PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) có vai trò to lớn trong việc phát triển
kinh tế xã hội của đất nước. Việc phát triển DNNVV cho phép khai thác và sử dụng
có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn vốn, công nghệ và thị trường;
tạo công ăn, việc làm cho người lao động; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế;
giảm bớt chênh lệch giàu nghèo; hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp lớn;
duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống....
Với một số lượng lớn, chiếm hơn 97% tổng số DN trên cả nước, các
DNNVV đã tạo công ăn việc làm cho người lao động, đóng góp đáng kể vào GDP
và kim ngạch xuất khẩu, đang khẳng định vai trò không thể thiếu của mình trong
quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Việt Nam nói chung và huyện Quảng Trạch - tỉnh Quảng Bình nói riêng, việc
phát triển các DNNVV là điều kiện tiền đề để khai thác tốt các tiềm năng, thế mạnh
của nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng hiện đại. Sự tồn tại và phát triển của loại hình doanh nghiệp này trong nền
kinh tế thị trường là tất yếu khách quan và là một trong những nhiệm vụ quan trọng
của Đảng, Nhà nước cũng như chính quyền địa phương các cấp.
Trong những năm gần đây, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách cho các
DNNVV trên nhiều mặt từ việc hỗ trợ tiếp cận các nguồn lực (đất đai, vốn, công
nghệ...), đến hỗ trợ phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm, mở rộng quan hệ với bạn
hàng, khách hàng... Nhờ đó, các DN này đã có bước phát triển mạnh cả về số lượng,
năng lực kinh doanh và khả năng cạnh tranh. Tuy nhiên, bản thân DN và sự hỗ trợ của
Nhà nước còn nhiều hạn chế, vì thế chưa phát huy hết tiềm năng đối với các DNNVV.
Đối với huyện Quảng Trạch, phần lớn các DN trên địa bàn là DNNVV.
Trong những năm qua, nhiều văn bản pháp lý quan trọng liên quan đến phát triển
DN luôn được Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ quan tâm ban hành, bổ
sung, sửa đổi cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế đất nước.
1
giai đoạn nghiên cứu bằng chỉ tiêu tốc độ phát triển định gốc và tốc độ phát triển
bình quân.
- Kiểm định ANOVA để kiểm định ý kiến đánh giá của các chuyên gia về
các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp.
3
6. Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
đề tài gồm 03 chương.
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiển về phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Chương 2. Thực trạng phát triển DNNVV trên địa bàn huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình.
Chương 3. Một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển DNNVV trên địa bàn
huyện Quảng Trạch - tỉnh Quảng Bình.
4
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1.1. Khái niệm và tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV)
1.1.1.1. Khái niệm DNNVV
Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường được hiểu là một tổ chức kinh tế có
tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký theo quy định của pháp
luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình.
Theo từ điển Bách khoa toàn thư: Doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh
nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt vốn, lao động hay doanh thu.
Singapore
Phân loại
Tất cả các ngành
Chế tác
Bán buôn
Bán lẻ
Dịch vụ
DN cực nhỏ
DN nhỏ
DN vừa
Sản xuất nhỏ
Sản xuất vừa
Bán buôn nhỏ
Bán buôn vừa
Bán lẻ nhỏ
Bán lẻ vừa
-
Số lao động
500
300
100
50
100
< 10
doanh nghiệp có ít hơn 50 lao động, tổng số vốn và doanh thu ít hơn 1 tỷ đồng; doanh
nghiệp vừa là doanh nghiệp có số lao động thường xuyên từ 51 đến 200 người, tổng số
vốn và doanh thu từ 1 tỷ đến 5 tỷ đồng.
