DÀN Ý ĐỀ TÀI
Tên đề tài:
PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG ĐOẠN VĂN
TRONG THỰC HÀNH VIẾT VĂN BẢN
I. Đặt vấn đề.
1. Lý do chọn đề tài
2. Phạm vi đề tài
II. Cơ sở lý luận
III. Cơ sở thực tiễn
IV. Nội dung nghiên cứu
- Tên đề tài
- Môn
- Lớp
1. Mục tiêu
2. Thời gian
3. Tài liệu
4. Quá trình lên lớp
* Hoạt động 1: Hướng dẫn tìm hiểu đoạn văn
* Hoạt động 2: Hướng dẫn tìm hiểu các cách xây dựng đoạn văn
@ Bước 1: Hướng dẫn tìm hiểu đoạn diễn dịch
@ Bước 2: Hướng dẫn tìm hiểu đoạn quy nạp
@ Bước 3: Hướng dẫn tìm hiểu đoạn móc xích
@ Bước 4: Hướng dẫn tìm hiểu đoạn song hành
@ Bước 5: Hướng dẫn tìm hiểu đoạn tổng-phân-hợp
@ Bước 6: Hướng dẫn lưu ý
* Hoạt động 3: Hướng dẫn thực hành
Bài tập 1: Nhận diện đoạn văn
Bài tập 2: Nối các câu để trở thành đoạn văn theo yêu cầu
Bài tập 3: Xây dựng các kiểu đoạn văn theo các câu cho sẵn
Bài tập 4: Luyện tập tổng hợp
V. Kết quả nghiên cứu
hành viết văn bản để hướng học sinh thực hiện. Đó là lí do chính để tôi lựa chọn
đề tài này.
2. Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Áp dụng cho học sinh 2 lớp 9.3 và 9.4 học chủ đề tự chọn Ngữ văn.
- Thực hiện từ tuần 2 đến tuần 7 trong năm học 2007-2008.
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Một trong các cơ sở quan trọng của việc đổi mới giáo dục là tăng cường
hơn nữa tính "phân hoá" trong giáo dục. Vì vậy, giáo dục Việt Nam đã chú trọng
đến việc dạy học tự chọn trong Nhà trường phổ thông. Kế hoạch giáo dục THCS
ban hành kèm theo quyết định số 03/2002/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục & Đào tạo ngày 24 tháng 01 năm 2002 đã dành 2 tiết/ tuần cho dạy học
tự chọn ở các khối lớp 8 và 9. Đến năm học 2006-2007, quy định này được áp
dụng cho cả các khối 6 và 7. Ngành giáo dục Duy Xuyên cũng đã nhiều lần mở
Hội thảo chuyên đề về dạy học tự chọn.
2
Như vậy, dạy học tự chọn đã trở thành hình thức dạy học có tính chất pháp
quy, cần được nghiên cứu thực nghiệm và triển khai cho toàn cấp học. Dạy học
tự chọn Ngữ văn cũng nằm trong quy luật đó.
Mỗi thầy cô giáo đầu tư kĩ cho chủ đề dạy học tự chọn thì các năm học sau
chúng ta sẽ có một hệ thống chủ đề bài bản để thực hiện trong giảng dạy mang
lại hiệu quả cao. Đó là mục tiêu cần sớm phải đạt được.
III. CƠ SỞ THỰC TIỄN:
Dạy học tự chọn Ngữ văn ở Trường THCS Nguyễn Văn Trỗi trong những
năm qua cũng được chú trọng đúng mức. Mỗi năm, nhà trường có phân công cho
tổ thực hiện dạy học cho một khối lớp. Năm học 2007-2008, Nhà trường phân
công cho tổ thực hiện dạy học tự chọn Ngữ văn cho khối lớp 9. Ngay từ đầu năm
học, căn cứ vào tình hình học tập bộ môn của học sinh và điều kiện dạy học, các
thầy cô giáo trong tổ đã bàn bạc thống nhất một số các chủ đề cần tập trung để
giảng dạy cho các em trong cả năm học.
Thực tế học tập bộ môn Ngữ văn của học sinh trong nhiều năm liền đã cho
cho biết: Về mặt hình thức, các đoạn văn có gì
giống nhau?
HS: Trả lời
GV: Chốt và cho HS ghi
GV: Về mặt nội dung, các em thấy các đoạn văn
đó có chức được một ý trọn vẹn hay chưa?
HS: Trả lời
GV Chốt
GV: Giảng: Câu mang ý chính, khái quát của
đoạn văn thì gọi là câu chủ đề (còn gọi là câu
chốt). Vậy, có phải là đoạn văn nào cũng có câu
chốt hay không? Vì sao?
HS: Trả lời.
GV: Chỉnh sửa và chốt ý
* Hoạt động 2: Hướng dẫn học sinh tìm hiẻu
các cách xây dựng đoạn văn.
