VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ THỊ HẬU
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA,
XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN ĐỨC PHỔ TỈNH QUẢNG NGÃI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - Năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VÕ THỊ HẬU
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA,
XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN ĐỨC PHỔ TỈNH QUẢNG NGÃI
Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và luật Hành chính
Mã số
: 8.38.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ VIỆT HƯƠNG
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA QUẢN
LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRONG LĨNH VỰC
VĂN HÓA, XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG ....................................................................7
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn
mới trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường .........................................................7
1.2. Chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp quản lý nhà nước về xây dựng
nông thôn mới trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường ......................................14
1.3. Các yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong
lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường ........................................................................24
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA, XÃ HỘI VÀ MÔI
TRƯỜNG TẠI HUYỆN ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI ..............................31
2.1. Các yếu tố đặc thù của huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi có ảnh hưởng đến
quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực văn hóa, xã hội,
môi trường .................................................................................................................31
2.2. Thực tiễn quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực văn
hóa, xã hội, môi trường trên địa bàn huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi ...................39
2.3. Đánh giá chung thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường ...............................................................52
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TRONG LĨNH VỰC VĂN HÓA, XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG TỪ THỰC
TIỄN HUYỆN ĐỨC PHỔ, QUẢNG NGÃI .........................................................59
3.1. Phương hướng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn
mới trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường từ thực tiễn huyện Đức Phổ, tỉnh
Quảng Ngãi ...............................................................................................................59
DN
Doanh nghiệp
HĐH
Hiện đại hoá
HĐND
Hội đồng nhân dân
KHHGĐ
Kế hoạch hóa gia đình
KT-XH
Kinh tế - xã hội
MTQG
Mục tiêu quốc gia
NSNN
Ngân sách nhà nước
NTM
như: điện, đường, trường, trạm, kênh mương nội đồng chưa đảm bảo, nhiều công
trình đã xuống cấp; vấn đề tiêu thụ sản phẩm (đầu ra) cho bà con nông dân còn bất
cập, tình trạng được mùa mất giá liên tiếp xảy ra…nhận thức rõ vấn đề này, tại Hội
nghị trung ương 7 (khóa X) của Đảng ra Nghị quyết số 26- NQ/TW về “Nông
nghiệp, nông dân, nông thôn” chỉ rõ: xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý,
gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch;
xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, dân trí được nâng cao, môi
trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn được tăng cường [9].
Trên cơ sở Nghị quyết số 26- NQ/TW, Thủ tướng chính phủ đã ban hành
Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 về Chương trình mục tiêu Quốc gia xây
dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020; Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày
16/4/2009 về “Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới”; Quyết định số 342/QĐ-TTg
1
ngày 20/02/2013 về sửa đổi một số tiêu chí của Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn
mới nhằm thống nhất chỉ đạo việc xây dựng nông thôn mới trên cả nước.
Thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai
đoạn 2010 – 2020. Trong những năm qua, Đảng bộ, quân và dân huyện Đức Phổ đã
đẩy mạnh các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, gắn với xây dựng an ninh
quốc phòng, tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn như: Điện,
đường, trường, trạm, chợ nông thôn được xây dựng khang trang, sạch đẹp; kênh
mương nội đồng được bê tông hóa; các thiết chế văn hóa, thể dục thể thao đạt chuẩn
quốc gia; cơ cấu mùa vụ được chuyển đổi; các mô hình kinh tế có hiệu quả và được
nhân rộng; làng nghề, hợp tác xã và tổ hợp tác được khuyến khích phát triển; công
tác dồn điền đổi thửa được triển khai mạnh mẽ...
Mặc dù, trong những năm qua huyện đã có nhiều cố gắng trong việc triển
khai, thực hiện việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn, nhưng kết quả đạt được
Luận văn Thạc sĩ; Đoàn Phạm Hà Trang, (2013), Xây dựng NTM: Vấn đề quy hoạch
và huy động các nguồn tài chính, Tạp chí Cộng sản; Quyết định Số: 800/QĐ-TTg
ngày 04 tháng 6 năm 2010 về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây
dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020; Quyết đinh số 1013 ngày 01/7/2010
của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Ban chỉ đạo Trung ương Chương trình
mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020; Quyết định số
491/QĐ-TTg về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; Quyết định
số 1738/QĐ-TTg ngày 20 tháng 9 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc
thành lập Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia
xây dựng nông thôn mới, giai đoạn 2010 – 2020...
