VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN MỸ BÌNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG
THÔN MỚI THỰC TIỄN HUYỆN BA CHẼ,
TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI - 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN MỸ BÌNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG
THÔN MỚI THỰC TIỄN HUYỆN BA CHẼ,
TỈNH QUẢNG NINH
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS. HOÀNG THẾ LIÊN
điều kiện giúp đỡ, cộng tác để giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn cơ quan chủ quản, gia đình, người
thân, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này./.
Ba Chẽ, ngày tháng năm 2019
Tác giả
Trần Mỹ Bình
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI................................................................................ 7
1.1. Các khái niệm cơ bản..................................................................................................... 7
1.2. Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới................................................ 8
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN BA CHẼ TỈNH QUẢNG NINH.................24
2.1. Khái quái về đặc điểm tình hình huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh....24
2.2. Thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện
Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.................................................................................................... 28
2.3. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
ở huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh................................................................................. 38
2.4. Bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình triển khai xây dựng
nông thôn mới từ năm 2016 – 2018.............................................................................. 58
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Ở HUYỆN BA CHẼ, TỈNH QUẢNG NINH ĐẾN NĂM 2020........................ 62
3.1. Phương hướng, mục tiêu xây dựng nông thôn mới trên địa bàn
huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020..................................................... 62
Bảng 2.7. Kết quả thực hiện tiêu chí thông tin và truyền thông.............................44
Bảng 2.8. Tình hình thực hiện tiêu chí nhà ở dân cư.................................................... 44
Bảng 2.9. Tình hình thực hiện tiêu chí hình thức tổ chức sản xuất.......................45
Bảng 2.10. Tình hình thực hiện tiêu chí giáo dục........................................................... 46
Bảng 2.11. Tình hình thực hiện tiêu chí y tế..................................................................... 47
Bảng 2.12. Tình hình thực hiện tiêu chí môi trường..................................................... 49
Bảng 2.13. Tình hình thực hiện tiêu chí hệ thống chính trị và tiếp cận
pháp luật.................................................................................................................................... 51
Bảng 2.14.Tình hình thực hiện tiêu chí khu dân cư, nông thôn mới kiểu
mới............................................................................................................................................... 52
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ trong quá trình lịch sử hình thành quốc gia dân tộc và trong sự nghiệp đấu
tranh giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, nông
nghiệp, nông dân và nông thôn đã đóng vai trò to lớn. Nông dân luôn là lực lượng
hùng hậu, trung thành nhất đi theo Đảng.Trải qua các giai đoạn cách mạng, nông
dân góp một phần không nhỏ làm nên những trang sử vẻ vang của dân tộc.
Nước ta, đặc biệt là ở miền Bắc, trong nền kinh tế nông nghiệp chiếm tỉ lệ
phần lớn, tuy nhiên sản xuất nhỏ lại chiếm đa số trong nông nghiệp. Với lý do
nguồn cung cấp lương thực và nguyên liệu chủ yếu đến từ nông nghiệp, đồng
thời nông nghiệp là một nguồn xuất khẩu quan trọng, và thị trường tiêu thụ
không hề nhỏ hiện nay đến từ nông thôn, vì vậy việc cải tạo và phát triển nông
nghiệp vô cùng quan trọng, từ đó các ngành kinh tế khác mới có cơ sở để phát
triển.
Như vậy, xuất phát từ thực tiễn và yêu cầ của đất nước, phát triển nông
nghiệp, nông thôn, nông dân đang là vấn đề được Đảng và nhà nước vô cùng
quan tâm và chú ý. Vì sao vậy? Nông nghiệp đã mở đường trong quá trình đổi
thống sông ngòi dày đặc… tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nền kinh tế
nông - lâm nghiệp, mà đặc biệt sản xuất lâm nghiệp đóng vai trò chủ đạo. Cùng
với xu thế chung của cả nước, Ba Chẽ đã và đang đẩy mạnh xây dựng mô hình
nông thôn mới. Những chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước cùng với sự chỉ đạo
của tỉnh Quảng Ninh và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ, chính quyền huyện
Ba Chẽ đã thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới ở Ba Chẽ phát triển, gặt
hái được rất nhiều thắng lợi quan trọng. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt
được vẫn còn tồn tại một số hạn chế về cơ chế chính sách, nguồn lực đầu tư, về
nhận thức của đội ngũ cán bộ, mặt bằng dân trí còn thấp, không đồng đều, đa
phần đời sống người dân còn nghèo nàn, gặp nhiều khó khăn....
