Thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - Pdf 57

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN MINH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
NGÀNH NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN MINH

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ
NGÀNH NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số

: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. DƯƠNG NGUYỄN MINH HUY


MẠNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ NGÀNH
NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ ĐIỆN BÀN, TỈNH QUẢNG NAM
...................................................................................................................................63
3.1. Phương hướng hoàn thiện và đẩy mạnh thực hiện chính sách phát triển kinh tế
ngành nông nghiệp trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam .........................63
3.2. Giải pháp hoàn thiện và đẩy mạnh thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành
nông nghiệp trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam ....................................67
KẾT LUẬN ..............................................................................................................79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT

Từ viết tắt

Nghĩa đầy đủ

1

CBCCVC

Cán bộ, công chức, viên chức

2

QLNN

Quản lý nhà nước


Thu - chi trong cân đối ngân sách thị xã Điện Bàn

30

2.4
2.5

Một số chỉ tiêu về xã hội tại thị xã Điện Bàn giai đoạn 20142018
Tốc độ phát triển của ngành nông nghiệp thị xã Điện Bàn giai
đoạn 2014-2018

32
34

2.6

Một số chỉ tiêu trên lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2014-2018

35

2.7

Một số chỉ tiêu trên lĩnh vực chăn nuôi giai đoạn 2014-2018

36


DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Số hiệu



Kết quả khảo sát đánh giá về công tác phân công, phối hợp thực
2.5

hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp trên địa

48

bàn thị xã
Kết quả khảo sát đánh giá về công tác duy trì và điều chỉnh
2.6

chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp trên địa bàn thị

50


Kết quả khảo sát đánh giá về công tác theo dõi, kiểm tra, đôn
2.7

đốc thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp

55

trên địa bàn thị xã
Kết quả khảo sát đánh giá về công tác tổng kết, đánh giá, rút
2.8

kinh nghiệm chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp
trên địa bàn thị xã

chế, như sản xuất manh mún, chủ yếu là sản xuất hộ gia đình; suy giảm thâm
1


canh; tính hiệu quả và sức cạnh tranh của sản phẩm chưa cao, tình trạng được
mùa mất giá vẫn tiếp tục diễn ra, lặp đi lặp lại, thường xuyên có những cuộc
giải cứu nông sản thừa; thu nhập từ nông nghiệp thấp so với các ngành khác.
Điều này cho thấy, bản thân trong nội bộ của ngành kinh tế nông nghiệp thị
xã cũng đang bộc lộ nhiều hạn chế. Đặc biệt, vai trò của các chủ thể quản lý
trong lĩnh vực này của thị xã Điện Bàn còn mờ nhạt, chưa thực sự hiệu quả,
thể hiện qua các điểm sau đây: Năng lực quản lý chưa đáp ứng yêu cầu phát
triển của kinh tế; Công tác lập kế hoạch còn hạn chế, chưa gắn sản xuất với
nhu cầu của thị trường, tại các xã, phường diễn ra tình trạng đầu tư vượt quy
hoạch, đầu tư theo phong trào rất phổ biến; Những vi phạm phổ biến thường
xuyên diễn ra như vật tư nông nghiệp giả, vi phạm an toàn thực phẩm, sử
dụng chất cấm, kháng sinh trong chăn nuôi.
Việc thực hiện chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn
thị xã đã được các cấp chính quyền và người dân quan tâm thực hiện. Tuy
nhiên, công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách cũng như hoạt động thanh
tra, kiểm tra việc thực hiện chính sách chưa thực sự mang lại hiệu quả trong
quá trình triển khai chính chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp trên
địa bàn thị xã thời gian qua.
Bên cạnh đó, trước những xu thế thay đổi chung hiện nay của ngành
nông nghiệp về sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, tác
động của hội nhập kinh tế và biến đổi khí hậu, đặt ra yêu cầu công tác quản lý
trong phát triển về nông nghiệp ở thị xã Điện Bàn cần thiết phải được nâng
cao hơn nữa. Đặc biệt với vị thế mới, được công nhận là thị xã vào năm 2015,
thị xã Điện Bàn định hướng phát triển theo hướng đô thị, vì vậy yêu cầu đặt ra
đối với công tác thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp tại
thị xã càng cần thiết phải được nâng cao để phù hợp với định hướng phát triển