Hiện nay, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ, quy
định DNNVV ở nước ta gồm: Doanh nghiệp Nhà nước; Doanh nghiệp ngoài Nhà
nước: Hợp tác xã; Doanh nghiệp tư nhân; Công ty hợp danh; Công ty trách nhiệm hữu
6
hạn tư nhân; Công ty cổ phần không có vốn nhà nước; Công ty cổ phần có vốn nhà
nước dưới hoặc bằng 50%; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Tiêu chí DNNVV được xác định như sau:
Bảng 1.2: Tiêu chí phân loại DNNVV ở Việt Nam
Quy mô
DN siêu
nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ
Lĩnh vực
Số lao
động
(người)
Tổng
nguồn
vốn (tỷ
> 200 - 300
II. CN và xây dựng
< 10
≤20
10-200
> 20 – 100
> 200 - 300
III. Thương mại và
dịch vụ
< 10
≤ 10
10 – 50
> 10 – 50
> 50 - 100
Nguồn: Tổng hợp từ Nghị định số 56/2009/NĐ-CP
Theo cách phân loại này, số lượng DNNVV chiếm 97% tổng số doanh nghiệp
hiện có tại Việt Nam. Trung bình mỗi năm DNNVV đã tạo thêm khoảng nửa triệu lao
doanh nghiệp lớn. Sự phát triển có hiệu quả, nguồn vốn quay vòng nhanh trong các
DNNVV góp phần nâng cao tích luỹ tài sản trong nước.
DN tạo ra khối lượng hàng hoá và dịch vụ lớn hơn, phong phú hơn, chất lượng
tốt hơn, thay thế được nhiều mặt hàng phải nhập khẩu, góp phần quan trọng cải thiện
và nâng cao mức tiêu dùng trong nước và tăng xuất khẩu, đó cũng là yếu tố giữ cho
nền kinh tế ổn định và phát triển. Vì vậy, các DN này góp phần quan trọng vào sự gia
tăng thu nhập quốc dân của các nước trên thế giới, bình quân chiếm khoảng 50% GDP
ở mỗi nước. Riêng ở Việt Nam, trong những năm qua, mỗi năm các DNNVV đóng
góp khoảng 25% GDP của cả nước.
1.1.3.2. Gia tăng tính năng động của nền kinh tế
DNNVV là nhân tố tạo nên sự năng động của nền kinh tế trong cơ chế thị
trường. Do số lượng các DNNVV tăng lên rất nhanh, làm gia tăng số lượng, chủng loại
hàng hoá, dịch vụ và làm tăng tính cạnh tranh trong nền kinh tế. Chính sự cạnh tranh
của DN trong việc tìm kiếm thị trường, mẫu mã sản phẩm, giá cả hàng hóa… mà nền
kinh tế ngày càng trở nên năng động.
Với quy mô nhỏ và vừa, được thành lập phân tán ở hầu khắp các địa phương,
các , DNNVV có khả năng tận dụng các tiềm năng về lao động, nguyên vật liệu sẵn có
tại địa phương, sử dụng sản phẩm phụ hoặc phế liệu, phế phẩm của DN lớn. Lợi thế
của quy mô nhỏ là năng động, linh hoạt, sáng tạo trong kinh doanh với nhiều hình
thức, có nhiều khả năng thay đổi mặt hàng, chuyển hướng sản xuất, đổi mới công
nghệ, sự kết hợp chuyên môn hoá và đa dạng hoá mềm dẻo, đáp ứng kịp thời những
đòi hỏi của nền kinh tế thị trường. Nên DNNVV đã và đang là lực lượng chủ yếu đảm
bảo lưu thông hàng hoá trong xã hội và có vai trò quan trọng trong việc góp phần làm
tăng tính năng động của nền kinh tế.
Phân bố rộng, yêu cầu vốn ban đầu không nhiều, nên các DNNVV rất linh hoạt
9
trong việc thu hút nguồn vốn nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư…Chính vì vậy,
DNNVV được coi là phương tiện có hiệu quả và linh hoạt trong việc huy động, sử
10
đến mức có thể tồn tại được vì cầu của thị trường thấp hơn cung, nhưng đối với
DNNVV, do đặc tính linh hoạt, uyển chuyển dễ thích ứng với thay đổi của thị trường
nên vẫn có thể hoạt động được. Do đó, các DNNVV không những không giảm lao
động mà còn có thể thu hút thêm lao động. Chính vì vậy, Hội đồng DNNVV thế giới
đã cho rằng: "DNNVV là liều thuốc cuối cùng chữa trị bệnh thất nghiệp khi nền kinh
tế suy thoái".
