Pháp luật về quản lý vận tải đường bộ ở Việt Nam hiện nay (LV thạc sĩ) - Pdf 47

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

CHU THỊ NHÀN

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VẬN TẢI ĐƢỜNG BỘ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

HÀ NỘI – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

CHU THỊ NHÀN

PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ VẬN TẢI ĐƢỜNG BỘ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02




MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................... 1
Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ ........................................ 6
QUẢN LÝ VẬN TẢI ĐƢỜNG BỘ ..................................................................... 6
1.1. Quan niệm về pháp luật về quản lý vận tải đƣờng bộ.................................... 6
1.1.1. Khái niệm pháp luật về quản lý vận tải đƣờng bộ ...................................... 6
1.1.2. Đặc điểm pháp luật về quản lý vận tải đƣờng bộ........................................ 9
1.1.3. Vai trò của pháp luật về quản lý vận tải đƣờng bộ ................................... 11
1.2. Điều chỉnh pháp luật về quản lý vận tải đƣờng bộ ...................................... 13
1.2.1. Những nguyên tắc cơ bản của pháp luật về quản lý vận tải đƣờng bộ ........... 13
1.2.2. Một số nội dung điều chỉnh của pháp luật về quản lý vận tải đƣờng bộ .. 16
1.3. Tiêu chí đánh giá sự hoàn thiện của pháp luật về quản lý vận tải đƣờng bộ18
1.3.1.Tính toàn diện, đồng bộ ............................................................................. 19
1.3.2. Tính thống nhất ......................................................................................... 20
1.3.3. Tính phù hợp ............................................................................................. 20
1.3.4. Tính khả thi ............................................................................................... 21
1.3.5. Tính phù hợp về kỹ thuật pháp lý khi xây dựng các văn bản quy phạm
pháp luật .............................................................................................................. 22
1.4. Yếu tố ảnh hƣởng tới thi hành pháp luật về quản lý vận tải đƣờng bộ ........ 23
1.4.1. Sự hoàn thiện của pháp luật về quản lý vận tải đƣờng bộ ........................ 23
1.4.2. Ý thức của chủ thể tham gia vận tải đƣờng bộ ......................................... 24
1.4.3. Công tác tổ chức và ý thức pháp luật của chủ thể thi hành pháp luật ........... 24
1.4.4. Các yếu tố về: trình độ của đối tƣợng thi hành, thực hiện pháp luật; một số
điều kiện về vật chất, kỹ thuật cần thiết .............................................................. 25
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ................................. 27
VẬN TẢI ĐƢỜNG BỘ Ở NƢỚC TA HIỆN NAY ........................................... 27
2.1. Phân tích thực trạng pháp luật về quản lý vận tải đƣờng bộ ........................ 27

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................... 101


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Hoạt động vận tải nói chung và vận tải đƣờng bộ nói riêng có vai trò thiết
yếu đối với sản xuất và đời sống của con ngƣời. Hiện nay ở nƣớc ta, vận tải ô tô
đảm nhiệm trên 90% tổng khối lƣợng vận chuyển hành khách và trên 70% tổng
khối lƣợng vận chuyển hàng hóa. Vì vậy, hoạt động vận tải đƣờng bộ có vai trò
đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở nƣớc ta.
Kể từ khi nhà nƣớc chủ trƣơng xã hội hoá lực lƣợng vận tải đƣờng bộ, các
thành phần kinh tế đã phát triển mạnh mẽ, các phƣơng tiện kinh doanh vận tải gia
tăng nhanh chóng cả về số l