2011-2020 [40].
Vũ Đình Thắng (2013) trong “Giáo trình Kinh tế nông nghiệp” đã nêu
tổng quan về kinh tế nông nghiệp, đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp
3


nghiên cứu môn học; những nội dung cơ bản về quan hệ sản xuất trong nông
nghiệp Việt Nam; Nghiên cứu những nội dung cơ bản về phát triển lực lượng
sản xuất của nông nghiệp dưới giác độ kinh tế học. Tác giả đã đi sâu về phát
triển nông nghiệp bền vững, các chủ thể kinh tế nông nghiệp, các nguồn lực
và sự tác động của tiến bộ khoa học, yếu tố thị trường, chính sách phát triển
cũng như quản lý nhà nước về nông nghiệp. Thể hiện rõ nhận thức lý luận về
quản lý nhà nước đối với nông nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc
tế, làm rõ những căn cứ, nội dung đổi mới quản lý nhà nước về nông nghiệp
trước yêu cầu hội nhập [30].
Trong luận văn thạc sĩ “Kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Sơn La”, tác giả
Nguyễn Thị Minh Nguyệt (2014) đã hệ thống hóa và luận giải rõ những vấn
đề lý luận về kinh tế nông nghiệp như: khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung
cấu thành và nhân tố ảnh hưởng đến kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Sơn La. Đặc
biệt, trên cơ sở kinh nghiệm phát triển kinh tế nông nghiệp của tỉnh Yên Bái,
Lào Cai và Thái Nguyên, tác giả đã rút ra năm bài học kinh nghiệm về phát
triển kinh tế nông nghiệp cho tỉnh Sơn La. Mặt khác, tác giả đã khái quát, làm
rõ bức tranh thực trạng về kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Sơn La; trên cơ sở đó đề
xuất phương hướng và giải pháp phát triển kinh tế nông nghiệp tỉnh Sơn La
đến năm 2020. Có thể nói, tuy địa bàn cũng như mục đích và nhiệm vụ nghiên
cứu về kinh tế nông nghiệp khác nhau, nhưng nhiều nội dung nghiên cứu của
công trình này, cả về lý luận và thực tiễn, có thể kế thừa để nghiên cứu về
phát triển kinh tế nông nghiệp [23].
Phạm S (2015) trong công trình nghiên cứu “Nông nghiệp ứng dụng
công nghệ cao là yêu cầu tất yếu để hội nhập quốc tế”, đã phân tích các cơ sở

môi trường tự nhiên, góp phần giải quyết yêu cầu tăng trưởng hợp lý với giảm
nghèo bền vững, bảo đảm sự bình đẳng trong cơ hội phát triển cho mỗi người
với điều kiện thụ hưởng hợp lý, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
người dân trong phát triển; thứ hai, tăng trưởng xanh phải dựa trên việc tăng
cường đầu tư vào bảo tồn, phát triển và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn tự
5


nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, cải thiện nâng cao chất lượng môi trường,
qua đó kích thích tăng trưởng kinh tế ngay trong điều kiện biến đổi khí hậu
toàn cầu, đặc biệt là tình trạng nước biển dâng cao sẽ tác động mạnh vào
nhiều vùng của đất nước; thứ ba, tăng trưởng xanh phải dựa trên cơ sở khoa
học, thực hiện chuyển giao công nghệ hiện đại, kỹ năng quản lý tiên tiến, xây
dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, kết
hợp giữa nội lực với mở rộng hợp tác quốc tế, tạo thành nguồn lực tổng thể
cho phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; thứ tư, tăng trưởng xanh là sự
nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, là nhiệm vụ của mọi cấp chính quyền, từ các
bộ, ngành đến chính quyền các địa phương, thích ứng với một hệ thống phân
cấp quản lý phi tập trung hóa; sự phối hợp với các tổ chức và cá nhân nước
ngoài; trên cơ sở kết hợp liên kết, giám sát đan chéo của các cơ quan, doanh
nghiệp, đoàn thể xã hội, các cộng đồng dân cư và mọi người dân [28].
Luận văn thạc sĩ “Phát triển kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai” của
tác giả Đồng Thị Hạnh (2015), trên cơ sở khái quát những vấn đề lý luận
chung về kinh tế nông nghiệp và phát triển kinh tế nông nghiệp; tác giả đã
luận giải, làm rõ nội dung, vai trò phát triển kinh tế nông nghiệp cũng như các
nhân tố tác động đến phát triển kinh tế nông nghiệp. Đặc biệt, tác giả khái
quát tương đối rõ 5 bài học trên cơ sở kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của
một số nước có nền nông nghiệp phát triển như Thái Lan, Đài Loan, Hàn
Quốc. Trên cơ sở những vấn đề lý luận cơ bản như vậy, tác giả đã phân tích,
làm rõ thực trạng phát triển kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Đồng Nai; trong đó