1.1.3.5. DNNVV cung cấp hàng hóa trong nước và cho xuất khẩu
Đối với các nước phát triển, hệ thống siêu thị cung ứng các loại hàng hóa phong
phú, đa dạng nhưng cũng không thể thay thế được các cửa hàng bán lẻ. Với sự đa dạng
về ngành nghề, tính nhạy cảm với thị trường, các DNNVV có nhiều thuận lợi trong sản
xuất và cung cấp dịch vụ, đáp ứng sản phẩm cho nhu cầu tiêu dùng của xã hội.
Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế, các DNNVV có nhiều khả năng
sản xuất và cung cấp nhiều sản phẩm xuất khẩu, nhất là các sản phẩm thủ công mỹ
nghệ, sử dụng nhiều lao động. Ở Việt Nam,với những điều kiện thuận lợi về nguồn
nguyên liệu của các loại nông-lâm-hải sản để sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Ngoài ra
còn phải kể đến các ngành nghề thủ công truyền thống với những mặt bằng phong phú,
đa dạng tạo ra khả năng to lớn cho DNNVV tham gia sản xuất, gia công chế biến, đại
lý khai thác cho xuất khẩu, tính riêng lĩnh vực công nghiệp hàng năm của DNNVV tạo
ra hơn 50% giá trị của địa phương và đóng góp 24% GDP.
1.1.3.6. Đào tạo các doanh nhân cho nền kinh tế
Sự xuất hiện và khả năng phát triển DN phụ thuộc rất nhiều vào những nhà
sáng lập ra chúng. Với ưu thế của mình, DNNVV dễ và thường xuyên phải thay đổi cơ
cấu sản phẩm, thị trường, chiến lược kinh doanh... Để thích nghi với môi trường xung
quanh; ứng xử linh hoạt với những tác động do sự phát triển, xu hướng tích tụ và tập
trung hoá sản xuất; sự sáp nhập, giải thể và xuất hiện mới các DN thường xuyên diễn
ra trong mọi giai đoạn. Đó là sức ép lớn buộc chủ DN phải có tính linh hoạt cao trong
quản lý, điều hành, dám nghĩ, dám làm và chấp nhận sự mạo hiểm. Sự có mặt của đội
Sự tồn tại, phát triển của DN là một yếu tố quan trọng đối với nền kinh tế quốc
dân nói chung và chủ doanh nghiệp nói riêng. Trong hoạt động SXKD, DN chịu tác
động rất nhiều yếu tố có mức độ và bối cảnh khác nhau do đặc điểm về sản phẩm, thị
trường, vị trí, quy mô hoạt động… của DN. Vấn đề đặt ra là các DN phải xác định rõ
các yếu tố ảnh hưởng tích cực và tiêu cực; từ đó vận dụng tốt các nhân tố tích cực, hạn
chế và loại bỏ các nhân tố tiêu cực nhằm thúc đẩy hoạt động SXKD của doanh nghiệp
ngày càng phát triển.
Có thể chia các nhân tố ảnh hưởng thành hai nhóm chính: Nhóm nhân tố bên
ngoài và nhóm nhân tố bên trong DN.
12
1.2.3.1. Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
Trong quá trình hoạt động SXKD, doanh nghiệp luôn chịu sự tác động thường
xuyên từ các yếu tố bên ngoài DN; các nhân tố này có thể tác động trực tiếp hoặc gián
tiếp đến kết quả hoạt động SXKD của DN, cụ thể:
1.2.3.1.1. Nhân tố môi trư ờ ng kinh tế
Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động SXKD của DN; các yếu tố
nổi bật mà các DN thường quan tâm đó là:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế: Khi tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) tăng cao
hơn so với cùng kỳ, tức là thu nhập bình quân đầu người tăng, sức mua trên thị trường
tăng hay nói cách khác “cầu” lớn hơn “cung”; do đó áp lực cạnh tranh của doanh
nghiệp trên thị trường giảm. Khi kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, tốc độ tăng
trưởng kinh tế giảm, sức mua trên thị trường giảm sút; trong bối cảnh này hàng tồn
kho cao tức là “cung” lớn hơn “cầu”, dẫn đến DN cạnh tranh mạnh hơn, hoạt động khó
khăn hơn.
- Lãi suất: Là một yếu tố thuộc chính sách tài chính tiền tệ, lãi suất cao hay thấp
ảnh hưởng trực tiếp đến kinh doanh và nhu cầu thị trường. Lãi suất cao làm chi phí
động.