Tóm lại, vấn đề quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới đã có nhiều
công trình nghiên cứu. Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu về
vấn đề xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực văn hóa xã hội và môi trường. Do đó
tôi chọn đề tài luận văn “Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh
vực văn hóa, xã hội, môi trường từ thực tiễn huyện Huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng
Ngãi”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn có mục đích tổng quát là xây dựng luận cứ khoa học cho việc đề
3
xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường trên địa bàn huyện Huyện Đức Phổ, tỉnh
Quảng Ngãi nói riêng, các địa bàn cấp huyện trên phạm vi cả nước nói chung.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước, về xây dựng
nông thôn mới trong phát triển kinh tế- xã hội và môi trường của địa phương cấp
huyện.
thôn mới.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể của luận văn, bao gồm: Phương pháp phân
tích, tổng hợp; phương pháp so sánh, hệ thống, diễn giải, thu thập số liệu và kết hợp
với thực tiễn… để phân tích, tổng hợp thu thập tư liệu từ các nguồn đã công bố liên
quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các văn kiện, tài liệu, Nghị quyết, quyết định của
Đảng, Nhà nước, bộ, ngành ở Trung ương và địa phương; các công trình nghiên cứu,
các báo cáo, tài liệu thống kê của chính quyền, ban, ngành, đoàn thể, tổ chức, cá nhân
liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vấn đề quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn
mới trong lĩnh vực văn hóa, xã hội và môi trường trên địa bàn huyện Đức Phổ.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần vào việc Nâng cao hiệu quả quản
lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới, đánh giá đúng thực trạng quản lý nhà nước
về xây dựng nông thôn mới. Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới, đặc biệt là trong lĩnh vực văn hóa, xã
hội và môi trường của huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, vận dụng vào
công tác quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn gồm 3
chương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật của quản lý nhà nước về xây
5
dựng nông thôn mới trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong
hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự
pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công
cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN”.
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chỉ bao gồm hoạt động tổ chức, điều hành
do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện. Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi
quyền lực nhà nước do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện nhằm xác lập
7
một trật tự ổn định, phát triển xã hội theo những mục tiêu mà lực lượng cầm quyền
theo đuổi. Quản lý nhà nước bao gồm: hoạt động chấp hành, điều hành, quản lý
hành chính do hệ thống cơ quan hành chính nhà nước thực hiện và được đảm bảo
bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước.
1.1.1.2. Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực văn
hóa, xã hội, môi trường
Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của BCH
TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Ngày 4 tháng 6 năm 2010 Thủ tướng
Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn
mới giai đoạn 2010 – 2020. Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn
mới được triển khai rộng khắp trên phạm vi nông thôn toàn quốc. Đây là một chủ
trương lớn của Đảng, nhà nước, hệ thống chính trị và của toàn dân, đồng thời là
mục tiêu có tầm chiến lược cho sự phát triển bền vững và đặc biệt quan trọng trong
giai đoạn hiện nay.
Xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể của Đảng và Nhà
nước ta về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và là một trong những nhiệm vụ quan
trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Góp phần cải
thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân ở địa bàn nông thôn.
Mục tiêu mà Đảng và Chính phủ đặt ra đến năm 2020 là nước ta phải cơ bản trở
thành nước công nghiệp. Để thực hiện tốt vấn đề này, nhà nước đóng vai trò chỉ
đạo, điều hành quá trình hoạch định và thực hiện chính sách, xây dựng đề án, cơ
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực thúc đẩy phát triển kinh
tế - xã hội. Khi nghiên cứu quy luật vận động và phát triển của xã hội loài người,
C.Mác và Ph.Ăngghen đã khái quát các hoạt động của xã hội thành hai loại hình
hoạt động cơ bản là “sản xuất vật chất” và “sản xuất tinh thần”. Do đó, văn hóa là
toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra bằng lao động
và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình, biểu hiện trình độ phát triển
xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định.
Nói về văn hóa, xã hội và môi trường: Trong Dự thảo Báo cáo Chính trị đánh
giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 và
phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020, những nội
9
dung về văn hóa, xã hội được trình bày thành 4 vấn đề: Đổi mới căn bản và toàn
diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực; Phát triển và ứng dụng khoa học,
công nghệ; Phát triển văn hóa, xây dựng con người; Quản lý phát triển xã hội; thực
hiện tiến bộ, công bằng xã hội.
Do đó, xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực văn hóa, xã hội và môi trường
là làm cho môi trường sống của người dân ở khu vực nông thôn đổi mới; trình độ
dân trí được nâng cao; kinh tế phát triển; An ninh tốt; môi trường sinh thái được bảo
vệ; bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy; nông thôn phát triển theo quy
hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội hiện đại; chất lượng hệ thống chính trị
được nâng cao...