cứu khác nhau (cả nước, vùng miền, địa phương hay lĩnh vực khác nhau),
song chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này tại thị xã Điện Bàn. Vì
vậy, việc nghiên cứu “Thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông
nghiệp trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam” là nội dung mới, có
tính thực tiễn cao đối với thị xã Điện Bàn, không trùng lặp với các công trình
khoa học đã công bố.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu

7


Làm rõ cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành
nông nghiệp và đánh giá thực trạng trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng
Nam, qua đó đề xuất phương phướng, giải pháp hoàn thiện và đẩy mạnh thực
hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp trên địa bàn thị xã Điện
Bàn, tỉnh Quảng Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận giải cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển kinh tế
ngành nông nghiệp;
- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành
nông nghiệp trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam;
- Đề xuất phương phướng, giải pháp hoàn thiện và đẩy mạnh thực hiện
chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp trên địa bàn thị xã Điện Bàn,
tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp tại thị xã
Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu

nghiệp trên địa bàn thị xã.
Lựa chọn đối tượng phỏng vấn: Chọn 120 cá nhân để phỏng vấn, thăm
dò đánh giá của họ về tình hình thực hiện các nội dung thực hiện chính sách
phát triển kinh tế ngành nông nghiệp trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng
Nam theo mẫu phỏng vấn chuẩn bị sẵn. Chia làm hai nhóm đối tượng điều tra,
nhóm 1 là các cán bộ thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp
trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, nhóm 2 là các cá nhân, tổ chức
tham gia sản xuất, kinh doanh lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn thị xã Điện
Bàn.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn góp phần luận giải, làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn
9


thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp trên địa bàn thị xã
Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong
nghiên cứu và giảng dạy chuyên ngành chính sách công. Đây là căn cứ khoa
học để thị xã Điện Bàn đề ra chủ trương, chính sách phù hợp nhằm đẩy mạnh
phát triển kinh tế nông nghiệp, góp phần phát triển KT-XH của tỉnh.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được kết cấu thành 3 chương chính như sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển kinh tế
ngành nông nghiệp
Chương 2. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành
nông nghiệp trên địa bàn thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
Chương 3. Phương hướng, giải pháp hoàn thiện và đẩy mạnh thực hiện
chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp trên địa bàn thị xã Điện Bàn,
tỉnh Quảng Nam

nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người và phát triển xã hội [20, tr.36].
11


