VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ QUỲNH MAI
QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỐN NHÀ NƯỚC
TẠI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Hà Nội, 2019
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên chưa được
công bố ở bất cứ đâu. Các số liệu, các nguồn trích dẫn trong luận văn được chú thích
nguồn gốc rõ ràng, minh bạch.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Quỳnh Mai
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
57
3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước
tại doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
57
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà
nước tại doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
59
KẾT LUẬN
72
TÀI LIỆU THAM KHẢO
74
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo Điều 51 Hiến pháp 2013, “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh
tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”. Doanh nghiệp nhà nước (trong luận văn gọi tắt là
DNNN) là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, góp phần thúc đẩy
phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Tuy nhiên trên thực tế, vai trò
quản lý của chủ sở hữu Nhà nước bao gồm: cơ chế đầu tư, cơ chế quản lý sử dụng, cơ
chế phân phối lợi nhuận sau thuế, cơ chế kiểm tra giám sát, hình thức thực hiện quyền
chủ sở hữu. Luận án đã đưa ra một số quan điểm và giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý
vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp như hoàn thiện hình thức đại diện chủ sở hữu vốn
nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp, xác định rõ vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp và
vốn của doanh nghiệp, hoàn thiện cơ chế đầu tư vốn vào doanh nghiệp trong đó xác định
rõ mục tiêu, phương thức và những lĩnh vực cần ưu tiên đầu tư vốn nhà nước, … Tuy
nhiên luận án vẫn chưa nêu được tác động của công tác quản lý, sử dụng vốn đến hiệu
quả hoạt động của DNNN.
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Kim Đoan về đề tài “Quản lý vốn nhà nước tại
các DNNN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”, 2016. Luận án giới hạn việc quản lý vốn
nhà nước trong 04 nội dung: thực hiện đầu tư vốn, quản lý quá trình sử dụng vốn trong
giới hạn thẩm quyền tác động của chủ sở hữu doanh nghiệp, quản lý phân phối kết quả
sử dụng vốn và giám sát vốn nhà nước tại DNNN. Luận án đã phân tích các yếu tố ảnh
hưởng và đánh giá quá trình quản lý vốn nhà nước tại các DNNN trên địa bàn thành phố
Đà Nẵng giai đoạn 2010-2014, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản
lý vốn nhà nước tại các DNNN trên địa bàn như đổi mới chính sách tuyển dụng cán bộ
quản lý, bổ sung các tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh doanh của DNNN, đề xuất cơ chế
2
kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả hoạt động của cơ quan thực hiện chức năng đại diện
chủ sở hữu nhà nước và chú trọng hoạt động giám sát tài chính DNNN.
Luận án tiến sĩ của Phạm Phú Quốc về đề tài “Quản lý hiệu quả vốn tại các Doanh
nghiệp nhà nước – từ thực tiễn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên của Thành
phố Hồ Chí Minh”, 2015. Luận án đã khảo sát, phân tích đánh giá nguyên nhân dẫn đến
hiệu quả hoặc hạn chế hiệu quả trong quản lý vốn nhà nước tại các Công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên trực thuộc Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; sau đó
đưa ra các kiến nghị theo bốn nhóm vấn đề: Chủ thể quản lý vốn; Nội dung quản lý vốn;
công tác quản lý vốn đầu tư tại các DNNN, tác giả đã chọn đề tài " Quản lý, sử dụng vốn
nhà nước tại DNNN theo pháp luật Việt Nam hiện nay” là đề tài nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
-
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là nhằm làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn
của pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại DNNN. Từ đó đưa ra định
hướng, các luận cứ khoa học nhằm kiến nghị các giải pháp hoàn thiện pháp luật
và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật trong hoạt động này ở nước ta.
-
Nhiệm vụ nghiên cứu:
o Làm rõ những vấn đề lý luận pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước
tại DNNN
o Phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về quản lý, sử
dụng vốn tại DNNN
o Phân tích đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về quản lý, sử dụng vốn
tại DNNN
o Đưa ra một số kiến nghị về định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật
và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước
tại DNNN theo pháp luật ở Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4
-
5
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ là cơ sở để đóng góp ý kiến
cho các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu vốn
nhà nước và các DNNN trong quá trình ban hành, sửa đổi bổ sung các văn bản quy phạm
phạm luật, quy trình, quy chế giúp hoạt động quản lý, sử dụng vốn tại DNNN tại Việt
Nam ngày càng hiệu quả.
7.
Kết cấu luận văn
Mở đầu
Chương 1. Những vấn đề lý luận và quy định pháp luật về quản lý, sử dụng vốn
nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước
1.1
Khái quát chung về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước:
1.2
Pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về quản lý, sử dụng vốn
nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
2.1
Thực trạng pháp luật về quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước
ở Việt Nam
tế được thành lập theo quy định của pháp luật, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu
trách nhiệm về toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh; có tên riêng, trụ sở giao dịch, có
tài sản và có sử dụng lao động làm thuê.
Mục đích hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp là nhằm mục đích kinh doanh. Tuy
nhiên, mỗi loại hình doanh nghiệp vẫn có sự khác biệt nhất định và do đó, chúng cũng
có một số điểm đặc thù. So với các doanh nghiệp khác, DNNN có các đặc điểm riêng
biệt sau:
Thứ nhất, DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn và trực tiếp thành
lập. Việc thành lập DNNN dựa trên nguyên tắc chỉ thành lập trong những ngành, lĩnh
vực then chốt, xương sống của nền kinh tế với những đòi hỏi thực tiễn của nền kinh tế
thời điểm đó.
Thứ hai, DNNN do Nhà nước đầu tư vốn nên nó thuộc sở hữu Nhà nước. DNNN
sau khi được thành lập là một chủ thể kinh doanh độc lập. Nhà nước giao vốn cho doanh
7
nghiệp, người quản lý doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về việc bảo
toàn và phát triển vốn mà Nhà nước giao.
Thứ ba, DNNN không chỉ được thành lập để thực hiện các mục tiêu kinh tế mà
còn để thực hiện các mục tiêu xã hội. Đây là một đặc điểm khác biệt so với các doanh
nghiệp nói chung. Nếu đa phần các doanh nghiệp thành lập với mục đích thuần túy là
kinh doanh để kiếm lợi nhuận thì DNNN có khi được thành lập nhằm mục đích thực hiện
các nhiệm vụ công ích, phục vụ lợi ích công cộng, cung ứng dịch vụ công cộng theo các
chính sách của Nhà nước để trực tiếp thực hiện nhiệm vụ an sinh xã hội, nhiệm vụ quốc
phòng an ninh. Hoạt động của doanh nghiệp chịu sự chi phối của nhà nước về mục tiêu
kinh tế xã hội do nhà nước giao.
Cuối cùng, Nhà nước quản lý DNNN thông qua cơ quan quản lý Nhà nước có
thẩm quyền theo phân cấp của Chính phủ. Nhà nước quy định mô hình cơ cấu tổ chức
quản lý trong từng loại DNNN phù hợp với quy mô của nó; quy định chức năng nhiệm
vốn. So với các chủ thể sở hữu khác, chủ thể sở hữu nhà nước có những đặc điểm khác
biệt như sau:
Thứ nhất, chủ thể nhà nước Khi nói nhà nước như một chủ thể sở hữu thì chủ thể
này khó xác định cụ thể, nhà nước là một hệ thống bao gồm nhiều cơ quan và bộ máy
quản lý khác nhau. Đa phần các quốc gia trên thế giới quan niệm và quy định Chính phủ
thống nhất thực hiện các chức năng chủ sở hữu đối với vốn nhà nước đầu tư tại doanh
nghiệp. Tuy nhiên về bản chất, Chính phủ cũng chỉ là chủ sở hữu được ủy quyền, chủ sở
hữu đó không có đầy đủ các đặc điểm và quyền của chủ sở hữu đích thực.
Thứ hai, do chủ thể sở hữu nhà nước có nhiều cấp quản lý nên việc thực hiện
quyền quản lý, giám sát sử dụng vốn nhà nước thông thường được thực hiện thông qua
bộ máy hành chính. Cơ chế trách nhiệm các nhân, động cơ đạt được mục tiêu và áp lực
kiểm tra, giám sát không rõ ràng như đối với các chủ thể sở hữu khác, vì vậy thường có
sự buông lỏng việc quản lý vốn nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp.