Xuất phát từ thực tiễn: Việc nâng cao thu nhập của người dân và tạo ra sự
hài lòng của người dân đối với sự quản lý của các cấp chính quyền chính là vấn
đề cốt lõi của xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên phải xác định: không thể xây
dựng nông thôn mới nhanh chóng, nhanh chóng trong ngày một ngày hai, mà
phải mang tính lâu dài và khi các địa phương hoàn thành các tiêu chí đề ra mà
cần tiếp tục duy trì và nâng cao hơn chất lượng các tiêu chí đã đạt được thì xây
dựng nông thôn mới cũng chưa kết thúc. Do đó, để nâng cao hiệu quả quản lý
2
nhà nước về xây dựng nông thôn mới cần phải có những nghiên cứu lý luận,
khảo sát và đánh giá thực tiễn, tìm giải pháp phù hợp trên địa bàn nông thôn cả
nước nói chung cũng như ở huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh nói riêng nhằm mở
ra triển vọng mới trên lộ trình xây dựng môi trường sống tốt đẹp hơn cho cộng
đồng.
Từ những lý do trên đây, và qua kinh nghiệm từ thực tiễn, đề tài “Quản lý nhà
nước về XD NTM ở huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh” được tác giả lựa chọn làm Luận
văn tốt nghiệp thạc sĩ, chuyên ngành Luật hiến pháp và hành chính nhà nước.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
công năm 2016.
-
Đề tài “Xây dựng nông thôn mới cấp xã tại huyện Gò Quao, tỉnh Kiên
Giang”, Luận văn thạc sĩ Hành chính công năm 2015.
Bên cạnh đó có rất nhiều bài báo, đề tài, luận văn, luận án nghiên cứu về
XD NTM. Các công trình nghiên cứu đã có những đóng góp nhất định trong việc
cung cấp lý luận về XD NTM trong phạm vi cả nước nói chung và huyện Ba
Chẽ, tỉnh Quảng Ninh nói riêng. Tuy nhiên việc nghiên cứu về quản lý nhà nước
trong lĩnh vực XD NTM tại huyện Ba Chẽ cho đến nay vẫn chưa có công trình
3
nào tiến hành. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nước về XD NTM ở
huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh” là cách tiếp cận cụ thể một lĩnh vực chưa được
đề cập một cách hoàn chỉnh, toàn diện như luận văn đã đề cập, cần phải đầu tư
nghiên cứu có chiều sâu, toàn diện và sát thực tế mới đạt các yêu cầu đề ra.
3.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích
Xác định những khó khăn, hạn chế, nguyên nhân của những tồn tại cần
khắc phục trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận quản lý nhà nước về XD
NTM và kết quả phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về XD NTM ở
huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hơn
hiệu quả quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn, hoàn thành
mục tiêu 100% số xã trong huyện đạt tiêu chí xã NTM, đồng thời tại các xã đã
đạt chuẩn và được công nhận xã NTM cần duy trì và nâng cao hơn các tiêu chí
lý nhà nước nhằm thực hiện các tiêu chí về xây dựng nông thôn mới tại các xã
thuộc huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.
4
-
Về không gian: Nghiên cứu về quản lý nhà nước trong xây dựng nông
thôn mới ở các xã trong phạm vi huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.
-
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu nội dung quản lý nhà nước về xây
dựng nông thôn mới, từ khi bắt đầu triển khai tại huyện huyện Ba Chẽ, tỉnh
Quảng Ninh từ năm 2011 đến nay và định hướng đến năm 2020.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn kiện của Đảng, Nhà nước, của các Bộ,
ngành về xây dựng nông thôn mới; những chủ trương, biện pháp nhằm xây dựng
nông thôn mới của Huyện ủy, HĐND và UBND huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó chú
trọng phương pháp: phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn giải, quy nạp…đặc biệt
Luận văn sử dụng các phương pháp:
-
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về xây dựng nông
thôn mới.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở
huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.
Chương 3: Phướng hướng và giải pháp quản lý nhà nước về xây dựng
nông thôn mới ở huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020.
