây
ô nhiễm đến nguồn nước mặt và cần có những biện pháp phòng ngừa kịp thời.

CTNH phát sinh từ hoạt động giao thông vận tải, sinh hoạt, tiêu dùng và
đặc biệt là hoạt động công nghiệp đã làm cho mức độ ô nhiễm không khí ngày
càng gia tăng. Kết quả đo lường thực hiện trên thực tế cho thấy khoảng 70%
lượng bụi trong không khí đô thị do giao thông vận tải và xây dựng [25, tr. 168].
Tình trạng thiếu thiết bị xử lý khí thải độc hại ở phần lớn cơ sở công nghiệp (gần
100% doanh nghiệp phát thải khí không có thiết bị xử lý CTNH), tình trạng gia
tăng số lượng phương tiện giao thông đường bộ, việc đun nấu bằng than, dầu
hỏa trong sinh hoạt thường ngày của người dân là nguyên nhân đáng kể làm ảnh
hưởng đến bầu khí quyển. Nhiều loại CTNH được thải bỏ bằng cách cho bay hơi
chính là nguyên nhân làm cho nhiều độc tố lan tỏa vào không khí.
1.3.2. Ảnh hưởng của CTNH đến sức khỏe con người
Tồn tại dưới các dạng chủ yếu như: rắn, lỏng, khí… nên CTNH dễ dàng


17

xâm nhập vào cơ thể con người bằng nhiều cách thức khác nhau. Đặc biệt khi ở
dạng lỏng, sự xâm nhập và phá hủy của nó càng nhanh chóng và khó kiểm soát.
Tính chảy dòng của chất lỏng làm chúng dễ dàng di chuyển nên khó có thể
khoanh vùng lại. Hơn nữa, các chất lỏng dễ dàng hòa tan các chất khác và có thể
chuyển thành dạng hơi và khí [21, tr. 31]. Khi con người tiếp xúc với CTNH ở
nồng độ nhỏ sẽ có khả năng ảnh hưởng đến sức khỏe như: viêm da, viêm đường
hô hấp, viêm đường tiêu hóa… Nếu tiếp xúc ở nồng độ lớn, con người sẽ có khả
năng mắc các bệnh hiểm nghèo, có thể gây tử vong như: nhuyễn xương, đột biến
gen, bệnh Itai do nhiễm độc Cadimi…
Hiện nay, cùng với sự gia tăng cả về quy mô và số lượng các bệnh viện,
lượng chất thải y tế được thải ra ngày càng nhiều. Theo WHO, trong các loại
chất thải y tế, có khoảng hơn 85% chất thải y tế không lây nhiễm, 10% lây
nhiễm và 5% rất độc hại. Bao gồm: Kim tiêm, chai thuốc, hoá chất, bộ phận cơ
thể người bị cắt bỏ… có khả năng truyền bệnh rất cao. Đặc biệt các loại chất thải

cũng đang sản sinh ra lượng CTNH lớn do quá trình công nghiệp hóa – hiện đại
hóa diễn ra sôi động. Do đó, vấn đề quản lý CTNH cần phải được quan tâm
đúng mức ở bất kỳ quốc gia nào. Tuy nhiên, do chi phí cho công tác quản lý
CTNH lớn nên những quốc gia đang phát triển đã gặp trở ngại trong việc xây
dựng hệ thống xử lý CTNH hợp lý và hiệu quả. Mặt khác, do khó khăn về kinh
tế nên ở những quốc gia này, sự quan tâm đầu tiên của họ mới chỉ dừng lại ở
những lợi ích trước mắt là làm thế nào để đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao?
Và làm thế nào để cuộc sống của người dân được cải thiện. Do đó, việc quản lý
CTNH ở những nước này chưa thực sự hiệu quả. Đứng trước những thách thức
môi trường lớn lao, vấn đề quản lý CTNH đã được các quốc gia phát triển chú
trọng từ lâu và cùng với quá trình phát triển kinh tế, hệ thống quản lý CTNH ở
các quốc gia này ngày càng hoàn thiện. Có thể nghiên cứu pháp luật quản lý
CTNH ở một số quốc gia sau:
Pháp: Sắc lệnh Napoleon ký năm 1810 là văn bản đầu tiên quy định về
những cơ sở bị đưa vào danh sách xếp hạng gây ô nhiễm môi trường. Văn bản
này liên tục được sửa đổi, bổ sung từ năm 1917 trở đi. Cùng với quá trình phát
triển của nền kinh tế, các văn bản pháp luật của Pháp cũng được chỉnh sửa và
hoàn thiện dần. Năm 1975, một văn bản đầu tiên mang tên “Luật chất thải rắn”


