BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN GÂY RA
Ngành:
LUẬT KINH TẾ
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Lê Thị Minh Thư
Sinh viên thực hiện
MSSV: 1511270992
: Nguyễn Đình Gia
Lớp: 15DLK10
TP. Hồ Chí Minh, 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG
THIỆT HẠI DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN GÂY RA
Ngành:
Nguyễn Đình Gia
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: Nguyễn Đình Gia
MSSV:1511270992
Tôi xin cam đoan các số liệu, thông tin sử dụng trong bài Khoá luận tốt nghiệp
này được thu thập từ nguồn tài liệu khoa học chuyên ngành (có trích dẫn đầy đủ và
theo đúng qui định);
Nội dung trong khoá luận KHÔNG SAO CHÉP từ các nguồn tài liệu khác.
Nếu sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm theo qui định của nhà trường và
pháp luật.
Sinh viên
(ký tên, ghi đầy đủ họ tên)
Nguyễn Đình Gia
DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
STT
1
2
3
4
5
6
1.1.2 Năng lực chủ thể của người chưa thành niên ....................................................8
1.2 Khái quát về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ....................9
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng .........10
1.2.2 Căn cứ phát sinh và các trường hợp không phải chịu trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng ...........................................................................................12
1.2.3 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.............................................18
1.3 Quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa
thành niên gây ra .....................................................................................................21
1.3.1 Điều kiện phát sinh và năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
người chưa thành niên gây ra ...................................................................................21
1.3.2 Xác định thiệt hại, mức bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra
...................................................................................................................................25
1.3.3 Các trường hợp giảm mức bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây
ra ...............................................................................................................................33
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VÀ KIẾN NGHỊ
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN GÂY RA .............................................35
2.1 Thực trạng áp dụng pháp luật về bồi thường thiệt hại do người chưa thành
niên gây ra ................................................................................................................35
2.1.1 Bất cập về việc xác định độ tuổi, xác định tài sản, xác định chủ thể chịu trách
nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra ..................................35
2.1.2 Bất cập về việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cha mẹ đối với
thiệt hại do con chưa thành niên gây ra ...................................................................41
2.1.3 Bất cập về xác định mức bồi thường thiệt hại, về nguyên tắc bồi thường thiệt
hại, về xác định thiệt hại ...........................................................................................46
2.2 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
người chưa thành niên gây ra ................................................................................52
2.2.1 Kiến nghị về việc xác định độ tuổi, xác định tài sản của người chưa thành niên
xét xử đối với các vụ án hình sự nói chung và các vụ án hình sự do người chưa thành
niên thực hiện nói riêng, ngoài xét xử tại trụ sở Tòa án, các Tòa án địa phương cũng
tăng cường công tác xét xử lưu động các vụ án điểm do người chưa thành niên thực
hiện, nhằm tăng cường công tác giáo dục, phổ biến pháp luật, góp phần phòng ngừa
tình trạng thanh, thiếu niên phạm tội. Cụ thể từ năm 2016 đến tháng 6/2019, toàn Hệ
thống Tòa án thụ lý 8.129 vụ với 10.923 bị cáo là người dưới 18 tuổi (năm 2016 là
2653 vụ với 3494 bị cáo; 2017 là 2119 vụ với 2688 bị cáo; 2018 là 2265 vụ với 3176
bị cáo và 06 tháng đầu năm 2019 là 1092 vụ với 1565 bị cáo). Đã xét xử được 7014
vụ với 9188 bị cáo (năm 2016, 2424 vụ với 3169 bị cáo; năm 2017, 1878 vụ với 2374
bị cáo; 2018, 1800 vụ với 2483 bị cáo và 06 tháng đầu năm 2019 là 912 vụ với 1262
bị cáo). Trong số các bị cáo bị đưa ra xét xử, có độ tuổi từ 14 đến dưới 16 tuổi là 284
chiếm 3% còn lại là ở độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi chiếm 97%, về giới tính có
186 bị cáo là nữ giới còn lại là nam giới. Như vậy, số lượng các vụ án do người dưới
1
18 tuổi thực hiện trong ban năm được đưa ra xét xử chỉ chiếm 51% (7037 vụ/13.794
vụ) số bị cáo chỉ chiếm 46% tổng số người dưới 18 tuổi phạm tội (9358 bị cáo/20.367
đối tượng phạm tội)1. Ngoài chịu trách nhiệm hình sự thì song song đó người chưa
thành niên vẫn còn phải chịu trách nhiệm dân sự phát sinh khi có TNBTTH.