6
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước
Khái niệm quản lý: Có nhiều cách định nghĩa khái niệm quản lý khác nhau
tùy theo cách tiếp cận khác nhau. Nhìn chung, quản lý là một khái niệm gắn với
quyền lực ở mức độ nhất định. Khái niệm quản lý được định nghĩa trong từ điển
Tiếng Việt như sau: “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những
yêu cầu nhất định”. Khái niệm quản lý ở đây là muốn nói đến quản lý con người,
quản lý xã hội và biểu hiện cụ thể nhất là ở quản lý nhà nước.
Theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp thuật ngữ “Quản lý nhà nước” được hiểu
như sau:
Theo nghĩa rộng: Từ việc thông qua các văn bản quy phạm pháp luật để
thực thi quyền lực nhà nước, quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành các cơ
quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp).
Theo nghĩa hẹp: Nhằm đạt được những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ quản
lý nhà nước phải thực hiện quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan
hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của con người theo
pháp luật, quá trình đó chính là quản lý nhà nước. Song với mục đích xây dựng,
diện và đồng bộ, từng bước hiện đại kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội; làng xã văn
minh, sạch đẹp; sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; an
ninh trật tự được giữ vững dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo
vệ; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; hệ thống chính trị
vững mạnh và được tăng cường; đời sống vật chất và tinh thần của người dân
ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
1.2.
Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
1.2.1. Chủ thể quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
Hoàn thiện tổ chức và hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước là một
trong các yếu tố giúp nhà nước quản lý hoạt động XD NTM một cách thống
8
nhất, có tổ chức chặt chẽ, mang tính khoa học, nhất quán. Nhà nước ta quy định
rất rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan chuyên môn theo cấp
hành chính để phối hợp thực hiện XD NTM. Hệ thống các cơ quan, tổ chức được
xây dựng và kiện toàn từ TW tới địa phương sẽ vận hành theo định hướng của
Đảng và Nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để triển khai các nội dung quản
lý. Theo đó mỗi địa phương thành lập Ban chỉ đạo XD NTM, Văn phòng điều
phối, Ban quản lý, Ban Giám sát để tuyên truyền, quản lý, chỉ đạo hướng dẫn
thực hiện chương trình.
Ngày 01/7/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1013/QĐTTg về việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương CTMTQG XDNTM, giai đoạn
2010 – 2020, trên cơ sở đó Ban Chỉ đạo TW tiếp tục xây dựng và ban hành kế
hoạch triển khai CTMTQG XDNTM, giai đoạn 2010 – 2020, trong đó nêu rõ
việc thành lập BCĐ – cơ quan tham mưu giúp việc trong quản lý nhà nước về
XD NTM ở các cấp như sau:
a)
quan của địa phương;
+ Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (hoặc Phòng Kinh tế) là cơ
quan thường trực điều phối, giúp BCĐ huyện thực hiện Chương trình trên
địa bàn.
d) Cấp xã: thành lập Ban Quản lý XD NTM xã do Chủ tịch UBND xã làm
Trưởng ban; Phó Chủ tịch UBND xã là Phó Trưởng ban. Thành viên là một số
đại diện cơ quan chuyên môn và đại diện một số Ban, ngành, đoàn thể chính trị
xã. Đi đôi với thành lập bộ máy giúp việc, cần tổ chức, quản lý hoạt động đào
tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, xây dựng chế độ đãi ngộ xứng đáng đối với đội
ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm việc ở NT, đặc biệt là cán bộ chuyên trách
về NTM. Kinh nghiệm thành công trong XD NTM chỉ ra rằng, một tập thể lãnh
đạo có năng lực, có trách nhiệm chính là điều kiện quan trọng quyết định thành
công. Chính vì vậy, công tác đào tạo cán bộ cơ sở được coi trọng, bởi đây là lực
lượng trực tiếp triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước về XD NTM. Sự năng động và tinh thần trách nhiệm của họ đã dẫn dắt và
khơi dậy tính sáng tạo của nông dân. Nhiều năm trở lại đây, Đảng và Nhà nước
đã xây dựng và triển khai thực hiện nhiều Đề án về tuyển chọn, sử dụng và có
những chế độ đãi ngộ để thu hút những người có đủ năng lực, trí tuệ và phẩm
chất tham gia XD NTM (Đề án “Thí điểm tuyển chọn 500 trí thức trẻ tình
nguyện về các xã tham gia PT nông thôn, miền núi giai đoạn 2013 - 2020”).
