VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN MỸ BÌNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG
THÔN MỚI THỰC TIỄN HUYỆN BA CHẼ,
TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI - 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN MỸ BÌNH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG
THÔN MỚI THỰC TIỄN HUYỆN BA CHẼ,
TỈNH QUẢNG NINH
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS. HOÀNG THẾ LIÊN
HÀ NỘI - 2019
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn cơ quan chủ quản, gia đình, người
thân, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này./.
Ba Chẽ, ngày tháng năm 2019
Tác giả
Trần Mỹ Bình
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI ........................................................... 7
1.1. Các khái niệm cơ bản ........................................................................... 7
1.2. Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới.................................... 8
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN BA CHẼ TỈNH QUẢNG NINH ............ 24
2.1. Khái quái về đặc điểm tình hình huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh ... 24
2.2. Thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện
Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh .......................................................................... 28
2.3. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
ở huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh ............................................................ 38
2.4. Bài học kinh nghiệm rút ra trong quá trình triển khai xây dựng
nông thôn mới từ năm 2016 – 2018 .......................................................... 58
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
Ở HUYỆN BA CHẼ, TỈNH QUẢNG NINH ĐẾN NĂM 2020 ................. 62
3.1. Phương hướng, mục tiêu xây dựng nông thôn mới trên địa bàn
huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020 ....................................... 62
3.2. Một số giải pháp xây dựng nông thôn mới ở huyện Ba Chẽ đến
MTQG
Mục tiêu quốc gia
MTTQ
Mặt trận Tổ quốc
NSNN
Ngân sách Nhà nước
THCS
Trung học cơ sở
TW
Trung Ương
UBND
Ủy ban nhân dân
XDNTM
Xây dựng nông thôn mới
DANH MỤC BẢNG
thời nông nghiệp là một nguồn xuất khẩu quan trọng, và thị trường tiêu thụ
không hề nhỏ hiện nay đến từ nông thôn, vì vậy việc cải tạo và phát triển nông
nghiệp vô cùng quan trọng, từ đó các ngành kinh tế khác mới có cơ sở để phát
triển.
Như vậy, xuất phát từ thực tiễn và yêu cầ của đất nước, phát triển nông
nghiệp, nông thôn, nông dân đang là vấn đề được Đảng và nhà nước vô cùng
quan tâm và chú ý. Vì sao vậy? Nông nghiệp đã mở đường trong quá trình đổi
mới, tạo nền tảng, động lực cho tăng trưởng kinh tế và là nhân tố quan trọng bảo
đảm sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. Đến nay mặc dù sau gần
30 năm đổi mới, kinh tế nước ta đã phát triển khá toàn diện, song sản phẩm nông
nghiệp vẫn là những sản phẩm chủ yếu thể hiện sự hội nhập của nền kinh tế Việt
Nam với thế giới.
Trong quá trình đổi mới, Đảng, Nhà nước luôn coi lĩnh vực nông nghiệp,
nông dân, nông thôn là vấn đề chiến lược và đã ban hành nhiều chủ trương,
chính sách nhằm phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn, cải thiện đời sống
nông dân. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa X về “nông nghiệp, nông
thôn, nông dân” đã đưa ra đánh giá toàn diện về nông nghiệp, nông thôn, nông
dân nước ta trong quá trình đổi mới; đề ra nhiều chủ trương, giải pháp phát triển
toàn diện nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Chính phủ, các ngành, các cấp đã
ban hành nhiều chương trình, dự án tăng cường đầu tư cho lĩnh vực này, đẩy
1
mạnh tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, đáp ứng nhu cầu
của thị trường.
Trên cơ sở các nội dung của Nghị quyết 26-NQ/TW, Quyết định 800/QĐTTg, ngày 04/6/2010 về Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn
mới, giai đoạn 2010 – 2020 đã được Chính phủ ban hành, nêu rõ 7 nhóm giải
pháp và 19 tiêu chí. Đây là một chương trình trọng tâm, xuyên suốt, là chương
trình khung, tổng thể phát triển nông thôn của Nghị quyết 26-NQ/TW bao gồm
ra triển vọng mới trên lộ trình xây dựng môi trường sống tốt đẹp hơn cho cộng
đồng.
Từ những lý do trên đây, và qua kinh nghiệm từ thực tiễn, đề tài “Quản lý nhà
nước về XD NTM ở huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh” được tác giả lựa chọn làm
Luận văn tốt nghiệp thạc sĩ, chuyên ngành Luật hiến pháp và hành chính nhà nước.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Sau đây là một số công trình khoa học tiêu biểu của các nhà khoa học có liên
quan đến đề tài mà khi đặt vấn đề nghiên cứu đề tài này, tác giả đã được tiếp cận:
- Quy hoạch xây dựng nông thôn mới (2014), Nhà xuất bản Chính trị
Quốc gia – Sự thật và Nhà xuất bản xây dựng.