Nếu áp dụng theo quy định của BLDS năm 2015 thì người chưa thành niên
thực hiện hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác sẽ chịu TNBTTH ngoài
hợp đồng theo quy định của BLDS năm 2015, do đó cũng là vấn đề phức tạp về lý
luận lẫn thực tiễn áp dụng. Ngoài ra, do tính chất đặc biệt của người thực hiện hành
vi gây thiệt hại cho người khác là người chưa thành niên nên trách nhiệm này mang
những điểm đặc thù và khiến nó thêm phức tạp. Đối với trường hợp này, người gây
thiệt hại là một chủ thể khác và chủ thể chịu TNBTTH được chuyển giao cho một
chủ thể khác. Theo như quy định của BLDS năm 2015 phần nào đáp ứng được yêu
cầu giải quyết tranh chấp phát sinh trên thực tiễn. Tuy nhiên, qua thực tiễn giải quyết
tranh chấp các vụ việc về TNBTTH do người chưa thành niên gây ra cho thấy, một
thành niên gây ra theo quy định của BLDS năm 2015.
Đối tượng nghiên cứu đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu những quy định của
pháp luật về TNBTTH do người chưa thành niên gây ra; thực trạng giải quyết các
vấn đề này tại Tòa án. Từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần cải thiện một
số quy định của pháp luật so cho phù hợp với tình hình thực tế.
4. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Việc nghiên cứu vấn đề về TNBTTH nói chung và trách nhiệm bồi thường
thiệt do người chưa thành niên gây ra nói riêng đã được nhiều nhà khoa học pháp lý
quan tâm, thực hiện dưới nhiều góc độ pháp lý khác nhau.
Trên thực tế, hiện có một số khóa luận cử nhân luật, luận văn thạc sĩ luật học,
sách và một số bài viết được đăng trên các tập chí có liên quan đến vấn đề này như:
Đặng Ngọc Cả (2006), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
do người chưa thành niên gây ra, khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật thì tác giả đã
trình bày lý luận chung về TNBTTH ngoài hợp đồng, thực trạng pháp luật và áp dụng
pháp luật về TNBTTH do người chưa thành niên gây ra và đưa ra một số kiến nghị
nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Vũ Ngọc Chuẩn (2011), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa
thành niên gây ra thep pháp luật Việt Nam, luận văn thạc sĩ luật học thì tác giả đã
trình bày cơ sở lý luận về TNBTTH do người chưa thành niên gây ra, pháp luật hiện
hành về TNBTTH do người chưa thành niên gây ra, thực tiễn áp dụng và hướng hoàn
thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề BTTH do người chưa thành niên gây ra.
Nguyễn Trung Tín (2014), Trách nhiệm bồi thường của cha mẹ đối với
thiệt hại do con chưa thành niên gây ra, luận văn thạc sĩ luật học thì tác giả đã trình
bày lý luận chung về trách nhiệm bồi thường của cha mẹ đối với thiệt hại do con chưa
3
thành niên gây ra, thực tiễn giải quyết tranh chấp tại tòa án và một số kiến nghị về
trách nhiệm bồi thường của cha mẹ đối với thiệt hại do con chưa thành niên gây ra.
Có một số bài viết liên quan đến đề tài đã được đăng trên một số tạp chí như:
Để làm rõ vấn đề được đặt ra, một số phương pháp được áp dụng để nghiên
cứu đề tài là:
Phương pháp phân tích được sử dụng để tìm hiểu các quy định của pháp luật
Việt Nam hiện hành về TNBTTH do người chưa thành niên gây ra; phương pháp so
sánh được sử dụng để đối chiếu các quy định về TNBTTH do người chưa thành niên
gây ra giữa BLDS 2005 với BLDS 2015; phương pháp chứng minh đó là đưa ra các
dẫn chứng cụ thể từ những bản án liên quan đến đề tài mà tác giả nghiên cứu; phương
pháp tổng hợp thống kê tài liệu như những nguồn tài liệu tra cứu, thu thập được từ
các bài tạp chí chuyên ngành, sách chuyên khảo.
6. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì bài khóa
luận tốt nghiệp gồm có hai chương. Cụ thể:
Chương 1: Khái quát về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành
niên gây ra.
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra.