Từ mấy vấn đề trên cho thấy, kinh tế ngành nông nghiệp là một ngành
kinh tế của nền kinh tế quốc dân; vì vậy có thể hiểu kinh tế ngành nông
nghiệp là lĩnh vực sản xuất vật chất gắn liền với các quá trình sinh học của
cây trồng, vật nuôi, bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp, không
chỉ đáp ứng nhu cầu thiết yếu về lương thực, thực phẩm của con người, mà
còn cung cấp nguyên liệu cho một số ngành sản xuất vật chất khác.
Việt Nam nói chung, tỉnh Bắc Ninh nói riêng đang trong quá trình phát
triển, mà điểm khởi nguồn là từ phát triển kinh tế ngành nông nghiệp. Do đó,
trong xu thế phát triển KT-XH, thì phát triển kinh tế ngành nông nghiệp có ý
nghĩa chiến lược cả về kinh tế, chính trị, xã hội và môi trường.
Đặc điểm của kinh tế nông nghiệp
Mặc dù cũng là ngành sản xuất vật chất, nhưng so với nhiều ngành sản
xuất vật chất khác trong nền kinh tế quốc dân, kinh tế ngành nông nghiệp có
những đặc điểm phản ánh tính đặc thù của ngành kinh tế này, đó là:
Thứ nhất, tài nguyên đất đai và tài nguyên nước là tư liệu sản xuất chủ
yếu, không thể thay thế. Đất đai tham gia vào mọi ngành sản xuất vật chất
trong xã hội như là một loại tư liệu sản xuất đặc biệt; đồng thời là một trong
bốn yếu tố cơ bản của qúa trình sản xuất. Khác với nhiều ngành khác, trong
sản xuất nông nghiệp, tài nguyên đất đai và tài nguyên nước là tư liệu sản
xuất chủ yếu, có vai trò quan trọng, không thể thay thế. Nếu không có tài
nguyên đất đai và tài nguyên nước, hoặc thiếu một trong hai tài nguyên này,
không thể trồng trọt, chăn nuôi; nghĩa là kinh tế ngành nông nghiệp không thể
phát triển, thậm chí không có kinh tế ngành nông nghiệp [30].
Thứ hai, đối tượng sản xuất của nông nghiệp là cây trồng, vật nuôi.
kinh tế ngành nông nghiệp mang tính đặc thù của một ngành mà đối tượng
sản xuất là sinh vật. Trong sinh học và sinh thái học, sinh vật là tên gọi chung

nông nghiệp phục vụ cho nhu cầu sống của con người [30].
Thứ tư, nông nghiệp và kinh tế ngành nông nghiệp là lĩnh vực đòi hỏi
đầu tư, rủi ro cao. Đặc điểm của nông nghiệp và kinh tế ngành nông nghiệp
13


nước ta nói chung, tỉnh Bắc Ninh nói riêng là gắn với địa bàn nông thôn, đời
sống nông dân; trong khi đó nông thôn là vùng rộng lớn, chiếm phần lớn diện
tích và khoảng 70% dân số của tỉnh, cả nước hiện có “25 triệu người làm
nông nghiệp”, người dân nông thôn vốn cần cù, chịu khó, nhưng cuộc sống
vẫn chịu nhiều thua thiệt. Do đó đòi hỏi phải phát triển kinh tế ngành nông
nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên, để phát triển kinh tế ngành nông nghiệp, đòi
hỏi phải bảo đảm đầy đủ nhiều yếu tố khác nhau; trong đó xây dựng kết cấu
hạ tầng KT-XH cho khu vực nông nghiệp, nông thôn là điều kiện thiết yếu,
cần thiết nhất và phải được tiến hành trước một bước. [30].
1.1.2. Phát triển kinh tế ngành nông nghiệp
Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất, là một bộ phận cấu thành
của nền kinh tế quốc dân.Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, con người
không chỉ tạo ra sản phẩm vật chất cho nhu cầu xã hội mà còn thực hiện sản
xuất và tái sản xuất ra những quan hệ xã hội của chính con người, những quan
hệ sản xuất. Những quan hệ này tạo thành cơ sở kinh tế cho toàn bộ các quan
hệ tư tưởng, tinh thần trong nông nghiệp nông thôn. Nói cách khác, quan hệ
sản xuất là các quan hệ kinh tế tạo nên cơ sở kinh tế cho sự phát triển nông
nghiệp trong mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản
xuất và với các quan hệ xã hội khác.
Quan niệm về phát triển kinh tế ngành tập trung làm rõ quá trình tăng
trưởng và tái cơ cấu một ngành, một lĩnh vực cụ thể qua đó đánh giá được quá
trình sự thay đổi trong ngành nghiên cứu.
Phát triển kinh tế ngành nông nghiệp được hiểu là một quá trình vận
động, biến đổi lâu dài của ngành nông nghiệp trong quá trình phát triển. Thực

trường. Đây là yếu tố thể hiện tính chất cơ bản của kinh tế ngành nông
nghiệp, đáp ứng yêu cầu cơ bản của nền kinh tế hàng hóa, kinh tế thị trường.
Ba là, sự trao đổi, mua bán sản phẩm nông nghiệp vừa thỏa mãn nhu
cầu tiêu dùng xã hội, vừa có lợi nhuận cho người sản xuất để tái sản xuất mở
rộng, hiện đại hóa nông nghiệp. Đây là nhân tố nói lên mục đích của kinh tế
15


ngành nông nghiệp.
Lịch sử phát triển KT-XH cho thấy, sự ra đời và phát triển kinh tế
ngành nông nghiệp là tất yếu, một bước phát triển tiến bộ của lịch sử nhân
loại; nấc thang phát triển mà mọi quốc gia, vùng lãnh thổ đều trải qua. Vì thế,
với quốc gia, vùng lãnh thổ chủ yếu dựa vào kinh tế ngành nông nghiệp, thì
phát triển kinh tế ngành nông nghiệp là nhiệm vụ quan trọng.
1.1.3. Chính sách và thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành
nông nghiệp
1.1.3.1. Chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp
Cụm từ “chính sách” khi gắn với vai trò, chức năng của “khu vực
công” được gọi là chính sách công. Đây không chỉ đơn giản là sự ghép từ
thuần túy, mà đã có sự thay đổi cơ bản về nghĩa, bởi nó có sự khác biệt về chủ
thể ban hành chính sách, về mục đích tác động của chính sách và vấn đề mà
chính sách hướng tới giải quyết. Cho đến hiện tại, có không ít định nghĩa khác
nhau về chính sách công, trong đó có một số định nghĩa khá phức tạp và bao
hàm tương đối rộng các chức năng và hoạt động.
Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan
nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải
quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu đã xác định của đảng chính trị cầm
quyền [51]
Bên cạnh việc nhìn nhận một cách toàn diện các khía cạnh của khái
niệm chính sách công từ nhiều góc độ, khái niệm “chính sách công” được

Thứ ba, trình độ phát triển kinh tế ngành nông nghiệp, trong đó Khoa học
và công nghệ nông nghiệp là yếu tố then chốt. Khoa học và công nghệ có vai trò
ngày càng quan trọng trong mọi lĩnh vực sản xuất và đời sống xã hội. Bản chất
của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xét về mặt trình độ phát triển lực lượng sản
xuất là sự thay đổi trình độ công nghệ của sản xuất theo hướng hiện đại. Trong
nông nghiệp, Khoa học và công nghệ giữ vai trò rất quan trọng, quyết định năng
suất, chất lượng, hiệu quả, tính cạnh tranh của hàng hóa nông sản.
17


Thứ tư, đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả
trong nông nghiệp. Trong lĩnh vực nông nghiệp, các hình thức tổ chức, sản
xuất, kinh doanh là biểu hiện của quan hệ sản xuất. Các quan hệ này trước hết
là mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng đối với các nguồn lực.
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực nông nghiệp. Để phát triển kinh tế
xã hội cũng như phát triển kinh tế ngành nông nghiệp, nguồn nhân lực là bộ
phận của nguồn lực phát triển kinh tế ngành nông nghiệp, đó là yếu tố đầu
vào không thể thiếu của quá trình tái sản suất nông nghiệp; mặt khác đó còn là
một bộ phận của dân số, được hưởng lợi từ sự phát triển kinh tế ngành nông
nghiệp. Phát triển kinh tế nói chung, kinh tế ngành nông nghiệp nói riêng, suy
đến cùng là tăng trưởng kinh tế để nâng cao đời sống cho người nông dân
cũng như cư dân nông thôn.
Thứ sáu, hệ thống cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với lĩnh
vực nông nghiệp. Mọi sự hoạt động của nền kinh tế đều có sự điều tiết của
nhà nước, song không phải nhà nước can thiệp trực tiếp vào quá trình sản xuất
kinh doanh của các đơn vị kinh tế.
1.1.3.2. Thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp
Tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế ngành nông nghiệp là
một khâu cấu thành chu trình chính sách phát triển kinh tế ngành nông
nghiệp, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status