- Đề tài “Thực trạng XD NTM và những vấn đề đặt ra đối với quản lý nhà
nước” của TS. Hoàng Sỹ Kim – Khoa Quản lý nhà nước về đô thị và nông thôn,
Học viện hành chính Quốc gia.
- Đề tài “ Quản lý nhà nước về XD NTM trên địa bàn huyện Hương Khê,
tỉnh Hà Tĩnh” của Nguyễn Thị Quy, Luận văn thạc sĩ Hành chính công năm
2015.
- Đề tài “Vai trò của chính quyền xã trong XD NTM ở Thái Nguyên” của
Ngô Thị Vân Anh, Luận văn thạc sĩ Hành chính công năm 2015
- Đề tài “ Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới tại huyện Mỹ
Đức, Thành phố Hà Nội” của Hoàng Thị Hồng Lê, Luận văn thạc sĩ Hành chính
công năm 2016.
- Đề tài “Xây dựng nông thôn mới cấp xã tại huyện Gò Quao, tỉnh Kiên
Giang”, Luận văn thạc sĩ Hành chính công năm 2015.
Bên cạnh đó có rất nhiều bài báo, đề tài, luận văn, luận án nghiên cứu về
XD NTM. Các công trình nghiên cứu đã có những đóng góp nhất định trong việc
cung cấp lý luận về XD NTM trong phạm vi cả nước nói chung và huyện Ba
Chẽ, tỉnh Quảng Ninh nói riêng. Tuy nhiên việc nghiên cứu về quản lý nhà nước
trong lĩnh vực XD NTM tại huyện Ba Chẽ cho đến nay vẫn chưa có công trình
3
lý nhà nước nhằm thực hiện các tiêu chí về xây dựng nông thôn mới tại các xã
thuộc huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.
4
- Về không gian: Nghiên cứu về quản lý nhà nước trong xây dựng nông
thôn mới ở các xã trong phạm vi huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu nội dung quản lý nhà nước về xây
dựng nông thôn mới, từ khi bắt đầu triển khai tại huyện huyện Ba Chẽ, tỉnh
Quảng Ninh từ năm 2011 đến nay và định hướng đến năm 2020.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác –
Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn kiện của Đảng, Nhà nước, của các Bộ,
ngành về xây dựng nông thôn mới; những chủ trương, biện pháp nhằm xây dựng
nông thôn mới của Huyện ủy, HĐND và UBND huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu, trong đó chú
trọng phương pháp: phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn giải, quy nạp…đặc biệt
Luận văn sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp thống kê: Thu thập các tài liệu, số liệu đã có tại các cơ
quan trong huyện và các xã trên địa bàn huyện; Chi cục thống kê huyện; Ban chỉ
đạo xây dựng nông thôn mới huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh, từ đó phân tích và
rút ra những kết quả đánh giá khách quan, dự báo xu hướng phát triển trong thời
gian tiếp theo. Sử dụng các tài liệu, số liệu từ các ấn phẩm và các websites
chuyên ngành.
- Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập thông tin công bố chính thức
của các cơ quan nhà nước, các nghiên cứu của các cá nhân, tổ chức về xây dựng
nông thôn mới; những thông tin về tình hình cơ bản của huyện, về xây dựng
nông thôn mới do các cơ quan chức năng của huyện cung cấp. Thu thập tài liệu
1.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước
Khái niệm quản lý: Có nhiều cách định nghĩa khái niệm quản lý khác
nhau tùy theo cách tiếp cận khác nhau. Nhìn chung, quản lý là một khái niệm
gắn với quyền lực ở mức độ nhất định. Khái niệm quản lý được định nghĩa trong
từ điển Tiếng Việt như sau: “Quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động
theo những yêu cầu nhất định”. Khái niệm quản lý ở đây là muốn nói đến quản
lý con người, quản lý xã hội và biểu hiện cụ thể nhất là ở quản lý nhà nước.
Theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp thuật ngữ “Quản lý nhà nước” được hiểu
như sau:
Theo nghĩa rộng: Từ việc thông qua các văn bản quy phạm pháp luật để
thực thi quyền lực nhà nước, quản lý nhà nước là sự chỉ huy, điều hành các cơ
quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp).