19

được thông qua, trong đó đã có những quy định cụ thể hóa công tác quản lý
CTNH. Đến ngày 2/2/1995, Pháp có thêm bộ luật mới, đó là “ Luật về tăng
cường bảo vệ môi trường”. Bộ luật này đã quy định thêm phụ phí đối với việc
xử lý CTNH. Khoản thu này do Cục Môi trường và Quản lý năng lượng thu và
có thể tăng gấp đôi trong thời gian tới. Đến năm 1998, Pháp đã thu được 10 triệu
Frăng từ khoản phụ phí trên. Nhà nước Pháp đã sử dụng khoản thu này cho việc
phục hồi và xử lý những địa điểm ô nhiễm đã bị bỏ hoang [20, tr. 69]
Như vậy, có thể khẳng định vấn đề quản lý CTNH được Pháp chú ý đến từ

đề ô nhiễm môi trường do CTNH. Để khắc phục được tình trạng đó, Trung Quốc
rất chú trọng đến công nghệ tái chế để tận dụng phần lớn CTNH, số còn lại được
thải vào đất và nước. Biện pháp xử lý thông thường là đưa vào các bãi rác hở.
Phần lớn CTNH của các đơn vị sản xuất có khả năng xử lý tại chỗ. Điều đó đã
giúp các cơ sở này tiết kiệm được khá nhiều chi phí trong quá trình quản lý chất
thải. Bên cạnh việc tận dụng tối đa khoa học kỹ thuật vào xử lý CTNH, Trung
Quốc cũng rất chú trọng đến việc hoàn thiện hệ thống pháp luật quy định về vấn
đề này. Năm 1995, Trung Quốc đề ra “Luật kiểm soát và phòng ngừa nhiễm
bẩn do chất thải rắn”, trong đó quy định các ngành công nghiệp phải đăng ký
việc phát sinh chất thải, nước thải…, đồng thời phải đăng ký việc chứa đựng, xử
lý và tiêu hủy chất thải, liệt kê các chất thải từ các ngành công nghiệp, đặc biệt
là ngành công nghiệp hóa chất [24, tr. 174]
Gần đây, Trung Quốc đã công bố “Biện pháp quản lý khống chế ô nhiễm
từ các sản phẩm điện tử” nhằm hạn chế những tác động bất lợi do ngành công
nghiệp sản xuất điện tử mang lại. Theo đó, các sản phẩm điện tử sản xuất sau
ngày 1/3/2007 buộc phải dán nhãn chỉ rõ có hay không có độc chất trong sản
phẩm. Nếu trong sản phẩm có chất độc hại thì phải dán ký hiệu “e” màu xanh lá
cây, nếu sản phẩm có chất độc hại thì phải dán ký hiệu màu vàng cam trên sản
phẩm. Đồng thời, ghi chú tên gọi, hàm lượng của nguyên tố có độc đó, thời hạn
sử dụng và thời điểm bắt buộc hủy bỏ sản phẩm [27]
Qua nghiên cứu về mô hình quản lý CTNH ở một số quốc gia trên thế giới,
có thể nhận thấy rằng các quốc gia trên thế giới đã chú trọng đến vấn đề quản lý
CTNH từ rất sớm so với Việt Nam. Đặc biệt, những quốc gia phát triển như:
Đức, Pháp, Mỹ… đã đưa vấn đề quản lý CTNH lên một vị trí tương đối quan