đƣợc hoàn thiện.
Vấn đề quản lý hoạt động vận tải đƣờng bộ luôn đƣợc Đảng và Nhà nƣớc
ta quan tâm và các nội dung này đã đƣợc đƣa vào Luật Giao thông đƣờng bộ từ
năm 2001. Sau hơn 7 năm thực hiện, đã ban hành Luật Giao thông đƣờng bộ
năm 2008 sửa đổi và các văn bản quy phạm pháp luật hƣớng dẫn Luật để quản
lý hoạt động vận tải đƣờng bộ.
Tuy nhiên, phải nhìn nhận rằng, trong lĩnh vực vận tải đƣờng bộ, đến nay
vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém tác động tiêu cực đến chất lƣợng dịch vụ vận tải
và an toàn giao thông, làm hạn chế những thành công trong quá trình phát triển
của vận tải đƣờng bộ. Tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, chở quá tải…
diễn ra phổ biến. Hiện tƣợng “xe dù”, “bến cóc”, “cơm tù”, đón trả khách không
đúng nơi quy định, tranh giành khách, bán khách,… vẫn tồn tại; công tác quản lý
nhà nƣớc về vận tải tuy không ngừng đƣợc hoàn thiện và đã đạt đƣợc những kết
quả nhất định nhƣng chƣa thật sự đƣợc đổi mới, chƣa theo kịp với sự phát triển và
những diễn biến của hoạt động vận tải; công tác quản lý của các đơn vị vận tải còn
nhiều yếu kém cần khắc phục.

2


vận tải hành khách liên tỉnh bằng xe ô tô, từ đó đƣa ra giải pháp nhằm hoàn
thiện hệ thống pháp luật về vận tải đƣờng bộ nói chung và vận tải hành khách
liên tỉnh bằng xe ô tô nói riêng.
- Trƣơng Thị Mỹ An (2014), Dịch vụ vận tải của Việt Nam, thực trạng và
giải pháp, luận văn tốt nghiệp lớp cao cấp lý luận chính trị, Trƣờng Học viện
Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Luận văn đã nghiên cứu và làm sang tỏ một số
cơ sở lý luận về dịch vụ vận tải trong đó bao gồm vận tải đƣờng bộ. Trên cơ sở
nghiên cứu thực trạng dịch vụ vận tải của Việt Nam, luận văn đã đề xuất các giải
pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về vận tải trong đó có vận tải đƣờng
bộ.
Các công trình nghiên cứu trên, mặc dù không trực tiếp nghiên cứu về
thực trạng pháp luật về quản lý vận tải đƣờng bộ ở Việt Nam hiện nay, tuy
nhiên, các công trình đã nghiên cứu sâu sắc những khía cạnh về thực tiễn hoạt
động vận tải đƣờng bộ ở một số địa phƣơng cụ thể, trên phạm vi cả nƣớc, đƣa ra
đƣợc những hạn chế của các quy định pháp luật và công tác thi hành pháp luật
về vận tải, trong đó có vận tải đƣờng bộ. Đồng thời, các công trình nghiên cứu
cũng đã đƣa các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý vận tải
đƣờng bộ. Những công trình này là nền tảng lý luận quan trọng, đi trƣớc mở
đƣờng cho những công trình nghiên cứu tiếp theo. Tuy nhiên các công trình này
chƣa đi sâu nghiên cứu thực trạng pháp luật về quản lý vận tải đƣờng bộ ở Việt
Nam hiện nay. Vì vậy, việc tiếp tục hƣớng nghiên cứu xoay quanh thực trạng
pháp luật về quản lý vận tải đƣờng bộ ở Việt Nam hiện nay là cần thiết, làm cơ
sở để soi chiếu lại, củng cố, hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận có liên quan, luận văn phân
tích thực trạng hệ thống nội dung cơ bản của quy định pháp luật về quản lý vận
tài đƣờng bộ, thực tiễn áp dụng hiện nay, để tìm ra những hạn chế, vƣớng mắc

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn sử dụng phƣơng pháp
lịch sử, tổng hợp, …
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
5.1. Ý nghĩa lý luận
4


Thông qua việc nghiên cứu thực trạng pháp luật về quản lý vận tải đƣờng
bộ nhằm làm rõ đặc điểm, vai trò, nguyên tắc, các yếu tố ảnh hƣởng và đánh giá
hiệu quả của pháp luật về quản lý vận tải đƣờng bộ cũng nhƣ những tồn tại, hạn
chế và bất cập trong các quy định cũng nhƣ việc triển khai, thực hiện pháp luật
về hoạt động vận tải đƣờng bộ. Đồng thời thông qua việc nghiên cứu của đề tài
đã hệ thống hóa hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, các quy định điều chỉnh
đối với hoạt động vận tải đƣờng bộ.
5.2. Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua việc nghiên cứu thực trạng pháp luật về quản lý vận tải đƣờng
bộ để rõ những mặt đƣợc, những tồn tại, hạn chế và bất cập trong các quy định
cũng nhƣ việc triển khai, thực hiện pháp luật về hoạt động vận tải đƣờng bộ. Từ
đó, đƣa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật
về hoạt động vận tải đƣờng bộ.
Do đó, luận văn là tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu liên quan
đến các quy định pháp luật về quản lý vận tải đƣờng bộ. Đồng thời, là căn cứ
cho các nhà nƣớc lý về vận tải đƣờng bộ để hoàn thiện hệ thống pháp luật về
quản lý vận tải đƣờng bộ ở Việt Nam hiện nay.
6. Cơ cấu của luận văn
Ngoài lời nói đầu và phần kết luận, luận văn đƣợc kết cấu bởi 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của pháp luật về quản lý vận tải đƣờng bộ.
Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về quản lý vận tải đƣờng bộ ở nƣớc ta
hiện nay.
Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý

6


ngƣời khuyết tật, xe súc vật kéo và các loại xe tƣơng tự (theo Luật Giao thông
đường bộ năm 2008) [29].
Hoạt động vận tải đƣờng bộ đã có từ rất lâu và trở thành một trong một
trong những hoạt động không thể thiếu, hay nói cách khác là hoạt động gắn liền
với mỗi một ngƣời dân. Bất cứ một ngƣời dân nào khi tham gia vào các hoạt
động xã hội, tham gia các quan hệ xã hội gần nhƣ đều phải tham gia vào hoạt
động vận tải đƣờng bộ. Chƣa kể đến việc tham gia hoạt động vận tải đƣờng bộ
để kinh doanh, mà hiện nay hoạt động kinh doanh đang là một trong những hoạt
động phát triển mạnh và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Bản thân hoạt động vận
tải đƣờng bộ có những đặc điểm sau đây:
- Hoạt động vận tải đƣờng bộ là hoạt động vận tải phổ biến, đa dạng và
gần gũi với ngƣời dân. Hiện nay ở nƣớc ta, hoạt động vận tải đƣờng bộ, trong đó
vận tải ô tô chiếm 90% tổng khối lƣợng vận chuyển hành khách và trên 70%
tổng khối lƣợng vận chuyển hàng hóa. Hoạt động vận tải đƣờng bộ có sự tham
gia của nhiều loại hình phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ.
- Là hoạt động vận tải có tính chủ động cao. Chủ động về thời gian,
không bị quy định về thời gian đi và thời gian chờ đợi các tuyến tiếp theo
thƣờng ít, có thể vận chuyển tới nhiều địa điểm khác nhau và đích cuối cùng, do
đặc điểm của hệ thống đƣờng xá là có ở khắp mọi nơi có ngƣời ở. Việc vận
chuyển kéo dài từ nơi đi tới tận đích đến cuối cùng với sự đa dạng của các
phƣơng tiện vận tải đƣờng bộ.
- Là hoạt động vận tải có tính linh hoạt trong lựa chọn và kết hợp các
phƣơng tiện vận chuyển khác nhau, tƣơng ứng với các tuyến đƣờng và sự sẵn có
các phƣơng tiện vận tải.
- Là hoạt động vận tải có sự tiện lợi cao, đa dạng trong vận chuyển các
loại hàng hóa, do sự đa dạng hình thức vận chuyển, từ hàng hóa nhỏ lẻ, số lƣợng
lớn đến các hàng hóa cồng kềnh, dễ vỡ.