5
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT
HẠI DO NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN GÂY RA
1.1 Khái quát về người chưa thành niên
1.1.1 Khái niệm về người chưa thành niên
Trong đời sống hằng ngày, “trẻ em”, “người chưa thành niên” là một thuật ngữ
khá gần gủi với mọi người. Những thuật ngữ này rất dễ nhầm lẫn với nhau vì đều chỉ
chung một đối tượng. Người chưa thành niên và trẻ em đều là người chưa phát triển
đầy đủ về thể chất, tâm sinh lí, còn nhiều hạn chế về thể chất cũng như tinh thần và
rất dễ bị tổn thương. Họ còn chưa phát triển toàn diện cả về thể chất cũng như nhận
thức. Sự phát triển không cân bằng của hệ tim mạch, tuyến nội tiết cũng như các bộ
là CRC) thông qua ngày 20/11/1989 và được Việt Nam phê chuẫn ngày 20/2/1990 tại
Điều 1 có ghi: “Trong phạm vi của công ước này, trẻ em có nghĩa vụ là bất kỳ người
nào dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật có thể được áp dụng với trẻ em đó quy
định tuổi thành niên sớm hơn”. Cho thấy CRC xác định trẻ em là người dưới 18 tuổi
và cũng như các văn bản pháp luật quốc tế khác, CRC cho phép các quốc gia, tùy vào
chính sách pháp luật của mình mà quy định mức tuổi cụ thể trong luật. Dưới góc độ
pháp luật quốc tế, ta có thể nhìn thấy các văn bản pháp luật quốc tế, các văn bản
hướng dẫn của các tổ chức quốc tế và các chương trình Liên Hợp Quốc về vấn đề quy
định về độ tuổi “người chưa thành niên” và “trẻ em” là đồng nhất, cùng một giới hạn
dưới 18 tuổi.
Trong hệ thống pháp luật Việt nam, hiện không có sự thống nhất tương tự
như các thuật ngữ của pháp luật quốc tế, “trẻ em” và “người chưa thành niên” luôn
được hiểu khác biệt. Từ rất sớm, pháp luật về dân sự đã phân biệt người trưởng thành
và chưa trưởng thành bởi định nghĩa về vị thành niên hay người chưa thành niên.
Điều 7 sắc lệnh số 97-SL của Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày
22/5/1950 quy định: “người vị thành niên là con trai hay con gái chưa đủ 18 tuổi”.
Cốt lõi của quy định này tiếp tục được duy trì trong các văn bản pháp luật dân sự
được ban hành sau đó. Các BLDS năm 1995, 2005, 2015 đều quy định: “Người thành
niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên; người chưa đủ mười tám tuổi là người
chưa thành niên”4. “Trẻ em” được định nghĩa muộn hơn bởi các văn bản pháp luật
thuộc lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Định nghĩa “trẻ em” chịu ảnh
hưởng đáng kể bởi việc gia nhập Công ước quốc tế. Từ khi Việt Nam trở thành thành
viên của Công uớc quốc tế, các nhà nghiên cứu và lập pháp Việt Nam có nhiều tranh
luận về định nghĩa “trẻ em” trong mỗi lần sửa đổi các văn bản pháp luật liên quan5.
Trong luật Trẻ em năm 2016 (sửa đổi, bổ sung 2018) Điều 1 có quy định “trẻ em là
người dưới 16 tuổi”. Có thể thấy một cách rõ ràng đã có sự chồng chéo trong các văn
bản pháp luật, điều này dẫn đến sự khó khăn trong việc xác định. Nhưng có thể ngầm
hiểu rằng, khái niệm người chưa thành niên bao gồm cả trẻ em, nhưng khái niệm trẻ
em thì bao gồm cả người chưa thành niên nhưng không phải là tất cả. Tập trung lại,
dựa trên các quan điểm phổ biến ở Việt Nam cũng như trên thế giới, khái niệm về
của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự”7. Năng lực hành vi dân sự là
thuộc tính để tạo ra “Tư cách chủ thể” của cá nhân một cách hoàn thiện trong các
quan hệ dân sự. Như vậy để có tư cách chủ thể một cách hoàn thiện, độc lập và đầy
đủ khi có cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Theo như luật định để một cá
nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là người đủ mười tám tuổi (người thành
niên). Còn đối với những cá nhân chưa đủ mười tám tuổi thì năng lực hành vi dân sự
không đầy đủ. Những cá nhân năng lực hành vi dân sự không đầy đủ này chỉ có thể
xác lập thực hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm trong một giới hạn nhất định nào
đó theo quy định của pháp luật dân sự. Sở dĩ pháp luật không công nhận năng lực
hành vi đầy đủ cho những người này là bởi vì họ còn trẻ, thiếu kinh nghiệm sống, thiếu
6
7
Khoản 1 Điều 16 BLDS năm 2015.
Điều 19 BLDS năm 2015.
8
kinh nghiệm về sự vật, con người. Pháp luật có nhiều quy định hạn chế hành vi của
người chưa thành niên. Việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự của họ phải được người
đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ trường hợp đặc biệt như giao dịch nhằm phục vụ nhu
cầu sinh hoạt hằng ngày phù hợp với lứa tuổi hoặc có tài sản riêng bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ hoặc pháp luật có quy định được phép.
Theo đó, người chưa đủ sáu tuổi thì tất cả mọi giao dịch dân sự của họ đều
phải do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện. Tất cả mọi
giao dịch dân sự trong đời sống hằng ngày, kể cả việc mua đồ dùng học tập, đồ dùng
sinh hoạt hàng ngày, thì cá nhân chưa đủ sáu tuổi cũng không được tự mình thực hiện.
Đối với người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi thì độ tuổi này đã có một
phần năng lực hành vi dân sự. Những người này đã có thể tự mình xác lập hành vi,
vực khác nhau (hành chính, hình sự, dân sự) trong đó có trách nhiệm dân sự.8
Trách nhiệm dân sự là một căn cứ làm phát sinh một quan hệ nghĩa vụ của
chủ thể xác định được. Chủ thể là cá nhân, người đại diện pháp nhân, các tổ chức
không có tư cách pháp nhân có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại hoặc hành vi vi
phạm những cam kết trong hợp đồng9. Trong trách nhiệm dân sự ta có hai loại trách
nhiệm, thứ nhất là TNBTTH do vi phạm hợp đồng và BTTH ngoài hợp đồng.
TNBTTH ngoài hợp đồng được hiểu là một loại trách nhiệm dân sự mà khi người nào
có hành vi vi phạm nghĩa vụ do pháp luật quy định ngoài hợp đồng xâm phạm đến
quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thì phải BTTH do mình gây ra. Đối với
chế định BTTH trong hợp đồng dựa trên cơ sở một hợp đồng có trước thì TNBTTH
ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý do pháp luật quy định cho người nào
có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
Trong hệ thống pháp luật dân sự nước Việt Nam hiện nay quy định chủ yếu về một
số loại TNBTTH ngoài hợp đồng như hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản của các cá nhân và tổ chức khác.
Tham khảo một số vấn đề về việc BTTH ở một số nước khác nhau trên thế
giới như sau: tại Điều 1382 BLDS Pháp qui định: "Bất cứ hành vi nào của một người
gây thiệt hại cho người khác thì người đã gây thiệt hại do lỗi của mình phải bồi
thường thiệt hại". Điều 1383 BLDS Pháp cũng quy định: "Mỗi người phải chịu trách
nhiệm về thiệt hại do mình gây ra, không những do hành vi mà còn do sự cẩu thả
hoặc không thận trọng"10. Điều 420 BLDS và thương mại Thái Lan qui định: "Một
người cố tình hay vô tình làm tổn thương một cách trái pháp luật đến đời sống thân
thể, sức khỏe, tự do, tài sản hoặc bất cứ quyền nào của người khác thì bị coi là phạm
một hành vi sai trái và có nghĩa vụ bồi thường tổn thương đó"11. Điều 416 BLDS
Trường Đại học Luật TP.HCM (2017), Giáo trình pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr.374.
9
PGS.TS Phùng Huy Tập (2017), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nhà xuất bản công an
nhân dân, Hà Nội, tr.5
10
đồng có những đặc điểm riêng sau đây:
TNBTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự và chịu sự điều
chỉnh của pháp luật dân sự. Khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì họ phải
BTTH, BTTH được điều chỉnh và có sự ràng buộc bởi BLDS năm 2015, được quy
định trong Chương XX, các văn bản hướng dẫn thi hành BLDS năm 2015. Bảo đảm
việc đền bù những tổn thất đã xảy ra cho chủ thể bị thiệt hại, giúp bảo vệ tài sản, sức
khỏe, tính mạng, danh dự của cá nhân và tổ chức.
12
Xem Luật Nhật Bản quyển 3, Nhà xuất bản thanh niên, TP.HCM, tr.968.
Trường Đại học Luật TP.HCM (2017), Giáo trình pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr.374.