1.2.2. Đối tượng của quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
1.2.2.1. Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới
Do còn nhiều yếu kém của kết cấu hạ tầng điện, đường, trường, trạm, chợ,
thủy lợi,vừa không đồng bộ, vừa thiếu; xuống cấp nhiều hạng mục, cứng hoá
10
thấp tỷ lệ GTNT ; ít được quan tâm đầu tư đến giao thông nội đồng; cần được
đầu tư nâng cấp hệ thống thuỷ lợi; chất lượng lưới điện nông thôn chưa thực sự
an toàn; hạn chế về cơ sở vật chất về giáo dục, y tế, văn hoá, chưa đầu tư đồng
nghiệp, nông thôn, nông dân.
1.2.2.2. Quan điểm, mục tiêu, đặc trưng của xây dựng nông thôn mới
*
-
Về quan điểm:
Trong sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nông nghiệp,
nông thôn, nông dân có vị trí chiến lược lớn.
-
Cần phải được giải quyết đồng bộ các vấn đề nông nghiệp, nông thôn,
nông dân gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước…
gắn xây dựng nông thôn mới với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và
phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa
nông nghiệp là then chốt.
-
Nông nghiệp, nông thôn được phát triển và đời sống vật chất, tinh thần
của nông dân được nâng cao
-
Nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội chính là giải
quyết vấn đề nông nghiệp, nông thôn, nông dân.
* Về mục tiêu
-
-
Nâng cao chất lương hệ thống chính trị...
1.2.2.3. Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
* Nội dung chương trình xây dựng nông thôn mới
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 20162020 được Thủ tướng chính phủ ban hành bao gồm 11 nội dung chính sau:
Nội dung 1: Quy hoạch xây dựng nông thôn mới.
Nội dung 2: Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội.
Nội dung 3: Gắn phát triển sản xuất với tái cơ cấu ngành nông nghiệp,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, thu nhập người dân được nâ
ng cao..
Nội dung 4: Giảm nghèo và an sinh xã hội.
Nội dung 5: Phát triển giáo dục ở nông thôn.
Nội dung 6: Phát triển y tế cơ sở, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe
người dân nông thôn.
Nội dung 7: Nâng cao chất lượng đời sống văn hóa của người dân nông thôn.
Nội dung 8: Vệ sinh môi trường nông thôn, khắc phục, xử lý ô nhiễm và cải
thiện môi trường tại các làng nghề.
Nội dung 9: Nâng cao chất lượng, phát huy vai trò của tổ chức Đảng, chính
quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trong xây dựng nông thôn mới; cải thiện và
nâng cao chất lượng các dịch vụ hành chính công; bảo đảm và tăng cường khả
năng tiếp cận pháp luật cho người dân.
Nội dung 10: Giữ vững quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội nông thôn.
Nội dung11: Nâng cao năng lực xây dựng nông thôn mới và công tác giám
sát, đánh giá thực hiện Chương trình; truyền thông về xây dựng nông thôn mới.
* Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới
Quyết định số 1980/QĐ-TTg được Thủ tướng chính phủ ban hành về Việc
Xây dựng hệ thống văn bản quản lý nhà nước về XD NTM là rất cần thiết,
giúp thể chế hóa và bảo đảm thực hiện các chủ trương, chính sách về NTM.
Thông qua hệ thống văn bản này, Nhà nước có thể điều tiết những vấn đề thực
14
tiễn trong công tác XD NTM, kịp thời cập nhật, điều chỉnh phù hợp với tình
hình, yêu cầu mới, giúp quá trình quản lý, điều hành đạt hiệu lực, hiệu quả cao.
Nhận thấy nông nghiệp, nông thôn có vai trò hết sức quan trọng trong sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước, CTMTQG XD NTM đã hình thành trên cơ sở lồng
ghép nhiều CT MTQG vào một chương trình và triển khai đồng bộ tất cả các nội
dung để phát triển nông thôn một cách toàn diện, bền vững. Chính vì thế, Đảng
và Nhà nước đã quan tâm xây dựng, ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp
luật liên quan đến hoạt động XD NTM nhằm chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương
căn cứ thực hiện, như: Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 5/8/2008 của BCH TW khóa
X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Nghị quyết 24/2008/NĐ-CP ngày
28/10/2008 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 7 BCH TW khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn;
Quyết định số 491/2009/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về
việc Ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới; Quyết định số 800/QĐTTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình mục
tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giai đoạn 2010 – 2020...Bên cạnh đó,
các Bộ, ngành liên quan ở Trung Ương và địa phương cũng đã ban hành đồng bộ
hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành; đồng thời để tiết kiệm nguồn vốn hiện
có, Nhà nước đã triển khai việc nối tiếp một số chương trình từ giai đoạn trước
và trong giai đoạn 2006 – 2010.