thông trên đƣờng bộ từ đó góp phần làm giảm tai nạn giao thông và ô nhiễm môi
trƣờng.
Nhƣ vậy, có thể khẳng định vận tải đƣờng bộ giữ vai trò quan trọng và có
tác dụng lớn đối với nền kinh tế quốc dân của mỗi nƣớc. Hệ thống vận tải đƣờng
bộ đƣợc ví nhƣ mạch máu trong cơ thể con ngƣời, nó phản ánh trình độ phát
triển của một nƣớc. Vận tải đƣờng bộ phục vụ tất cả các lĩnh vực của đời sống
xã hội: sản xuất, lƣu thông, tiêu dùng, quốc phòng. Do đó, Đảng và Nhà nƣớc
cần chú trọng, quan tâm tới công tác quản lý đối với hoạt động vận tải đƣờng bộ.
1.1.1.2. Khái niệm pháp luật về quản lý vận tải đường bộ
Pháp luật về quản lý hoạt động vận tải đƣờng bộ đƣợc hiểu là hệ thống
các văn bản quy phạm pháp luật còn hiệu lực thi hành do cơ quan nhà nƣớc có
thẩm quyền ban hành để điều chỉnh hoạt động vận tải đƣờng bộ nhằm đảm bảo
cho hoạt động vận tải đƣờng bộ đƣợc diễn ra liên tục, ổn định và phát triển [29].
Ngoài ra, pháp luật về quản lý hoạt động vận tải đƣờng bộ còn đƣợc hiểu
là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các hoạt động vận tải đƣờng bộ
[29].
Các quy định pháp luật về hoạt động vận tải đƣờng bộ chủ yếu đƣợc đề
cập trong các văn bản nhƣ: Luật Giao thông đƣờng bộ, Nghị định của Chính phủ
và các Thông tƣ hƣớng dẫn của các Bộ, ngành liên quan.
Mục tiêu cơ bản của pháp luật về hoạt động vận tải đƣờng bộ đảm bảo trật
tự, an toàn giao thông, hạn chế tối đa tai nạn giao thông, tạo ra điều kiện cho
hoạt động vận tải đƣờng bộ phát triển đồng thời góp phần phát triển nền kinh tế
đất nƣớc.
1.1.2. Đặc điểm pháp luật về quản lý vận tải đường bộ
Từ việc nghiên cứu hệ thống các văn bản pháp luật về hoạt động vận tải
đƣờng bộ, có thể nhận thấy pháp luật về hoạt động vận tải đƣờng bộ có một số
đặc điểm sau:
Thứ nhất, pháp luật về hoạt động vận tải đƣờng bộ ở Việt Nam không chỉ

tự giác thực hiện.
Từ đó, có thể thấy rằng, việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật nói chung,
pháp luật về hoạt động vận tải đƣờng bộ nói riêng đến ngƣời dân là vô cùng
10


quan trọng. Chỉ có ngƣời dân hiểu và thực hiện pháp luật về hoạt động vận tải
đƣờng bộ thì công tác này mới có hiệu quả cao.
1.1.3. Vai trò của pháp luật về quản lý vận tải đường bộ
Bất cứ một quốc gia nào muốn tồn tại và phát triển bền vững thì cần phải
có sự quản lý có hiệu quả của nhà nƣớc. Quản lý nhà nƣớc là một nhu cầu cần
thiết trong sự phát triển của xã hội, xu hƣớng chung của nền kinh tế quốc tế hiện
đại là vai trò quản lý kinh tế của Nhà nƣớc không ngừng tăng lên. Bởi vì chỉ có
Nhà nƣớc mới có thể sử dụng các công cụ nhƣ các chính sách và hệ thống pháp
luật để can thiệp nhằm hạn chế các rủi ro có thể xảy ra, bảo vệ quyền lợi của nhà
sản xuất và ngƣời tiêu dùng, hạn chế sự độc quyền, cải thiện sự phân bố các
nguồn lực của nền kinh tế và tạo ra sự ổn định về chính trị cũng nhƣ xã hội. Có
thể nói, với điều kiện xã hội hiện nay thì pháp luật đƣợc xem là công cụ quản lý
mang lại hiệu quả cao nhất.
Vận tải cũng nhƣ nền kinh tế nói chung đều phải chịu sự tác động mang
tính tất yếu đó của quản lý nhà nƣớc. Xuất phát từ đặc điểm của hoạt động vận
tải là hoạt động lớn có nhiều chủ thể tham gia, có ảnh hƣởng lƣớn đến vấn đề
trật tự, an toàn giao thông, tài sản, tính mạng của con ngƣời và sự phát triển kinh
tế - xã hội của đất nƣớc, để hoạt động vận tải đƣờng bộ phát huy đƣợc những ƣu
điểm, mang lại hiệu quả cao thì cần phải có sự quản lý của nhà nƣớc bằng các
quy định pháp luật. Các quy định của pháp luật về quản lý hoạt động vận tải
nhằm làm cho hoạt động này diễn ra có trật tự, quy củ hơn, đáp ứng đƣợc nhu
cầu vận tải của xã hội và tiến tới ngày càng thoả mãn hơn nữa về chất lƣợng và
số lƣợng nhu cầu của sự phát triển nền kinh tế và đi lại của nhân dân. Có thể nói,
pháp luật về quản lý vận tải có những vai trò sau:

động. Thông qua pháp luật về quản lý vận tải đƣờng bộ, giúp cho hoạt động vận
tải đƣờng bộ đƣợc diễn ra trong khuôn khổ pháp luật và mang lại nhiều lợi ích
kinh tế cho đất nƣớc nhƣ :
- Tạo nguồn thu cho Ngân sách nhà nƣớc thông qua việc thu thuế các
doanh nghiệp tham gia kinh doanh vận tải đƣờng bộ;
- Góp phần phát triển kinh tế đất nƣớc, phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân;

12


- Tạo môi trƣờng kinh doanh thuận lợi cho tất cả các thành phần kinh tế
cùng tham gia, tạo điều kiện để các đơn vị kinh doanh hoạt động có hiệu quả.
- Đảm bảo lợi ích của hành khách đƣợc sử dụng các loại hình dịch vụ chất
lƣợng cao với đầy đủ các chỉ tiêu nhanh chóng, an toàn, tiện nghi và thuận lợi.
Thứ ba, về mặt xã hội, pháp luật về quản lý vận tải đƣờng bộ cũng mang
tính xã hội sâu sắc. Thông qua các quy định của pháp luật về quản lý hoạt động
vận tải đƣờng bộ đảm bảo cho hoạt động vận tải đƣờng bộ đƣợc diễn ra trong
khuôn khổ pháp luật từ đó góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông, giữ gìn trật
tự, an toàn giao thông. Mặt khác, bản thân các quy định của pháp luật về quản lý
vận tải đƣờng bộ đều ảnh hƣởng đến mọi mặt của đời sống xã hội. Thông qua hệ
thống pháp luật về quản lý hoạt động vận tải đƣờng bộ giúp cho hoạt động vận
tải đƣờng bộ đạt đƣợc một cách hiệu quả các mục tiêu xã hội cụ thể nhƣ:
- Đảm bảo nhu cầu đi lại của ngƣời dân một cách thuận tiện, nhanh chóng,
an toàn trên cơ sở phát triển nhanh, đúng và hợp lý hệ thống kết cấu hạ tầng
phục vụ vận tải và phƣơng tiện vận tải đƣờng bộ.
- Đảm bảo lợi ích của các doanh nghiệp kinh doanh vận tải hành khách.
Nhƣ vậy, pháp luật về quản lý vận tải đƣờng bộ có vai trò hết sức quan
trọng. Nhà nƣớc cần ngiên cứu để đƣa ra những quy định pháp luật phù hợp với
thực tế hoạt động vận tải đƣờng bộ nhằm phát huy tối đa vai trò của pháp luật,
mang lại hiệu quà quản lý cao nhất.

quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan; thực
hiện các biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông; phối hợp với Bộ Giao
thông vận tải bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đƣờng bộ; Bộ Công an, Bộ Giao
thông vận tải có trách nhiệm phối hợp trong việc cung cấp số liệu đăng ký
phƣơng tiện giao thông đƣờng bộ, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu
hồi giấy phép lái xe; Bộ Quốc phòng thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc
về giao thông đƣờng bộ theo quy định của Luật này và các quy định khác của
pháp luật có liên quan; Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Giao thông vận tải thực hiện quản
lý nhà nƣớc về giao thông đƣờng bộ; Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi
nhiệm vụ, quyền hạn của mình tổ chức thực hiện quản lý nhà nƣớc về giao thông
14


đƣờng bộ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên
quan trong phạm vi địa phƣơng [29].
Hai là, nguyên tắc thực hiện pháp luật về quản lý vận tải là nghĩa vụ bắt
buộc đối với tất cả các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động vận tải đƣờng bộ.
Nguyên tắc này đảm bảo cho các quy định của pháp luật về quản lý vận tải
đƣờng bộ đƣợc đƣợc hiện thực hóa, phát huy đầy đủ vai trò và giá trị thực tiễn.
Bên cạnh vấn đề đảm bảo sự quản lý thống nhất của Nhà nƣớc, các tổ chức, cá
nhân tham gia hoạt động vận tải đƣờng bộ cần có trách nhiệm thực hiện đúng
các nghĩa vụ của mình. Mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoài nƣớc đóng trên lãnh
thổ Việt Nam đều có nghĩa vụ phải thực hiện các quy định pháp luật về quản lý
vận tải đƣờng bộ theo pháp luật Việt Nam. Trƣờng hợp, các tổ chức, cá nhân có
hành vi vi phạm thì sẽ phải chịu trách nhiệm thông qua các chế tài xử lý của cơ
quan quản lý. Ngoài ra, nguyên tắc này còn thể hiện tính nghiêm minh của pháp
luật nói chung và pháp luật về quản lý vận tải đƣờng bộ nói riêng.
Tại khoản 6 khoản 4 của Luật Giao thông đƣờng bộ năm 2008 quy định:
Mọi hành vi vi phạm pháp luật giao thông đƣờng bộ phải đƣợc phát hiện, ngăn

đƣờng bộ, không phân biệt giới tính, dân tộc,...
Có thể nói, việc thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc trên chính là cơ sở
để xây dựng một hệ thống pháp luật về quản lý vận tải đƣờng bộ phù hợp và
triển khai thực hiện pháp luật về quản lý vận tải đƣờng bộ có hiệu quả trên thực
tế.
1.2.2. Một số nội dung điều chỉnh của pháp luật về quản lý vận tải
đường bộ
1.2.2.1. Các quy định đối với cơ quan quản lý nhà nước
Nhà nƣớc vừa là chủ thể ban hành các quy định của pháp luật về quản lý
vận tải đƣờng bộ đồng thời vừa là chủ thể thực thi các quy định này trên thực tế.
Vì vậy pháp luật về vận tải đƣờng bộ đƣa ra các quy định điều chỉnh về: trách
nhiệm, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống các cơ quan quản lý nhà nƣớc về hoạt
động vận tải đƣờng bộ. Cụ thể là: xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện, thực
thi hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về vận tải đƣờng bộ.

16


1.2.2.2. Các quy định cụ thể điều chỉnh hoạt động vận tải đường bộ
Các quy định cụ thể điều chỉnh hoạt động vận tải đƣờng bộ gồm quy định
điều chỉnh: đối với hoạt động vận tải đƣờng bộ không kinh doanh; đối với hoạt
động kinh doanh vận tải đƣờng bộ (gồm: quy định về điều kiện kinh doanh vận
tải, quyền, nghĩa vụ của người kinh doanh vận tải, quyền, nghĩa vụ của người
kinh doanh; quy định cụ thể đối với từng hoạt động kinh doanh vận tải đường
bộ; quy định dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ; quy định về giá, cước, phí, lệ phí
liên quan đến hoạt động vận tải đường bộ).
Bất cứ quy định pháp luật nào cũng có phạm vi và đối tƣợng điều chỉnh
cụ thể. Pháp luật về vận tải đƣờng bộ cũng vậy, đối tƣợng điều chỉnh của pháp
luật về vận tải đƣờng bộ chính là hoạt động vận tải đƣờng bộ. Do đó, pháp luật
về vận tải đƣờng bộ cần đƣa ra các quy định điều chỉnh cụ thể đối với hoạt động

hình thức rõ ràng, có nội dung đƣợc kết cấu chặt chẽ, lôgíc, các thuật ngữ pháp
lý đƣợc sử dụng chính xác, một nghĩa, lời văn trong sáng, ngắn gọn, dễ hiểu,
phù hợp với khả năng nhận thức của quảng đại quần chúng nhân dân.
Chất lƣợng của hệ thống pháp luật là một trong những cơ sở để bảo đảm
cho việc thực hiện và áp dụng pháp luật đạt đƣợc kết quả cao trong thực tiễn,
đồng thời cho phép dự báo đƣợc khả năng hiện thực hoá các quy định pháp luật
trong đời sống xã hội. Nếu chất lƣợng của pháp luật thấp, tính khả thi kém thì
việc thực hiện chúng sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí có những quy định
pháp luật nhiều khi không thể thực hiện đƣợc trên thực tế.
Để đánh giá chất lƣợng của hệ thống pháp luật Việt Nam, xác định mức
độ hoàn thiện của nó cần phải dựa vào những tiêu chí đƣợc xác định về mặt lý
thuyết, từ đó liên hệ với điều kiện và hoàn cảnh thực tế trong mỗi giai đoạn cụ
thể, xem xét một cách khách quan và rút ra những kết luận, làm sáng rõ những
ƣu điểm và nhƣợc điểm của hệ thống pháp luật. Có nhiều tiêu chí để xác định
chất lƣợng của hệ thống pháp luật Việt Nam trong đó có các tiêu chí cơ bản là:
tính toàn diện, đồng bộ, tính thống nhất, tính phù hợp, ngôn ngữ, kỹ thuật xây
dựng pháp luật và tính khả thi của hệ thống pháp luật.
Pháp luật về quản lý vận tải đƣờng bộ cũng vậy, để đánh giá sự hoàn thiện
của pháp luật về quản lý vận tải đƣờng bộ, cần dựa trên những tiêu chí cơ bản là:
18


tính toàn diện, đồng bộ, tính thống nhất, tính phù hợp, ngôn ngữ, kỹ thuật xây
dựng pháp luật và tính khả thi của hệ thống pháp luật.
1.3.1.Tính toàn diện, đồng bộ
Pháp luật về quản lý vận tải đƣờng bộ phải đảm bảo tính toàn diện. Tính
toàn diện, đồng bộ của hệ thống pháp luật về quản lý vận tải đƣờng bộ thể hiện
sự thống nhất ở hai cấp độ. Ở cấp độ chung, sự đồng bộ giữa hệ thống pháp luật
về quản lý vận tải đƣờng bộ với hệ thống pháp luật các lĩnh vực khác. Ví dụ: sự
đồng bộ giữa Luật Giao thông đƣờng bộ với các Luật chuyên ngành khác. Để


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status