DN khi hoạt động đều phải tuân thủ pháp luật, đây là hành lang, môi trường
pháp lý cho DN hoạt động; đồng thời là trọng tài khi cần thiết để phân xử các tranh
chấp phát sinh trong quan hệ hợp đồng kinh tế giữa các chủ thể - doanh nghiệp. Môi
trường pháp lý quy định hành vi ứng xử của DN trong môi trường đó; DN có thể hoặc
không thể tận dụng những quy định này để nâng cao hiệu quả hoạt động của DN. Hoạt
động SXKD của DN còn phụ thuộc vào nhiều chính sách ưu tiên hay hạn chế đầu tư
và thu hút vốn đầu tư nước ngoài của Chính phủ.
1.2.3.1.3. Đố i thủ cạ nh tranh
Các đối thủ cạnh tranh luôn là nhân tố không thể thiếu trong nền kinh tế thị
trường. Đối thủ cạnh tranh vừa là trở lực, vừa là động lực để DN không ngừng nâng
cao hiệu quả SXKD. Vì thế, để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, các DN phải
luôn cải tiến quy trình công nghệ, đổi mới phương thức quản lý nhằm tiết kiệm chi phí,
hạ giá thành sản phẩm. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các DN
không chỉ biết cạnh tranh với nhau, mà còn phải biết liên kết, liên doanh để nâng cao
khả năng cạnh tranh của DN trong nước đối với DN nước ngoài, nhất là các DN cùng
ngành, cùng lĩnh vực SXKD.
1.2.3.1.4. Thị trư ờ ng
Thị trường đối với DN bao gồm thị trường đầu vào và thị trường đầu ra.
- Thị trường đầu vào cung cấp các yếu tố cho hoạt động SXKD của doanh
nghiệp như thị trường máy móc, thiết bị, thị trường nguyên, nhiên vật liệu, thị trường
lao động, thị trường vốn… Thị trường đầu vào chính là các nguồn lực mà DN phải tính
14
toán, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả; vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí và tính liên
tục của quá trình SXKD, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động chung của toàn
DN.
bãi… của DN.
15
1.2.3.1.7. Môi trư ờ ng quố c tế
Hiện nay, các quốc gia, vùng lãnh thổ đều có xu hướng hợp tác cùng phát triển
theo hướng cùng có lợi, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, chính trị. Năm 2006, Việt Nam
chính thức là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã mở ra nhiều cơ
hội cho các DN Việt Nam. Bên cạnh đó, hội nhập quốc tế cũng đặt ra hai vấn đề thách
thức lớn cho doanh nghiệp Việt Nam: một là, sản phẩm muốn thâm nhập thị trường
quốc tế (đặc biệt là thị trường Mỹ và EU) phải tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn về
chất lượng, độ an toàn, thân thiện với môi trường…, hai là, phải đối mặt cạnh tranh
ngay trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài đã và sẽ thâm nhập thị trường Việt
Nam. Các DN hàng đầu (thường là các tập đoàn kinh tế) từ Trung Quốc, Hàn Quốc,
Nhật Bản, Mỹ, Anh, Pháp… có bề dày kinh nghiệm, có thương hiệu mạnh trong nhiều
lĩnh vực sẽ chiếm lĩnh thị trường, đặc biệt là ở các khu đô thị, khu kinh tế, khu công
nghiệp… Trong khi đó DN Việt Nam còn rất yếu về chiến lược, công nghệ, nhân lực
và nguồn vốn; đồng thời thiếu kinh nghiệm trên thương trường quốc tế. Đặc biệt là
kinh nghiệm xử lý các cơ hội cũng như nguy cơ mang tính toàn cầu, khả năng chịu
đựng các va đập, rủi ro trong kinh doanh thấp, chưa thực sự am hiểu các thông lệ, luật
pháp kinh doanh quốc tế...
1.2.3.2. Các nhân tố bên trong doanh nghiệp
1.2.3.2.1. Vố n kinh doanh
Vốn kinh doanh của DN được thể hiện bằng tiền của, tài sản của DN dùng trong
hoạt động SXKD. Vốn là một nhân tố cơ bản không thể thiếu được của quá trình SXKD.