9
Thứ ba, Nhà nước đầu tư vốn không chỉ có mục tiêu kinh tế mà còn có mục tiêu
chính trị, an ninh, văn hóa, xã hội nên việc đầu tư, sử dụng vốn nhà nước của chủ sở hữu
nhà nước khó phân định rõ ràng, dẫn tới tình trạng hoạt động kém hiệu quả.
DNNN hoạt động theo hai mục tiêu xác định là mục tiêu kinh doanh và mục tiêu
công ích. Với hai mục tiêu cơ bản này, DNNN đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh
tế của đất nước, nhất là trong việc tạo ra tổng sản phẩm trong nước (GDP), góp phần
tăng trưởng kinh tế, tăng ngân sách. Bên cạnh đó, DNNN cũng có vai trò rất quan trọng
trong việc thực hiện trách nhiệm với xã hội thông qua các hoạt động công ích, hoạt động
mang tính xã hội, xóa đói giảm nghèo và lợi ích quốc gia. Gần như DNNN hiện diện trên
hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội và nền kinh tế quốc gia.
Nhà nước sử dụng nhiều biện pháp can thiệp vào kinh tế nhằm hạn chế những
khuyết tật của kinh tế thị trường, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, phân bổ nguồn
lực tối ưu và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội một cách hài hoà phù hợp
những lĩnh vực mà nhà nước đầu tư vốn đều là những lĩnh vực đòi hỏi mức vốn đầu tư
lớn, yêu cầu tính ổn định cao mà ít nhà đầu tư tư nhân nào có thể đáp ứng được. Chính
vì vậy, khác với vốn đầu tư của các nhà đầu tư khác, vốn nhà nước đầu tư tại doanh
nghiệp có quy mô lớn và mang tính ổn định cao hơn.
Ngoài tính chất chủ đạo, các DNNN còn thực hiện vai trò mang tính chiến lược.
DNNN được xác định là đi đầu trong các chính sách phát triển kinh tế và xã hội của đất
nước. Vai trò này thể hiện ở chỗ DNNN phải đi tiên phong trong các lĩnh vực chiến lược
theo đường lối phát triển của nhà nước tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác
tham gia; DNNN phải là mẫu mực về trình độ quản lý, về hiệu quả kinh doanh để các
doanh nghiệp khác noi theo. Với tính ưu thế trong vai trò chủ đạo, DNNN ngoài việc
mang tính chiến lược trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội còn mang tính
chiến lược trong chuyển giao công nghệ, điều tiết vốn, phân phối sản phẩm và phân bố
lao động.
Thuế đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm nguồn thu Ngân sách Nhà
nước và thực hiện các chức năng quản lý, điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với các hoạt
11
động kinh tế, xã hội trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Với quy mô tài sản, doanh thu
và lợi nhuận hiện có, DNNN đóng góp một nguồn tài chính hết sức to lớn cho ngân sách
nhà nước thông qua việc nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và đặc biệt là phần lợi nhuận
sau thuế nộp về cho chủ sở hữu.
1.1.3 Khái niệm, tính tất yếu và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý vốn nhà
nước tại doanh nghiệp nhà nước
Quản lý vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp có thể hiểu là một hệ thống các
hình thức, phương pháp và các công cụ quản lý do nhà nước ban hành để định hướng
đầu tư, sử dụng và giám sát việc sử dụng có hiệu quả, bảo toàn và phát triển số vốn nhà
nước đầu tư vào các doanh nghiệp.
Nhà nước phải quản lý vốn nhà nước tại DNNN vì:
thực hiện vai trò quản lý của mình.
Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý vốn nhà nước tại DNNN được xem
xét ở các phương diện sau đây:
Quan điểm của nhà nước về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp: Quan điểm
của nhà nước về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp là nhân tố đầu tiên, có ảnh hưởng
quyết định tới hoạt động quản lý vốn nhà nước tại DNNN. Sở dĩ như vậy là vì nhân tố
này sẽ quyết định tổ chức bộ máy quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp như thế nào?
Nội dung các văn bản pháp luật phục vụ cho công tác quản lý vốn nhà nước tại doanh
nghiệp phải như thế nào? Trình độ của cán bộ quản lý? Chẳng hạn: Nếu một nhà nước
quan niệm nên tạo sự chủ động cao cho doanh nghiệp thì việc xây dựng văn bản pháp
luật, tổ chức bộ máy quản lý cũng được thực hiện theo hướng tạo sự chủ động cho doanh
nghiệp, bộ máy quản lý gọn nhẹ, chấm dứt sự can thiệp sâu vào hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp...
Tổ chức bộ máy quản lý: Hoạt động quản lý vốn nhà nước tại DNNN tiếp đó phụ
thuộc vào tổ chức bộ máy quản lý, vốn nhà nước sẽ không thể được quản lý tốt nếu tổ
chức bộ máy quản lý không hợp lý. Hiện nay ở nhiều nước, cơ quan trực tiếp tiến hành
công tác quản lý tài chính nói chung và quản lý vốn nhà nước nói riêng đối với doanh
13
nghiệp cũng là cơ quan trực tiếp hoặc gián tiếp ban hành các chính sách, chế độ quản lý
vốn tại doanh nghiệp (thông qua việc dự thảo các chính sách trình cơ quan có thẩm quyền
ký ban hành). Bộ máy quản lý gồm một cơ quan trung ương và các cơ quan địa phương.
Việc quản vốn nhà nước không chỉ là nhiệm vụ của một cơ quan duy nhất, nó đòi hỏi sự
kết hợp chặt chẽ của các cơ quan quản lý khác như đơn vị chủ quản, cơ quan thuế...Các
cơ quan này cũng thực hiện việc giám sát tại chỗ đối với các doanh nghiệp. Doanh nghiệp
rất nhạy cảm đối với hoạt động giám sát tại chỗ này. Việc giám sát tại chỗ có thực sự
phát huy hiệu quả, nghĩa là thấy và phản ánh được kịp thời những khó khăn mà doanh
nghiệp đang gặp phải để tìm cách tháo gỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án đầu tư
máy quản lý các DNNN là cơ quan trực tiếp tiến hành hoạt động quản lý tài chính nói
chung và quản lý vốn nhà nước tại DNNN nói riêng. Không những thế ở nhiều nước đây
còn là cơ quan trực tiếp hay gián tiếp ban hành các chính sách, chế độ về quản lý vốn tại
các doanh nghiệp. Bởi vậy, sự am hiểu của cán bộ quản lý về ngành nghề lĩnh vực mình
quản lý sẽ ảnh hưởng tới khả năng nắm bắt tình hình, phân tích, kết luận và ban hành
những chính sách quản lý đúng đắn, hiệu quả. Thêm vào đó, phẩm chất đạo đức của cán
bộ quản lý sẽ quyết định việc họ có thực hiện quản lý đúng theo lương tâm trách nhiệm
hay không?
Môi trường kinh tế-chính trị-xã hội: Sự ổn định về kinh tế-chính trị-xã hội là nhân
tố quan trọng, có tác động lớn tới hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp và do đó tác
động tới hoạt động quản lý vốn nhà nước tại DNNN. Môi trường chính trị-xã hội ổn
định, nền kinh tế tăng trưởng ổn định, ít lạm phát và ít biến động sẽ tạo ra cho các nhà
đầu tư một tâm lý yên tâm phát triển sản xuất kinh doanh. Bởi vậy việc nghiên cứu tác
động của từng nhân tố cũng như tác động tổng hợp của các nhân tố tới hoạt động quản
lý vốn nhà nước là hết sức cần thiết. Từ đó tìm ra được các nguyên nhân dẫn đến những
bất hợp lý trong hoạt động quản lý vốn nhà nước, rồi đưa ra những đề xuất để hoàn thiện
công tác quản lý vốn nhà nước tại DNNN.
1.1.4 Nội dung công tác quản lý, sử dụng vốn nhà nước tại DNNN gồm:
Công tác quản lý vốn nhà nước tại DNNN gồm các nội dung như sau [32,tr.1]:
15
Một là, xây dựng chính sách về quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước
Chính sách quản lý vốn nhà nước tại các doanh nghiệp nhà nước là một bộ phận
quan trọng trong hệ thống các chính sách tài chính của nhà nước. Các Chính phủ thường
ban hành chính sách quản lý vốn và tài sản theo hướng: Tăng cường quyền tự chủ về mặt
tài chính của các doanh nghiệp nhà nước trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh,
đặc biệt là trong lĩnh vực quản lý vốn và tài sản; Nâng cao trách nhiệm của các doanh
nghiệp trong việc quản lý và sử dụng các nguồn lực nhà nước giao. Thiết lập các cơ chế
mất vốn của nhà nước. Đồng thời doanh nghiệp cũng phải được trao quyền lựa chọn cơ
cấu tài sản và các loại vốn cho hợp lý nhằm phát triển kinh doanh có hiệu quả [31,tr.3].
Quản lý vốn đầu tư ra ngoài doanh nghiệp: Doanh nghiệp được sử dụng vốn, tài
sản để đầu tư ra ngoài doanh nghiệp theo nguyên tắc có hiệu quả, bảo toàn và phát triển
vốn, tăng thu nhập và đảm bảo nhiệm vụ thu nộp Ngân sách nhà nnớc; việc đầu tư phải
tuân theo các quy định hiện hành của pháp luật.. Các hình thức đầu tư ra ngoài doanh
nghiệp gồm: mua cổ phiếu, góp vốn liên doanh, góp cổ phần và các hình thức đầu tư
khác ... Doanh nghiệp Nhà nước được phép đưa vốn và tài sản đầu tư trực tiếp ra nước
ngoài theo quy định của pháp luật [32,tr.4].
Bảo toàn và phát triển vốn: Bảo toàn vốn và phát triển vốn là nghĩa vụ của doanh
nghiệp để bảo vệ lợi ích của Nhà nước về vốn đã đầu tư vào doanh nghiệp Nhà nước,
tạo điều kiện cho doanh nghiệp ổn định và phát triển kinh doanh có hiệu quả, tăng thu
nhập cho người lao động và làm nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước. Các biện pháp bảo
toàn vốn thường được áp dụng là: Thực hiện đúng chế độ quản lý, sử dụng vốn, tài sản
theo các qui định của Nhà nước; Thực hiện việc mua bảo hiểm tài sản thuộc quyền quản
lý và sử dụng của doanh nghiệp. Tiền mua bảo hiểm được hạch toán vào chi phí sản xuất
kinh doanh; Hạch toán vào chi phí kinh doanh, chi phí hoạt động khác một số khoản dự
phòng theo quy định như: Dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng các khoản nợ thu
khó đòi, dự phòng giảm giá các loại chứng khoán trong hoạt động tài chính... Việc lập
và sử dụng các khoản dự phòng nói trên thực hiện theo quy định hiện hành. Ngoài các
biện pháp trên, doanh nghiệp được dùng lãi năm sau (trước thuế hoặc sau thuế) để bù lỗ
17
các năm trước, được hạch toán một số thiệt hại (thiên tai, dịch bệnh ...) vào chi phí hoặc
kết qủa kinh doanh theo qui định của Nhà nước [31,tr.4].
Bốn là, Phân cấp trong quản lý
Để quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước, mỗi nước đều tổ chức cho
mình một bộ máy quản lý khác nhau với cách thức quản lý khác nhau. Bộ máy này bao
luật của nền kinh tế thị trường và phù hợp với tính chất của một tổ chức kinh tế có tư
cách pháp nhân, độc lập trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh. Do đó, để đảm
bảo quản lý và sử dụng hiệu quả vốn Nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp, hạn chế thất
thoát, tiêu cực có thể xảy ra thì việc quản lý và sử dụng vốn nhà nước đầu tư tại các
doanh nghiệp cần thiế tuân thủ theo những nguyên tắc pháp lý như sau:
Thứ nhất, cần có sự phân quyền trong quản lý vốn và tài sản của doanh nghiệp.
Cơ quan đại diện chủ sở hữu, cơ quan quản lý nhà nước không can thiệp trực tiếp vào
hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, hoạt động quản lý, điều hành của
người quản lý doanh nghiệp. Với tư cách là chủ sở hữu, các tổ chức và cá nhân có thể
trực tiếp hoặc thông qua người đại diện để quản lý, sử dụng vốn và tài sản của doanh
nghiệp nhằm đạt mục đích đề ra. Sự phân quyền của các cơ quan trong quản lý, sử dụng
vốn tại doanh nghiệp được phân chia thành: phân quyền giữa cơ quan chủ sở hữu và cơ
quan quản lý, phân quyền giữa cơ quan quản lý và cơ quan điều hành. Phân quyền giữa
cơ quan chủ sở hữu và cơ quan quản lý: Luật doanh nghiệp ở cũng như đa phần các nước
đều quy định thẩm quyền của chủ sở hữu trong quyết định những vấn đề quan trọng của
doanh nghiệp. Luật đồng thời cho phép cơ quan chủ sở hữu quyết định phạm vi thẩm
quyền cơ quan quản lý bằng ghi nhận trong điều lệ doanh nghiệp. Phân quyền giữa cơ
quan quản lý và cơ quan điều hành: Đây là sự phân quyền nhằm giao quyền điều hành
trong doanh nghiệp cho một hoặc một số người có năng lực điều hành. Luật doanh nghiệp
nước ta quy định về phân tách giữa quản lý và điều hành thể hiện rõ nét qua quy định về
vị trí giám đốc - người điều hành tách bạch với vị trị thành viên Hội đồng quản trị/Hội
đồng thành viên - người quản lý.
19
Thứ hai, vốn và tài sản của doanh nghiệp phải được bảo toàn: Trong nền kinh tế
thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa,các DNNN hoạt động theo phương thức
hạch toán kinh doanh,nhà nước không tiếp tục bao cấp về vốn như trước đây. Để duy trì
và phát triển sản xất kinh doanh trong các doanh nghiệp phải bảo toàn, giữ gìn số vốn
giao. Thiết lập các cơ chế thích hợp để hướng sự quan tâm và tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp bảo toàn và phát triển vốn như: cơ chế trích lập dự phòng, cơ chế bù lỗ...; Quy
định các chính sách ưu đãi về mặt tài chính đối với các DNNN hoạt động công ích như:
hỗ trợ vốn, bù chênh lệch khi thực hiện các nhiệm vụ nhà nước giao, bảo đảm thoả đáng
lợi ích vật chất cho người lao động trong các DNNN này...Đồng thời thiết lập cơ chế
quản lý hợp lý đối với doanh nghiệp trong lĩnh vực quản lý và sử dụng các nguồn lực
nhà nước giao.
Chính sách quản lý vốn, sử dụng nhà nước tại các DNNN thường bao trùm các
nội dung quản lý sau:
Một là mô hình quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước:
Để quản lý vốn nhà nước tại DNNN, mỗi nước đều tổ chức cho mình một bộ máy
quản lý khác nhau với cách thức quản lý khác nhau. Bộ máy này bao gồm bản thân
DNNN (với tư cách là người trực tiếp quản lý, sử dụng vốn nhà nước giao) và các cơ
quan quản lý cấp trên (giám sát việc thực hiện quản lý, sử dụng vốn nhà nước của DNNN
và ra các quyết định quản lý). Mỗi cấp quản lý được phân rõ chức năng nhiệm vụ trong
việc thực hiện hoạt động quản lý vốn nhà nước tại DNNN.
Ở Pháp và Malaysia, nhà nước trực tiếp cử nhân viên của mình làm công tác kiểm
tra tại doanh nghiệp, nhân viên đó thuộc biên chế Bộ tài chính; ngoài ra mỗi doanh nghiệp
còn chịu sự điều tra của một nhân viên do toá án chỉ định, có chức năng kiểm tra tài
chính đối với DNNN. Bên cạnh đó, ở các doanh nghiệp còn có Hội đồng quản trị, thành
viên Hội đồng này là đại diện của nhà nước, đại diện cho doanh nghiệp và đại diện của
công nhân.
21
Ở một số nước khác như Trung Quốc thì việc quản lý vốn nhà nước tại DNNN lại
do các Công ty đầu tư tài chính nhà nước đảm nhận. Hoạt động của Công ty tài chính là
hoạt động kinh doanh, khác với việc cử đại diện của Bộ tài chính làm công việc kiểm tra
trực tiếp tại doanh nghiệp. Đây là một tổ chức tài chính do Chính phủ thành lập giúp