13
11
TNBTTH ngoài hợp đồng luôn mang đến một hậu quả bất lợi về tài sản
cho người gây thiệt hại. Bởi lẽ, khi một người gây ra tổn thất cho người khác thì tổn
thất đó phải tính toán được bằng tiền hoặc phải được pháp luật quy định là một đại
lượng vật chất nhất định nếu không sẽ không thể thực hiện được việc bồi thường. Do
đó, những thiệt hại về tinh thần mặc dù không thể tính toán được nhưng cũng sẽ được
xác định theo quy định của pháp luật để bù đắp lại tổn thất cho người bị thiệt hại. Và
cũng chính vì vậy, thực hiện trách nhiệm bồi thường sẽ giúp khôi phục lại thiệt hại
cho người bị thiệt hại.
Ngoài người trực tiếp có hành vi gây thiệt hại thì TNBTTH ngoài hợp
đồng còn được áp dụng cả đối với những chủ thể khác đó là cha, mẹ của người chưa
thành niên, người giám hộ của người được giám hộ, pháp nhân đối với người của
pháp nhân gây ra thiệt hại, trường học, bệnh viện trong trường hợp người chưa thành
cụ thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái
với quy định luật14. Trong trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng, hành vi trái pháp luật
là những hành vi xâm hại tới tài sản, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm uy tín, quyền và
lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác và đa phần được thể hiện dưới dạng hành động.
Tuy nhiên, những hành vi gây thiệt hại do xâm phạm các yếu tố trên nhưng được thực
hiện phù hợp với quy định của pháp luật sẽ không bị coi là hành vi trái pháp luật và
người thực hiện hành vi đó không phải BTTH. Chẳng hạn, hành vi gây thiệt hại trong
giới hạn của phòng vệ chính đáng hoặc gây thiệt hại đúng với yêu cầu của tình thế
cấp thiết.
Ba là, có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế xảy ra và hành
vi trái pháp luật. Quá trình phát sinh, phát triển và chấm dứt giữa các sự vật hiện
tượng bao giờ cũng có mối liên hệ nội tại, trong đó, sự vật, hiện tượng này là nguyên
nhân dẫn đến sự ra đời của sự vật, hiện tượng kia. Có thể một sự vật, hiện tượng là
nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhiều sự vật, hiện tượng khác; có thể nhiều sự vật,
hiện tượng cùng là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của sự vật, hiện tượng khác. Vì
vậy, để xác định chính xác người phải BTTH cần phải dựa vào cập phạm trù: Nguyên
nhân và kết quả và tìm ra mối liên hệ giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra,
trong đó, thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược
lại, hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại.
Bốn là, yếu tố lỗi trong TNBTTH ngoài hợp đồng. Lỗi là quan hệ
giữa chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật với xã hội mà nội dung của nó là sự phủ
định những yêu cầu của xã hội đã được thể hiện thông qua các quy định của pháp
luật. Khi một người có đủ nhận thức và điều kiện để lựa chọn cách xử sự sao cho xử
1.2 Tiểu mục 1 Mục I của Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006 của Hội đồng thẩm
phán về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
14
13
“Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu
trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại
15
16
Điều 364 BLDS năm 2015.
Điều 364 BLDS năm 2015
14
Khoản 2 Điều này”.
Đây là quy định chung, áp dụng cho mọi loại tài sản gây ra thiệt hại. Ở
đây, để làm phát sinh TNBTTH thì điều kiện đầu tiên là thiệt hại phải tồn tại trong
thực tế, tiếp theo thiệt hại phải có nguyên nhân là do tài sản gây ra. Khi các điều kiện
này được hội đủ thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu TNBTTH17.
Khi xem xét trách nhiệm BTTH do tài sản gây ra, việc xem xét yếu tố lỗi
là không cần thiết, bởi “lỗi” được phát sinh từ “hành vi” con người là chủ yếu. Tuy
nhiên, đây cũng không thể khẳng định khi tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người
chiếm hữu, sử dụng không có lỗi mà nếu có lỗi thì lỗi của họ là lỗi trong việc quản
lý, sử dụng tài sản gây ra thiệt hại, và đây cũng được hiểu là hành vi gây thiệt hại chứ
không phải tài sản gây thiệt hại. Mặt khác, ngay cả khi chủ sở hữu, người chiếm hữu,
sử dụng không có lỗi thì họ vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường vì chính bản thân
họ là người trực tiếp có quyền khai thác và hưởng các lợi ích từ tài sản đó mang đến
cho họ.
Như vậy, muốn được bồi thường trong trường hợp tài sản gây thiệt hại
thì người bị thiệt hại cần chứng minh có sự kiện tài sản gây ra thiệt hại và hậu quả
thực tế.