Nhờ có vốn mới kết hợp được lao động với những tiềm năng kinh tế thực hiện để tạo ra
quá trình sản xuất kinh doanh. Vốn kinh doanh có tầm ảnh hưởng đặc biệt đối với DN,
là điều kiện quan trọng cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của DN; là cơ sở để hoạch
ngoài nước là hết sức cần thiết; giúp cho DN chủ động trong mọi tình huống, nắm bắt
thời cơ, hạn chế rủi ro trong hoạt động SXKD.
Việc nắm bắt, xử lý tốt thông tin thị trường như: giá cả, lãi suất, nguồn hàng,
nhu cầu thị trường, đối thủ cạnh tranh, nguồn lao động, công nghệ… giúp cho DN xây
dựng kế hoạch trung và dài hạn về mua sắm, cung cấp, dự trữ nguyên, nhiên vật liệu,
hàng hóa, vốn, phương tiện kỹ thuật và nhân lực để chọn phương án kinh doanh tối ưu
nhất.
1.2.3.2.5. Công tác tổ chứ c, quả n lý
Trong bất cứ hoạt động nào đều phải có bộ phận tổ chức và quản lý; do vậy, bộ
máy tổ chức, quản lý hiệu quả là yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công của một tổ
chức nói chung và DN nói riêng. Bộ máy tổ chức, quản lý đảm bảo cho mọi hoạt động
của DN hoạt động thống nhất từ trên xuống dưới, đi đúng quỹ đạo của sứ mạng, mục
tiêu của DN. Vì vậy, xây dựng bộ máy tổ chức, quản lý có hiệu quả là một đòi hỏi tất
yếu.
Tổ chức sản xuất trong DN là sự phối kết hợp chặt chẽ giữa sức lao động và tư
liệu sản xuất, phù hợp với yêu cầu công nghệ, quy mô sản xuất nhằm tạo ra sản phẩm
17
đạt hiệu quả cao nhất. Tổ chức sản xuất hợp lý sẽ tiết kiệm chi phí đầu vào, tăng sản
lượng và chất lượng đầu ra, nâng cao kết quả hoạt động SXKD của DN.
Tổ chức phân công lao động có ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động; bố
trí đúng người, đúng việc, đúng lúc sẽ thúc đẩy và phát huy hiệu quả nhân tố con
người, tạo động lực cho mỗi cá nhân sáng tạo, phát triển góp phần nâng cao hiệu quả
chung của DN.
1.2.3.2.6. Mạ ng lư ớ i kinh doanh
Trong cơ chế thị trường, việc mở rộng mạng lưới kinh doanh có ý nghĩa lớn đối
với hoạt động SXKD của DN; mạng lưới kinh doanh quyết định khả năng tiêu thụ sản
(2)
y1
+ Tốc độ phát triển bình quân: Là chỉ tiêu biểu hiện mức độ chung nhất sự biến
động về mặt tỉ lệ của hiện tượng trong suốt thời kỳ nghiên cứu.
Tốc độ phát triển bình quân (%, lần) =
n 1
yn
y1
(3)
1.3. KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA MỘT SỐ
HUYỆN Ở CÁC TỈNH VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
1.3.1. Kinh nghiệm phát triển DNNVV trên địa bàn huyện Yên Dũng, Bắc Giang
Nhận thức rõ vị trí, vai trò của DNNVV, BCH Đảng bộ huyện khóa 21 đã ban
hành Nghị quyết về 5 nhiệm vụ trọng tâm về phát triển kinh tế xã hội của huyện, trong
đó thu hút đầu tư, phát triển CN-TTCN được xác định là nhiệm quan trọng. Trong thời
gian qua, Huyện ủy, UBND huyện đã ban hành Kế hoạch cải thiện môi trường đầu tư,
kinh doanh trên địa bàn huyện Yên Dũng giai đoạn 2016-2020; triển khai có hiệu quả
các chính sách của nhà nước trong việc phát triển CN-TTCN- Thương mại và dịch vụ;
Phối kết hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp trong công tác giải phóng mặt bàng, tập
trung cải cách thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các doanh
nghiệp thuê đất, xây dựng cơ sở hạ tầng… để các doanh nghiệp trên địa bàn huyện
phát triển sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó cũng quan tâm, tạp điều kiện hỗ trợ cho
hoạt động của Hội doanh nghiệp nhỏ và vừa huyện.
Huyện đã Quy hoạch đất phát triển CN-TTCN và Thương mại dịch vụ với tổng
công nghiệp chế biến chè, vật liệu xây dựng dồi dào, nhân công lao động tại chỗ sẵn
có..., huyện Thanh Ba đã vận dụng linh hoạt các cơ chế chính sách của Đảng, Nhà
nước để đẩy mạnh thu hút đầu tư, quy hoạch xây dựng cụm công nghiệp làng nghề,
khuyến khích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Do đó số lượng các doanh
nghiệp trong huyện vài năm trở lại đây đã tăng lên đáng kể. Toàn huyện hiện có trên
100 doanh nghiệp, trong đó có 3 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, 3 doanh
nghiệp Trung ương đóng trên địa bàn, còn lại là các doanh nghiệp cổ phần, công ty
TNHH, doanh nghiệp tư nhân...
Các doanh nghiệp đã góp phần nâng tổng giá trị sản xuất CN-TTCN năm 2014
của toàn huyện đạt 1.446 tỷ đồng vượt 15% kế hoạch năm, tăng 8% so với năm 2013.
Năm 2015 huyện phấn đấu nâng giá trị sản xuất CN-TTCN đạt hơn 1.504 tỷ đồng,
trong đó các doanh nghiệp sẽ đóng góp gần 50%. Tuy nhiên những tháng đầu năm
nay, thị trường trong nước và thế giới có nhiều biến động, cùng sự cạnh tranh của các
mặt hàng sản phẩm trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đã khiến không ít doanh
nghiệp trên địa bàn gặp nhiều khó khăn, sản phẩm làm ra tiêu thụ chậm, nhất là các
doanh nghiệp trong ngành sản xuất chế biến chè, sản xuất vật liệu xây dựng... trong
20
khi việc huy động vốn để đầu tư phát triển của các doanh nghiệp hạn chế, chưa đáp
ứng được nhu cầu sản xuất. Tại Công ty TNHH chè Đại Đồng - một trong những
doanh nghiệp sản xuất chè lớn trên địa bàn, đại diện công ty cho biết: “Hiện công ty
không chỉ khó khăn về đầu ra của sản phẩm, vốn quay vòng phục vụ sản xuất mà ngay
cả đầu vào cũng khó khăn do thời tiết đầu năm khô hạn kéo dài làm cho năng suất, sản
lượng chè búp tươi sụt giảm so với mọi năm”. Ngành chè vốn là một trong những
ngành sản xuất thế mạnh của Thanh Ba, vì vậy ở đây có nhiều doanh nghiệp sản xuất
chè lớn có tên tuổi như: Công ty chè Hoài Trung, Công ty chè Đại Đồng, Công ty chè
Hưng Hà... Bên cạnh ngành chè, ngành dệt may cũng là ngành nghề có ưu thế, thu hút
lực lượng lớn lao động địa phương và các vùng lân cận, nhiều doanh nghiệp đã tăng
quy mô mở rộng sản xuất như: Công ty CP may Hoàng Anh, Công ty CP may Phú
nghiệp phát triển sản xuất theo hướng bền vững, tạo đà cho công nghiệp địa phương
phát triển[6].
1.3.3. Kinh nghiệm phát triển DNNVV trên địa bàn huyện Hoài Đức, Hà
Nội
Huyện Hoài Đức, Hà Nội hiện có gần 3.000 Doanh nghiệp đầu tư hoạt động và
hơn 10.000 hộ sản xuất kinh doanh, sự phát triển của các doanh nghiệp và hộ sản xuất
kinh doanh đang góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế chung của huyện
và Thành phố. Trong những năm qua với nỗ lực của cấp ủy, chính quyền địa phương
và tâm huyết của Tổ chức Thanh niên với sứ Mệnh Youth With A Mission (goi tắt là
YWAM), triển khai thực hiện dự án phát triển nông nghiệp nông thôn, bảo vệ môi
trường, đặc biệt triển khai thực hiện dự án Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa
bàn huyện Hoài Đức đã tạo điều kiện để các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các hộ sản xuất
kinh doanh phát triển bền vững, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân, góp phần
tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện theo hướng tăng tỷ trọng công
nghiệp, dịch vụ, thương mại, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp. Ông Đỗ Đức Trung –
Phó Chủ tịch UBND huyện Hoài Đức cho biết: "Thực hiện chỉ đạo của chính phủ về
tháo gỡ các khó khăn cho doanh nghiệp, ngoài việc tạo điều kiện về hạ tầng kinh tế xã
hội, Huyện đã hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tiếp cận những kiến thức về quản trị và
điều hành doanh nghiệp cũng như việc tổ chức và đảm bảo hoạt động sản xuất ra
những sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của thị trường đủ sức cạnh tranh trên thị
trường cũng như bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm, đồng thời tạo điều kiện giúp
doanh nghiệp giải quyết lao động và các vấn đề an sinh xã hội"[7].