Theo nghĩa hẹp: Nhằm đạt được những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ quản
lý nhà nước phải thực hiện quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan
hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của con người theo
pháp luật, quá trình đó chính là quản lý nhà nước. Song với mục đích xây dựng,
tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình các cơ quan nhà
nước còn thực hiện các hoạt động có tính chấp hành, điều hành, hành chính nhà
nước.
Từ những điểm chung của các quan niệm trên, có thể hiểu: Quản lý nhà nước
là hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước của các cơ quan trong bộ máy nhà nước
nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước trên cơ sở các quy
luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước.
7
1.1.2. Khái niệm về nông thôn mới
Khái niệm nông thôn đã được nhắc cụ thể tại Điều 1 trong Thông tư số
54/2009/TT-BNNPTNT của về hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia về
nhất, có tổ chức chặt chẽ, mang tính khoa học, nhất quán. Nhà nước ta quy định
rất rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan chuyên môn theo cấp
hành chính để phối hợp thực hiện XD NTM. Hệ thống các cơ quan, tổ chức được
xây dựng và kiện toàn từ TW tới địa phương sẽ vận hành theo định hướng của
Đảng và Nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để triển khai các nội dung quản
lý. Theo đó mỗi địa phương thành lập Ban chỉ đạo XD NTM, Văn phòng điều
phối, Ban quản lý, Ban Giám sát để tuyên truyền, quản lý, chỉ đạo hướng dẫn
thực hiện chương trình.
Ngày 01/7/2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1013/QĐTTg về việc thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương CTMTQG XDNTM, giai đoạn
2010 – 2020, trên cơ sở đó Ban Chỉ đạo TW tiếp tục xây dựng và ban hành kế
hoạch triển khai CTMTQG XDNTM, giai đoạn 2010 – 2020, trong đó nêu rõ
việc thành lập BCĐ – cơ quan tham mưu giúp việc trong quản lý nhà nước về
XD NTM ở các cấp như sau:
a) BCĐ TW: Theo Quyết định số 1013/QĐ-TTg, BCĐ TW CT MTQG
XDNTM giai đoạn 2010 - 2020 gồm 24 thành viên; Ban hành Quy chế hoạt
động, phân công trách nhiệm cụ thể đối với các thành viên của BCĐ TW;
- Thành lập Thường trực BCĐ TW, gồm Trưởng ban, phó Trưởng ban và 3
ủy viên là lãnh đạo các Bộ: Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính và Xây dựng;
- Thành lập Văn phòng điều phối Chương trình giúp Ban Chỉ đạo Trung
ương đặt tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (do Bộ trưởng Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn quyết định).
b) Cấp tỉnh:
+ Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban BCĐ của tỉnh. BCĐ bao gồm Phó
Ban thường trực là Phó Chủ tịch UBND tỉnh và 01 Phó ban là Giám đốc Sở
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; các thành viên BCĐ có thành phần tương
tự BCĐ TW. Thường trực BCĐ cấp tỉnh là Trưởng ban, các phó trưởng ban và 3
ủy viên là đại diện lãnh đạo các Sở: Xây dựng, Kế hoạch - Đầu tư, Tài chính;
Do còn nhiều yếu kém của kết cấu hạ tầng điện, đường, trường, trạm, chợ,
thủy lợi,vừa không đồng bộ, vừa thiếu; xuống cấp nhiều hạng mục, cứng hoá
10
thấp tỷ lệ GTNT ; ít được quan tâm đầu tư đến giao thông nội đồng; cần được
đầu tư nâng cấp hệ thống thuỷ lợi; chất lượng lưới điện nông thôn chưa thực sự
an toàn; hạn chế về cơ sở vật chất về giáo dục, y tế, văn hoá, chưa đầu tư đồng
bộ mạng lưới chợ nông thôn, xuống cấp nhiều trụ sở xã. Rất khó khăn trong việc
xây dựng mặt bằng đặt chuẩn, dân cư còn phân bố nhỏ lẻ, khó phát triển kinh tế
hộ.
Xuất phát từ việc manh mún, nhỏ lẻ trong sản xuất nông nghiệp, còn hạn
chế trong bảo quản chế biến, chế biến chưa được gắn với thị trường tiêu thụ sản
phẩm; sức cạnh tranh chất lượng nông sản trên thị trường còn thấp. Sự kém phát
triển trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế,cũng như trong ứng dụng khoa học công
nghệ trong nông nghiệp, tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp; chưa đồng bộ cơ
giới hoá.
Do nông dân có thu nhập thấp; không nhiều doanh nghiệp đầu tư vào
nông nghiệp, nông thôn ; người sản xuất chưa liên kết chặt chẽ với các thành
phần kinh tế khác ở khu vực nông thôn. Còn nhiều yếu kém trong Kinh tế hộ,
kinh tế trang trại, hợp tác xã. Còn quá nhiều tỷ lệ lao động nông nghiệp , ít cơ
hội có việc làm mới tại địa phương , lao động nông lâm nghiệp qua đào tạo tỉ lệ
còn thấp; còn nhiều hộ nghèo.
Do nhân dân còn nhiều hạn chế về đời sống vật chất cũng như tinh thần,
đang có nguy cơ mai một nhiều nét văn hóa truyền thống (tiếng nói, phong tục,
trang phục…); còn nhiều nhà tạm, dột nát. Hiện nay, chủ yếu phát triển tự phát,
chưa theo quy hoạch kinh tế xã hội khu vực nông thôn.
Do cần 3 yếu tố chính trong yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện
đại hóa đất nước đó là đất đai lao động kỹ thuật và vốn. Qua việc XD NTM đáp
ứng yêu cầu công nghiệp hóa sẽ triển khai quy hoạch tổng thể, đào tạo nguồn
* Đặc trưng
- Kinh tế phát triển, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của cư dân
nông thôn.
- Phát triển nông thôn theo quy hoạch, hiện đại hóa kết cấu hạ tầng kinh
tế, xã hội, bảo vệ được môi trường sinh thái;
12
- Nâng cao dân trí, an ninh tốt, quản lý dân chủ, giữ gìn và phát huy được
bản sắc văn hóa dân tộc.
- Nâng cao chất lương hệ thống chính trị...
1.2.2.3. Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới
* Nội dung chương trình xây dựng nông thôn mới
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 20162020 được Thủ tướng chính phủ ban hành bao gồm 11 nội dung chính sau:
Nội dung 1: Quy hoạch xây dựng nông thôn mới.
Nội dung 2: Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội.
Nội dung 3: Gắn phát triển sản xuất với tái cơ cấu ngành nông nghiệp,
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, thu nhập người dân được nâ
ng cao..
Nội dung 4: Giảm nghèo và an sinh xã hội.
Nội dung 5: Phát triển giáo dục ở nông thôn.
Nội dung 6: Phát triển y tế cơ sở, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người
dân nông thôn.
Nội dung 7: Nâng cao chất lượng đời sống văn hóa của người dân nông thôn.
Nội dung 8: Vệ sinh môi trường nông thôn, khắc phục, xử lý ô nhiễm và cải
thiện môi trường tại các làng nghề.
Nội dung 9: Nâng cao chất lượng, phát huy vai trò của tổ chức Đảng, chính
quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trong xây dựng nông thôn mới; cải thiện và
Nhóm 5: Hệ thống chính trị
(gồm 2 tiêu chí)
(phụ lục 01)
Một xã đạt đủ 19 tiêu chí là đạt tiêu chuẩn NTM
1.2.3. Nội dụng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
1.2.3.1. Hoạch định chiến lược, quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Hoạch định chiến lược trong XD NTM là việc định ra những mục tiêu, nội
dung, giải pháp ngắn hạn, trung hạn và dài hạn cho CTMTQG XDNTM.
Quy hoạch XD NTM là nội dung cơ bản và là bước đi đầu tiên, quan trọng
trong tổng thể nhiệm vụ XD NTM nói chung. Quy hoạch NTM là điều kiện tiên
quyết, là cơ sở cho đầu tư xây dựng các công trình, chỉnh trang, phát triển NT.
Do đó, để thực hiện thành công, chủ động XD NTM thì công tác lập quy hoạch
cần được quan tâm đặc biệt. Quy hoạch đúng mức tạo ra sự thống nhất giữa tổng
thể PT KH-XH, quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, sử dụng đất, gắn chặt với
quy hoạch PT KH-XH vùng, ngành, địa phương, là công cụ quản lý XD NTM
theo hướng văn minh, hiện đại. Sự chính xác trong quy hoạch sẽ đảm bảo cho sự
phát triển bền vững của xã hội.
1.2.3.2. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quản lý nhà nước và chính
sách về xây dựng nông thôn mới
Xây dựng hệ thống văn bản quản lý nhà nước về XD NTM là rất cần thiết,
giúp thể chế hóa và bảo đảm thực hiện các chủ trương, chính sách về NTM.
Thông qua hệ thống văn bản này, Nhà nước có thể điều tiết những vấn đề thực
14
tiễn trong công tác XD NTM, kịp thời cập nhật, điều chỉnh phù hợp với tình
chính là việc tổ chức chỉ đạo triển khai thực hiện 11 nội dung XD NTM, trong
đó trọng tâm là các nội dung sau:
a) Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn, tổ chức lại sản
xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp
Để Việt Nam trở thành một quốc gia văn minh, hiện đại, Đảng và Nhà
nước ta đã xác định CDCCKT theo hướng CNH, HĐH là con đường tất yếu
nhanh thoát khỏi tình trạng lạc hậu, chậm phát triển. CDCCKT theo hướng
CNH, HĐH có nội dung và yêu cầu cơ bản là tăng nhanh tỷ trọng giá trị trong
GDP của các ngành công nghiệp, xây dựng và thương mại - dịch vụ, đồng thời
giảm dần tương đối tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành nông nghiệp, lâm
nghiệp và ngư nghiệp.
Hàng loạt chính sách mới của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ra đời đã
kịp thời bổ sung về nguồn lực cho phát triển các lĩnh vực then chốt của ngành
Nông nghiệp như: Chính sách hỗ trợ phát triển thủy sản; chuyển đổi cơ cấu cây
trồng trên đất lúa; tái canh cà phê; bảo vệ và phát triển rừng gắn với xóa đói
giảm nghèo ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số; chính sách tín dụng, thuế,
nông nghiệp công nghệ cao với nhiều ưu đãi cho nông nghiệp, nông thôn; sắp
xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của Cty nông lâm nghiệp… Kết
cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn tiếp tục được nâng cấp và ngày càng hiện
đại, phục vụ hiệu quả cho SX nông nghiệp, công nghiệp và dân sinh; năng lực
phòng chống với diễn biến khí hậu, thiên tai ngày càng được nâng cao, bảo vệ
cuộc sống và cơ sở vật chất của nhân dân.
Nhiều chính sách khuyến khích DN đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn,
các giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và hỗ trợ phát triển DN
được triển khai đồng bộ. Bộ NN-PTNT luôn đồng hành, đối thoại cùng các DN
để vừa tuyên truyền, phổ biến chính sách của Đảng, Nhà nước, vừa hỗ trợ DN,
tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc. Vì vậy, đầu tư từ khu vực tư nhân vào
nông nghiệp, nông thôn đã tăng đáng kể.
16
và tài chính để thực hiện các mục tiêu cụ thể trong XD NTM. Việc xác định
17
nguồn lực và cơ chế huy động nguồn lực tài chính cho XD NTM đòi hỏi phải
bao quát tương đối đầy đủ các nguồn lực trong xã hội. Các hình thức và chính
sách huy động phải đa dạng, linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả huy động.
Đặc biệt trong bối cảnh nguồn lực có hạn, nhu cầu vốn để thực hiện rất lớn, do
vậy, nâng cao hiệu quả huy động vốn đầu tư thông qua các chính sách huy động
nguồn lực và lồng ghép các nguồn vốn là yêu cầu cấp thiết.
Thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 về nông nghiệp, nông
dân, nông thôn, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 800/QĐ-TTg
ngày 04/6/2010 phê duyệt CTMTQG XDNTM giai đoạn 2010-2020. Đây là một
chương trình khung toàn diện nhất để cộng đồng chung sức xây dựng một NTM,
trong đó, huy động nguồn lực thực hiện là vấn đề rất được quan tâm. Theo Quyết
định, nguồn vốn ngân sách chiếm tỷ trọng lớn nhất, khoảng 40% tổng nguồn vốn
thực hiện CT MTQG XD NTM, tiếp đến là vốn tín dụng (khoảng 30%), vốn từ
các DN và các tổ chức kinh tế khác (khoảng 20%) và huy động đóng góp của
cộng đồng dân cư (khoảng 10%). Do vậy, đòi hỏi trong quản lý nhà nước về XD
NTM phải có cơ chế huy động được thực hiện theo hướng đa dạng hóa các
nguồn vốn thông qua: Lồng ghép các nguồn vốn của các chương trình MTQG,
các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn; huy động tối đa nguồn
lực của địa phương. Kêu gọi sự đóng góp của nhân dân; các khoản viện trợ
không hoàn lại của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho
các dự án đầu tư; các nguồn vốn tín dụng; các nguồn vốn hợp pháp khác.
Huy động và quản lý các nguồn lực đầu tư XD NTM luôn được triển khai
để đảm bảo tính cân đối phù hợp, tính hiệu quả trong huy động nguồn lực XD
NTM nói riêng và thu ngân sách ở địa phương nói chung. Vai trò của Nhà nước
ở đây là tạo lập, huy động mọi nguồn vốn đầu tư, mở rộng hệ thống quỹ tín dụng
để phát triển nông nghiệp, nông thôn, xây dựng các quỹ phòng chống thiên tai,