Vậy thế nào là quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới:
Có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn
mới, nhưng theo tác giả: Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới là việc nhà
nước sử dụng quyền lực để thực hiện vai trò của mình nhằm tác động tới kinh tế xã hội của khu vực nông thôn, làm cho nông thôn ngày càng phát triển toàn diện và
đồng bộ, kết cấu hạ tàng kinh tế xã hội hiện đại; làng xã văn minh, sạch đẹp, sản
xuất hàng hóa bền vững, nông thôn ổn định; trình độ dân trí được nâng cao; hệ
hội, môi trường mang tính khoa học và tính kế hoạch. Đặc trưng này đòi hỏi nhà
nước phải tổ chức các hoạt động quản lý của mình lên đối tượng quản lý; phải có
một chương trình nhất quán về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực văn hóa, xã
hội, môi trường cụ thể và theo những kế hoạch đã vạch ra trên cơ sở nghiên cứu một
cách khoa học.
Quản lý Nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực văn hóa, xã
hội, môi trường mang tính liên tục và ổn định nhằm tác động lên các quá trình xã
hội và hệ thống các hành vi xã hội trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường. Cùng
với sự vận động biến đổi của đối tượng quản lý, hoạt động quản lý nhà nước diễn ra
thường xuyên, liên tục và không bị gián đoạn trong việc thực hiện Chương trình
mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Các quyết định của nhà nước phải có
tính ổn định, nhằm giúp cho các chủ thể quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn
mới trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường có điều kiện kiện toàn các hoạt động
của mình và hệ thống hành vi xã hội được ổn định.
11
1.1.3. Vai trò của của quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong
lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường
1.1.3.1. Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực văn
hóa, xã hội, môi trường góp phần hiện thực hóa chủ trương xây dựng nông thôn
mới ở Việt Nam hiện nay.
Xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể của đảng và nhà nước
ta về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và là một trong những nhiệm vụ quan trọng
hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Do đó, quản lý nhà
nước về xây dựng nông thôn mới lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường góp phần
hiện thực hóa các chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước ta về nông nghiệp,
nông dân, nông thôn. Nhằm khuyến khích, động viên cộng đồng dân cư ở nông thôn
cùng chung tay xây dựng gia đình, thôn, xã của mình ngày càng khang trang, sạch
văn hóa, xã hội, môi trường
Lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường chính là một trong số các lĩnh vực
thuộc nội dung của chương trình xây dựng nông thôn mới. Vì vậy, chủ thể quản lý
nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi
trường cũng chính là chủ thể quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới.
Chủ thể quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới là các cơ quan quản lý
Nhà nước về xây dựng nông thôn mới từ Trung ương đến địa phương gồm:
- Ban chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông
thôn mới: Ngày 01/7/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 1013
về việc thành lập Ban chỉ đạo Trung ương Chương trình mục tiêu quốc gia xây
dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 như sau [21]:
Ban chỉ đạo Trung ương gồm 24 thành viên, ban hành quy chế hoạt động,
phân công trách nhiệm cho từng thành viên của Ban chỉ đạo Trung ương; thành lập
Thường trực Ban chỉ đạo Trung ương, gồm trưởng ban, phó trưởng ban và 03 ủy
viên là lãnh đạo các Bộ: Kế hoạch và đầu tư, Tài chính và xây dựng; thành lập văn
phòng điều phối Chương trình giúp Ban chỉ đạo Trung ương đặt tại Bộ nông nghiệp
và Phát triển nông thôn.