@ Bước 1: Hướng dẫn tìm hiểu đoạn diễn
dịch.
HS: Đọc đoạn văn1
GV: Trong đoạn văn trên, câu nào mang ý nghĩa
khái quát bao trùm toàn đoạn văn? Xét vị trí của
nó so với những câu khác trong đoạn.
HS: Câu (1) là câu mang ý khái quát của cả
đoạn văn. Nó đứng ở đầu đoạn văn.
GV: Các câu còn lại trong đoạn văn có yêu cầu
gì?
HS: Các câu còn lại trong đoạn làm sáng tỏ
thêm ý cho câu 1
GV: Chốt: Đoạn văn có cách trình bày như trên
gọi là đoạn văn trình bày theo cách diễn dịch,
HS: Lên bảng thực hiện.
GV: Cho nhận xét và chỉnh sửa.
@ Bước 2: Hướng dẫn tìm hiểu đoạn quy
nạp.
HS: Đọc đoạn văn 2.
GV: Trong đoạn văn trên, câu nào mang ý nghĩa
khái quát bao trùm toàn đoạn văn? Xét vị trí của
nó so với những câu khác trong đoạn.
HS: Ở đoạn văn 2, câu mang ý khái quát là câu
số (2). Câu này nắm ở cuối đoạn văn.
GV: Vai trò của các câu ở trên làm gì trong
đoạn đó?
HS: TRả lời.
GV: Chốt: Đoạn văn có cách trình bày như trên
gọi là đoạn văn trình bày theo cách quy nạp, còn
gọi là đoạn quy nạp.
GV: Vậy, cách trình bày quy nạp là cách trình
bày như thế nào?
HS: Trình bày.
GV: Chốt lại ý.
từ ý chung khái quát đến các ý
chi tiết, cụ thể, làm sáng tỏ ý
chung, khái quát đó. Câu mang
ý chung, khái quát đứng trước
đoạn văn và có tư cách là câu
chốt của đoạn văn.
- Ví dụ: Đoạn 1
- Mô hình:
(1) Câu chốt
GV: Chốt: Đoạn văn có cách trình bày như trên
gọi là đoạn văn trình bày theo cách móc xích
còn gọi là đoạn móc xích.
GV: Vậy, cách trình bày móc xích là cách trình
bày như thế nào?
HS: Trình bày.
GV: Chốt lại ý.
HS: Ghi nhớ.
GV: Mô hình của đoạn văn 3 có thể biểu diễn
như sau:
(1)
(2)
(3)
- Mô hình:
(1) (2) (n-1)
(n) Câu chốt
3. Trình bày đoạn văn theo
cách móc xích:
- Móc xích là cách sắp xếp ý nọ
tiếp ý kia theo lối ý sau móc
nối vào ý trước ( qua những từ
cụ thể) để bổ sung, giải thích
cho ý trứơc
- Ví dụ: Đoạn 3
6
GV: Ví dụ đoạn văn trình bày theo cách móc
xích có số lượng là (n) câu thì mô hình cho đoạn
văn đó sẽ như thế nào?
HS: Lên bảng thực hiện.
GV: Cho nhận xét và chỉnh sửa.
HS: Ghi nhớ.
GV: Cho thêm ví dụ
GV: Mô hình của đoạn văn 4 có thể biểu diễn
như sau:
(1) (2) (3) (4) (5) (6)
GV: Ví dụ đoạn văn trình bày theo cách song
hành có số lượng là (n) câu thì mô hình cho
đoạn văn đó sẽ như thế nào?
HS: Lên bảng thực hiện.
4. Trình bày đoạn văn theo
cách song hành.
- Song hành là cách trình bày
đoạn văn sắp xếp các ý ngang
nhau, không có hiện tượng ý
này bao quát ý kia hoặc ý này
móc nối vào ý kia.
- Ví dụ: đoạn 4
- Mô hình:
(1) (2) ... (n)
7
GV: Cho nhận xét và chỉnh sửa.
GV: Theo em, đoạn văn trình bày theo cách
song hành có câu chốt hay không?
HS: Phát biểu
GV: Chốt: Đoạn văn song hành không có câu
chốt.
@ Bước 5: Hướng dẫn tìm hiểu đoạn tổng -
phân -hợp.
HS: Đọc đoạn văn 5
GV: Em hãy cho biết trong đoạn văn đó, có câu
phân - hợp:
- Đoạn văn tổng - phân - hợp là
cách trình bày nội dung đoạn
văn đi từ ý chung, khái quát rồi
đến các ý chi tiết, cụ thể, sau
đó tổng hợp thành ý khái quát
cao hơn.
- Đoạn văn trình bày theo cách
này có 2 câu chốt là câu đầu
đoạn văn và câu cuối đoạn văn.
8