Trường hợp không phải chịu TNBTTH ngoài hợp đồng. Trong các trường hợp
dưới đây, người gây ra thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường mặc dù có
coi là phòng vệ chính đáng thì người gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính
đáng không phải BTTH cho người bị thiệt hại. Hành vi gây thiệt hại được xác định là
tương xứng: Căn cứ vào mức độ của hành vi trái pháp luật gây thiệt hại, phòng vệ có
hành vi phòng vệ đúng với tính chất và mức độ của hành vi trái pháp luật gây thiệt
hại. Như vậy, khi có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho lợi ích được pháp luật
bảo vệ thì bản thân người phòng vệ chính đáng phải cân nhắc, tính toán để có thể
phòng vệ chính đáng. Chính vì phòng vệ chính đáng không bị coi là trái pháp luật,
trên nguyên tắc suy đoán, người phòng vệ chính đáng không bị coi là có lỗi nên pháp
luật dân sự quy định người phòng vệ chính đáng không phải BTTH. Tuy nhiên, không
phải mọi hành vi chống trả người tấn công đều được thừa nhận là phòng vệ chính
đáng. Sự cân nhắc, tính toán, lượng hóa trong hành vi chống trả có thể là một sự sai
lầm, biểu hiện của sự sai lầm là hành vi gây thiệt hại đối với người có hành vi trái
pháp luật một cách không tương xứng theo mức độ lớn hơn. Nói cách khác, nếu phòng
vệ chính đáng gây thiệt hại mà thiệt hại đó là hậu quả của hành vi “vượt quá” giới
hạn phòng vệ chính đáng thì người này phải BTTH. Tuy nhiên, người gây thiệt hại
do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải bồi thường cho người bị thiệt hại19.
Hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng ở đây được hiểu là khi bị người khác
gây thiệt hại, người phòng vệ chính đáng đã có hành vi gây thiệt hại ngược trở lại
nhưng có sự sai lầm trong việc đánh giá mức độ của sự tấn công, điều kiện hoàn cảnh
của hành vi tấn công và hành vi chống trả, do đó vượt quá giới hạn cần thiết đã gây
18
19
Điều 594 BLDS năm 2015.
Điều 594 BLDS năm 2015.
16
ra thiệt hại cho người có hành vi gây thiệt hại ban đầu. Vì vậy, hành vi của họ vượt
sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường
Trường Đại học Luật TP.HCM (2017), Giáo trình pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng, Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr.411
21
Khoản 2 Điều 595 BLDS năm 2015.
20
17
hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”. Ở điều luật này có 2 trường hợp
xảy ra mà người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường:
Thiệt hại xảy ra trong trường hợp sự kiện bất khả kháng: Theo
Khoản 1 Điều 156 BLDS năm 2015: “Sự kiện bất khả kháng là những sự kiện xảy ra
ngoài ý chí của con người khiến chúng ta không thể lường trước và khắc phục được
mặc dù đã áp dụng các biện pháp cần thiết, khả năng cho phép”. Sự kiện bất khả
kháng này xảy ra không do lỗi của bất kỳ bên nào, mà hoàn toàn ngoài ý muốn và các
bên bị thiệt hại cũng không thể dự đoán được, cũng như không thể tránh và khắc phục
kịp thời. Cho nên người thực hiện hành vi gây thiệt hại cho người người khác trong
sự kiện bất khả kháng không phải chịu trách nhiệm bồi thường. Thiệt hại xảy ra hoàn
toàn do lỗi của bên bị thiệt hại. Khoản 4 Điều 585 BLDS năm 2015 có quy định như
sau: “Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường
phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra”. Điều luật này quy định về trách nhiệm lỗi hỗn
hợp nhưng trách nhiệm lỗi hỗn hợp đã được loại trừ. Ở Điều luật trên hình thức lỗi
của người gây thiệt hại không cần phải xác định mà lỗi hiểu theo nghĩa hoàn toàn
thuộc về người bị thiệt hại. Khi áp dụng vấn đề này trong việc giải quyết BTTH ngoài
hợp đồng cần làm rõ các vấn đề sau: Thiệt hại xảy ra hoàn toàn thuộc về người bị
thiệt hại, thì người gây thiệt hại không phải bồi thường. Lỗi của người bị thiệt hại có
thể do vô ý hoặc cố ý nhưng phải xác định được lỗi hoàn toàn thuộc về người bị thiệt
hại. Người gây thiệt hại hoàn toàn không có lỗi thuộc hình thức này hay hình thức