1.3.4. Bài học kinh nghiệm phát triển DNNVV cho huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình
Qua phân tích, tìm hiểu kinh nghiệm phát triển DNNVV ở một số huyện của
các tỉnh ta thấy đều quan tâm đến việc phát triển DNNVV. Nhưng, mỗi quốc gia, mỗi
22
tỉnh, mỗi huyện có chương trình, chính sách hỗ trợ DNNVV khác nhau; song qua
nghiên cứu chính sách các huyện trên, có thể rút ra một số kinh nghiệm cho huyện
23
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN QUẢNG TRẠCH - TỈNH QUẢNG BÌNH
2.1. ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI HUYỆN QUẢNG
TRẠCH - TỈNH QUẢNG BÌNH
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý và địa hình
Huyện Quảng Trạch nằm về phía Bắc tỉnh Quảng Bình, trên toạ độ địa lý: Từ
1060 15É đến 1060 59É độ kinh Đông; Từ 170 42É đến 170 59É độ vĩ Bắc. Phía Bắc tiếp
giáp với tỉnh Hà Tĩnh qua Đèo Ngang, phía Tây giáp huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng
Bình, phía Nam giáp thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, phía Đông là biển với chiều dài
bờ biển 24,4 Km, dọc theo các xã Quảng Đông, Quảng Phú, Cảnh Dương, Quảng
Hưng, Quảng Xuân.
Nằm trong Bắc Trung Bộ, trung điểm cách thành phố Đồng Hới 45 km, cách
Hà Nội 500 km, cách thành phố Đà Nẵng 300 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.200
km. Diện tích tự nhiên: 447,88 Km2, Dân số năm 2016 là: 106.472 người, mật độ dân
số: 238 người/Km2
Địa hình huyện Quảng Trạch khá đa dạng, bao gồm đồng bằng, đồi núi cùng
với vùng biển rộng. Phía Tây và phía Bắc là đồi núi của dãy Trường Sơn lan sát ra
biển; ở giữa là đồng bằng nhưng bị chia cắt bởi các con sông và cồn cát nội địa, tạo ra
những diện tích đất nông nghiệp tập trung lớn nhất khoảng 1.500 ha; phía Đông là
biển, ven biển có các cồn cát kéo dài, địa hình nghiêng theo hướng Tây Bắc - Đông
Nam. Do địa hình dốc và quá trình xâm thực mạnh, nhiều dãy núi so le nhau, có nhiều
sông suối và hai con sông lớn là Sông Roòn và Sông Gianh.
Ngoài ra các tuyến đường giao thông chạy qua huyện có: Quốc lộ 1A; Quốc lộ
12A qua các huyện Tuyên Hoá, Minh Hoá đến cửa khẩu Cha Lo nối với nước bạn Lào
và các nước dọc tuyến hành lang Đông - Tây trong tiểu vùng Mê Công mở rộng
hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp hàng năm.
2.1.2. Đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội
2.1.2.1. Tình hình dân số và lao động
Tình hình dân số và lao động thể hiện qua số liệu ở bảng 1, với 18 xã, Quảng
Trạch có dân số bình quân năm 2016 là 106.472 người, với tỷ lệ phát triển tự nhiên
dân số là 12,29%0, giảm 0,18 điểm phần nghìn so với năm 2014.
Lực lượng lao động làm việc trong các ngành kinh tế ngày càng tăng đến năm
2016 tăng lên 60.660 người, chiếm 56,97% dân số toàn huyện. Đây là tiềm năng và là
nguồn lực quan trọng cho việc thực hiện công nghiệp hoá nông thôn Quảng Trạch.
25