21

trọng trong chiến lược phát triển của đất nước. Ở Việt Nam, tuy vấn đề quản lý
CTNH mới chỉ được chú trọng trong những năm gần đây, nhưng chúng ta đã rất

và Môi trường (sau đây gọi là BTNMT) đã ban hành một số văn bản pháp luật
như: Quyết định số 23/2006/QĐ–BTNMT về việc ban hành danh mục CTNH,
Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập
hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý CTNH. Gần đây nhất, để
điều chỉnh vấn đề quản lý chất thải rắn, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
59/2007/NĐ–CP về quản lý chất thải rắn, trong đó có rất nhiều quy định về chất
thải rắn nguy hại. Cùng thời gian này, Bộ Y tế đã ký Quyết định số
43/2007/QĐ-BYT về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế… Các văn
bản này điều chỉnh một số vấn đề chính trong quản lý CTNH như sau:
2.1. Trách nhiệm của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý CTNH
2.1.1. Ban hành các văn bản pháp luật về quản lý CTNH
Để thực hiện tốt công tác quản lý CTNH, việc đầu tiên mà các cơ quan Nhà
nước sẽ tiến hành đó là ban hành một hệ thống văn bản pháp luật về vấn đề này.
Trong đó quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan Nhà nước; trách
nhiệm của các cá nhân, tổ chức tiến hành hoạt động liên quan đến quản lý
CTNH và các chế tài xử lý vi phạm.
Thông tư 12 đã dành cả phần V quy định về vấn đề tổ chức thực hiện.


23

Trong đó, vai trò của các cơ quan Nhà nước về quản lý CTNH được thể hiện rất
cụ thể. Ngoài ra, những quy định trên cũng được đề cập khá rõ nét trong Nghị
định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006. Theo đó, BTNMT chịu trách nhiệm
chính trong việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động quản lý CTNH trên phạm vi toàn
quốc, ban hành hoặc xây dựng trình Chính phủ ban hành văn bản pháp luật về
quản lý CTNH. Điểm a, b Khoản 1 Điều 20 của Nghị định trên có quy định:
BTNMT có trách nhiệm ban hành danh mục CTNH và hướng dẫn quy trình
giảm thiểu, thống kê, khai báo và quản lý CTNH; hướng dẫn việc vận chuyển
CTNH ra nước ngoài xử lý theo Công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

sở của chủ vận chuyển hoặc chủ xử lý, tiêu hủy CTNH.
UBND cấp tỉnh hoặc Sở Tài nguyên và Môi trường được UBND cấp tỉnh
ủy nhiệm có trách nhiệm cấp, gia hạn, điều chỉnh và thu hồi giấy phép quản lý
CTNH đối với chủ vận chuyển và chủ xử lý, tiêu hủy CTNH có địa bàn hoạt
động trong tỉnh. Ngoài ra, Sở Tài nguyên và Môi trường còn có trách nhiệm cấp,
điều chỉnh Sổ đăng ký chủ nguồn thải CTNH cho các chủ nguồn thải hoạt động
trên địa bàn mình quản lý. Cụ thể như sau:
* Cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải:
Sổ đăng ký chủ nguồn thải CTNH là hồ sơ cấp cho chủ nguồn thải CTNH,
trong đó liệt kê thông tin về chủng loại, số lượng CTNH đăng ký phát sinh và
quy định trách nhiệm về bảo vệ môi trường của chủ nguồn thải đối với CTNH
được đăng ký.
Theo quy định của pháp luật, Sở Tài nguyên và Môi trường có thẩm quyền
cấp, điều chỉnh Sổ đăng ký chủ nguồn thải CTNH cho các chủ nguồn thải trong
tỉnh. Sau khi nhận đủ 03 bộ hồ sơ của chủ nguồn thải CTNH, trong thời hạn 07
ngày, Sở Tài nguyên và Môi trường phải xem xét sự đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ và
yêu cầu chủ nguồn thải CTNH sửa đổi, bổ sung nếu hồ sơ đó chưa đầy đủ.
Trong thời hạn 12 ngày tiếp theo kể từ ngày kết thúc việc xem xét sự đầy đủ,
hợp lệ của hồ sơ, Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm cấp Sổ đăng ký
chủ nguồn thải cho các chủ nguồn thải CTNH theo mẫu do Thông tư 12 quy
định. Cùng quá trình cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải cho các chủ thể nêu trên, Sở
Tài nguyên và Môi trường còn có trách nhiệm cấp mã số quản lý CTNH và đóng
dấu xác nhận vào Sổ đăng ký chủ nguồn thải kèm theo bộ hồ sơ đầy đủ và hợp


25

lệ.
Như vậy, Sổ đăng ký chủ nguồn thải CTNH được cấp cho các các tổ chức,
cá nhân sở hữu, điều hành cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ có phát sinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status