Đã có 11 CTMTQG được thực hiện trên địa bàn cả nước, tác động chủ yếu
đến khu vực NT, trong đó đáng chú ý là các chương trình như: xây dựng mô hình
ứng dụng và chuyển giao khoa học và công nghệ, phục vụ phát triển KTXH NT
và miền núi, giai đoạn 2004 – 2010; nước sạch và vệ sinh môi trường NT; kiên
đại, phục vụ hiệu quả cho SX nông nghiệp, công nghiệp và dân sinh; năng lực
phòng chống với diễn biến khí hậu, thiên tai ngày càng được nâng cao, bảo vệ
cuộc sống và cơ sở vật chất của nhân dân.
Nhiều chính sách khuyến khích DN đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn,
các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và hỗ trợ phát triển DN
được triển khai đồng bộ. Bộ NN-PTNT luôn đồng hành, đối thoại cùng các DN
để vừa tuyên truyền, phổ biến chính sách của Đảng, Nhà nước, vừa hỗ trợ DN,
tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc. Vì vậy, đầu tư từ khu vực tư nhân vào
nông nghiệp, nông thôn đã tăng đáng kể.
16
Đi đôi với việc chuyển dịch cơ cấu SX, quy hoạch của các ngành hàng
chủ lực đã được rà soát, điều chỉnh, đồng thời nghiên cứu xây dựng mới các quy
hoạch phục vụ cơ cấu lại SX. Các quy hoạch được xây dựng trên cơ sở phát huy
lợi thế địa phương, nhu cầu thị trường và ứng phó với biến đổi khí hậu với quy
mô mang tính toàn quốc và liên vùng.Để phù hợp và đáp ứng quá trình tái cơ cấu
lại các ngành hàng, các loại hình tổ chức SX được đổi mới phù hợp và hiệu quả
hơn. Theo đó, HTX nông nghiệp được thành lập và tổ chức lại theo Luật HTX,
hoạt động ngày càng hiệu quả, dần thích nghi với cơ chế thị trường, hỗ trợ hiệu
quả cho kinh tế hộ gia đình.
Hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng KH-CN được thúc đẩy
và hiệu quả hơn. Theo đó, đã ưu tiên các nhiệm vụ nghiên cứu, chuyển giao và
ứng dụng công nghệ cao, SX nông nghiệp sạch; tập trung giải quyết các vấn đề
bức xúc trong SX như: SX giống chất lượng cao, chống chịu sâu bệnh và thích
ứng với biến đổi khí hậu, xây dựng các quy trình SX tốt, quy chuẩn, tiêu chuẩn
quốc gia… Nhiều tiến bộ kỹ thuật, quy trình SX tiên tiến đã được nghiên cứu và
chuyển giao vào thực tiễn... Công tác quản lý nhà nước về ATTP được tăng
cường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả; xử lý nghiêm các vi phạm, từng bước giải
NTM phải có cơ chế huy động được thực hiện theo hướng đa dạng hóa các
nguồn vốn thông qua: Lồng ghép các nguồn vốn của các chương trình MTQG,
các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn; huy động tối đa nguồn
lực của địa phương. Kêu gọi sự đóng góp của nhân dân; các khoản viện trợ
không hoàn lại của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho
các dự án đầu tư; các nguồn vốn tín dụng; các nguồn vốn hợp pháp khác.
Huy động và quản lý các nguồn lực đầu tư XD NTM luôn được triển khai
để đảm bảo tính cân đối phù hợp, tính hiệu quả trong huy động nguồn lực XD
NTM nói riêng và thu ngân sách ở địa phương nói chung. Vai trò của Nhà nước ở
đây là tạo lập, huy động mọi nguồn vốn đầu tư, mở rộng hệ thống quỹ tín dụng
để phát triển nông nghiệp, nông thôn, xây dựng các quỹ phòng chống thiên tai,
quỹ xóa đói giảm nghèo...để thúc đẩy quá trình CDCCKT NT, đáp ứng các tiêu
chí của Bộ tiêu chí Quốc gia về XD NTM.
18