Ban chỉ đạo Trung ương về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông
thôn mới có chức năng, nhiệm vụ: Xây dựng kế hoạch 5 năm và hàng năm về mục
tiêu, nhiệm vụ, các giải pháp và nhu cầu kinh phí thực hiện Chương trình báo cáo
Thủ tướng Chính phủ; chỉ đạo các Bộ, ngành xây dựng, hoàn thiện và hướng dẫn cơ
chế, chính sách có liên quan về xây dựng nông thôn mới; chỉ đạo các Bộ, ngành, Ủy
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng đề án triển khai nội
14
dung chương trình xây dựng nông thôn mới; xây dựng cơ chế phối hợp giữa các Bộ,
cơ quan thuộc Chính phủ với các cơ quan của Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn
thể nhân dân nhằm huy động cả hệ thống chính trị vào thực hiện nhiệm vụ xây dựng
Nam; tổng hợp, công bố các tiêu chuẩn, quy chuẩn đánh giá thực trạng nông thôn
theo Bộ tiêu chí quốc gia NTM của Trung ương và địa phương; tổng hợp, báo cáo
Ban chỉ đạo trung ương về kết quả đánh giá thực trạng nông thôn so với yêu cầu của
Bộ tiêu chí quốc gia trên địa bàn; xây dựng, ban hành quy định cụ thể về thực hiện
CTMTQG trên địa bàn; chỉ đạo Ban Chỉ đạo các huyện xây dựng các chỉ tiêu đạt
được theo tiến độ từng năm, từng giai đoạn và kết thúc Chương trình để làm cơ sở
giám sát đánh giá kết quả Chương trình trên địa bàn toàn tỉnh; chỉ đạo các đơn vị,
Ban Chỉ đạo các huyện thường xuyên tổ chức kiểm tra thực hiện Chương trình; tổng
hợp, báo cáo kết quả đánh giá về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; chỉ đạo
các sở, ban, ngành, các huyện, các đơn vị liên quan tạo điều kiện để Hội đồng Nhân
dân các cấp địa phương, Mặt trận Tổ quốc và cơ quan đoàn thể xã hội các cấp, cộng
đồng tham gia giám sát và phối hợp giám sát thực hiện Chương trình.
- Ban chỉ đạo huyện về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn
mới
Ban chỉ đạo của huyện do Chủ tịch UBND huyện làm trưởng Ban, Phó Chủ
tịch UBND là Phó trưởng Ban, thành viên gồm lãnh đạo các phòng, ban có liên
quan của địa phương, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (hoặc phòng kinh
tế) là cơ quan thường trực điều phối, giúp Ban chỉ đạo huyện thực hiện Chương
trình trên địa bàn.
Ban chỉ đạo huyện có chức năng, nhiệm vụ chủ yếu sau: xây dựng kế
hoạch hoạt động, Ban hành quy chế làm việc, phân công nhiệm vụ cụ thể cho
các thành viên, các phòng, ban liên quan; tổng hợp và xây dựng kế hoạch thực
hiện chương trình gửi BCĐ tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn; huy động nguồn lực của địa phương, của các đơn vị,
tổ chức, các tầng lớp dân cư để thực hiện.
Tổ chức tuyên truyền, học tập nghiên cứu các chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước, xây dựng chuyên mục về xây dựng NTM trên các phương tiện
thông tin đại chúng của địa phương trong suốt quá trình thực hiện Chương trình xây
dựng NTM; thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
Đối tượng của quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới là các hoạt
động, quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực xây dựng nông thôn mới bao gồm:
17
quản lý việc hoạch định chiến lược; quản lý việc quy hoạch xây dựng nông thôn
mới; quản lý việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quản lý nhà nước về
thực hiện các chính sách về xây dựng nông thôn mới; quản lý việc thực hiện các nội
dung xây dựng nông thôn mới như: phát triển hạ tầng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu,
nâng cao thu nhập, giảm nghèo và an sinh xã hội, phát triển giáo dục đào tạo ở nông
thôn, phát triển y tế - chăm sóc sức khỏe cho dân cư nông thôn, xây dựng đời sống
văn hóa, cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn… như vậy đối tượng của
quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực văn hóa, xã hội và môi
trường là những hoạt động có quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực vực văn hóa,
xã hội và môi trường.
Đối tượng của quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh vực
vực văn hóa, xã hội và môi trường là các cá nhân, tổ chức có liên quan đến các hoạt
động trong lĩnh vực vực văn hóa, xã hội và môi trường.
1.2.3. Nội dung quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong lĩnh
vực văn hóa, xã hội, môi trường
1.2.3.1. Nội dung QLNN về xây dựng nông thôn mới.
Nội dung QLNN về xây dựng nông thôn mới bao gồm: Quy hoạch xây dựng
nông thôn mới; Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội; Phát triển sản xuất gắn với tái cơ
cấu ngành nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, nâng cao thu nhập
cho người dân.; Giảm nghèo và an sinh xã hội; Phát triển giáo dục ở nông thôn;
Phát triển y tế cơ sở, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân nông thôn;
Nâng cao chất lượng đời sống văn hóa của người dân nông thôn; Vệ sinh môi
trường nông thôn, khắc phục, xử lý ô nhiễm và cải thiện môi trường tại các làng
nghề; Nâng cao chất lượng, phát huy vai trò của tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn