Pháp luật về công bố thông tin của công ty đại chúng trên thị trường chứng khoán ở việt nam - Pdf 58

VIỆN HÀM LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ THỊ THU HÀ

PHÁP LUẬT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY ĐẠI
CHÚNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM

LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ THỊ THU HÀ

PHÁP LUẬT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN CỦA CÔNG TY ĐẠI
CHÚNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số chuyên ngành: 9380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. LÊ THỊ THU THỦY

HÀ NỘI, 2019


LỜI CAM ĐOAN

3.4. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trong hoạt động CBTT
của công ty đại chúng trên TTCK..................................................................101
3.5. Xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động CBTT của công ty đại
chúng trên TTCK ...........................................................................................110
CHƯƠNG 4. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ CBTT CỦA CÔNG TY ĐẠI CHÚNG TRÊN TTCK Ở VIỆT NAM .......124
4.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên
TTCK .............................................................................................................124
4.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên
TTCK ở Việt Nam .........................................................................................129
4.3. Nhóm giải pháp hỗ trợ khác....................................................................141
KẾT LUẬN ........................................................................................................147
NHỮNG CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI LUẬN ÁN............................................................................................151
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 152


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt

STT

Nghĩa đầy đủ

1

BCTC

Báo cáo tài chính



7

IDS

Information Disclosure System (Hệ thống phát hiện
xâm nhập)

8

IOSCO

International Organization of Securities Commissions
(Tổ chức quốc tế các Ủy ban chứng khoán)

9

SGDCK

Sở Giao dịch chứng khoán

10

TTCK

Thị trường chứng khoán

11

TTLKCK

phát triển, qua đó bảo đảm sự ổn định, bền vững của hệ thống tài chính. Cùng với
đó, tính minh bạch của các công ty đại chúng đã được cải thiện đáng kể, trong đó
doanh nghiệp đã quan tâm nhiều đến quản trị công ty, phát triển bền vững. TTCK
cũng đã thể hiện được vai trò rất tốt trong việc thúc đẩy quá trình cổ phần hóa hiệu
quả hơn. Bên cạnh các thành tựu đạt được, TTCK hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề
nan giải liên quan đến thông tin và CBTT của công ty đại chúng dẫn tới chủ thể

1


chịu ảnh hưởng nhiều nhất đó chính là các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư
không chuyên nghiệp – chủ thể quan trọng nhất tham gia giao dịch của thị trường,
sự bất ổn của thị trường bị chi phối rất lớn và nghiêm trọng do thông tin không
minh bạch, kịp thời. Chính vì vậy, pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên
TTCK được xác định là một bộ phận cấu thành quan trọng trong pháp luật chứng
khoán. Mục tiêu cao nhất của hoạt động CBTT là tạo sự minh bạch của TTCK, tạo
điều kiện cho các nhà đầu tư đưa ra các quyết định kịp thời, đúng đắn thực hiện các
giao dịch trên thị trường. Đây cũng là khuyến nghị được thể hiện trong các văn kiện
của Tổ chức quốc tế các Ủy ban chứng khoán – International Organization of
Securities Commissions (IOSCO) cũng như trong luật chứng khoán của nhiều
nước. Tại Việt Nam, sự cần thiết phải điều chỉnh hoạt động CBTT trên TTCK đã
được các nhà làm luật chú trọng với các quy định tại Luật Chứng khoán năm 2006,
Luật Chứng khoán đã được sửa đổi, bổ sung năm 2010, năm 2018. Đặc biệt, Bộ Tài
chính có riêng Thông tư 155/2015/TT – BTC ngày 06 tháng 10 năm 2015 về hướng
dẫn CBTT trên TTCK (Thông tư 155/2015) là một minh chứng. Tuy nhiên, các quy
định tại Luật Chứng khoán, Luật Chứng khoán sửa đổi, cũng như Thông tư
155/2015 chưa chỉ rõ các loại thông tin phải công bố, các chuẩn mực CBTT của
công ty đại chúng trên TTCK, các nguyên tắc CBTT đối với chứng khoán vốn,
chứng khoán nợ, chứng khoán phái sinh... Do đó, ngay sau khi ra đời và sau một
thời gian áp dụng các quy định tại Luật Chứng khoán, Thông tư 155/2015/TT-BTC

công ty đại chúng trên TTCK và pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên
TTCK, qua đó hình thành cơ sở lý luận và phát triển các luận cứ khoa học để đánh giá
thực trạng pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK, từ đó tìm ra các giải
pháp, phương hướng hoàn thiện pháp luật về hoạt động CBTT của công ty đại chúng
trên TTCK ở Việt Nam.

3


2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, luận án thu thập, hệ thống hóa một số công trình khoa học về CBTT
của công ty đại chúng trên TTCK tiêu biểu trong và ngoài nước;
Thứ hai, luận giải những vấn đề lý luận về CBTT của công ty đại chúng trên
TTCK và pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK.
Thứ ba, luận án đưa ra những đánh giá về thực trạng pháp luật về CBTT của
công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam.
Thứ tư, luận án đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về CBTT
của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về CBTT của công ty đại
chúng trên TTCK và pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK, thực trạng
pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án được xác định: là các quy định của pháp luật về
CBTT của công ty đại chúng trên TTCK và thực tiễn áp dụng pháp luật về vấn đề này
ở Việt Nam hiện nay. Luận án không đi sâu về pháp luật liên quan đến việc giải quyết
tranh chấp phát sinh trong hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK bởi lẽ
pháp luật về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực này không có các quy định pháp lý
đặc thù. Trên thực tế, hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK, kể cả TTCK

chúng trên TTCK có so sánh, dẫn chiếu với pháp luật của một số nước trên thế giới để
tìm ra các điểm tương đồng và khác biệt.
-

Phương pháp phân tích, tổng hợp, tiếp cận liên ngành luật học, kinh tế học được

sử dụng nhằm phân tích các yếu tố chi phối đến hoạt động CBTT của công ty đại chúng
trên TTCK và đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúng
trên TTCK.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Là công trình nghiên cứu công phu, nghiêm túc của nghiên cứu sinh, luận án có
những đóng góp mới, cụ thể như sau:

5


Thứ nhất, các kết quả nghiên cứu của luận án góp phần bổ sung và phát triển
những vấn đề lý luận về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK và pháp luật về
CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam, làm rõ cơ sở khoa học giúp cân
bằng lợi ích của công ty đại chúng với lợi ích của nhà đầu tư, đảm bảo tính minh bạch
của thị trường cũng như bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư, hướng tới thông tin
của công ty đại chúng trên TTCK là minh bạch, rõ ràng và kịp thời, đạt tới các chuẩn
mực chung và thông lệ của TTCK phát triển trong khu vực và trên thế giới. Luận án là
công trình nghiên cứu có tính hệ thống liên quan đến pháp luật về CBTT của công ty
đại chúng trên TTCK ở Việt Nam. Đây là hoạt động đặc thù của TTCK, có tác động
đến tất cả các chủ thể tham gia TTCK, ảnh hưởng trực tiếp tới kênh huy động vốn
được coi là lớn nhất của nền kinh tế thị trường.
Thứ hai, tác giả đánh giá thực trạng pháp luật về CBTT của công ty đại chúng
trên TTCK ở Việt Nam. Theo đó, cơ bản có thể nhận thấy nội dung quy định của pháp
luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở Việt Nam đã giải quyết cơ bản các

nhất của nền kinh tế.
Thứ ba, Luận án xác định định hướng và các giải pháp hoàn thiện các quy định
của pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK cũng như nâng cao hiệu quả
áp dụng các quy phạm pháp luật trong thực tiễn. Theo đó luận án đã tập trung xác định,
định hướng hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK và đưa ra
các giải pháp hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK như:
Hoàn thiện pháp luật liên quan đến đối tượng, thời hạn CBTT của công ty đại chúng
trên TTCK; Quyền và nghĩa vụ của công ty đại chúng trong hoạt động CBTT trên
TTCK; Phương thức CBTT của công ty đại chúng trên TTCK; Bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của nhà đầu tư trong hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK;
Xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK;

7


Nhóm giải pháp hỗ trợ khác (xây dựng bộ chỉ số minh bạch thông tin đối với công ty
đại chúng và hoàn thiện phương tiện CBTT).
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Về lý luận: Luận án đã nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận
về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK và đánh giá thực tiễn thực thi quy định của
pháp luật về vấn đề này. Luận án khẳng định vai trò của hoạt động CBTT của công ty
đại chúng trên TTCK đối với sự phát triển của TTCK, luận án cũng chỉ ra các nhân tố
tác động đến hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK, qua đó đưa ra những
nhận xét, đánh giá về thực trạng pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK,
chỉ ra nguyên nhân của một số hạn chế còn gặp phải trong thực tiễn.
Về thực tiễn: Luận án đưa ra những yêu cầu cần thiết, những định hướng cơ
bản để xây dựng và hoàn thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK ở
Việt Nam, tiếp đến luận án đưa ra các nhóm giải pháp quan trọng hàng đầu để hoàn
thiện pháp luật về CBTT của công ty đại chúng trên TTCK.
Ngoài ra, luận án còn là nguồn tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy

tâm giao dịch chứng khoán hoặc chứng khoán không niêm yết nhưng được giao dịch
thông qua các thể chế môi giới chứng khoán”[153, tr 25]. Và “nét đặc trưng của các
công ty đại chúng là có sự tham gia của nguồn vốn từ bên ngoài với nhiều nhà đầu tư”
là nhận định của tác giả Hà Thị Thu Hằng trong luận văn Thạc sĩ Luật học “Pháp luật
về quản trị Công ty đại chúng, thực tiễn áp dụng tại Công ty cổ phần VINAFCO” [44,
tr 14]. Trong khi đó, tác giả Lương Đình Thi trong Luận văn Thạc sĩ luật học “Pháp
luật về quản trị công ty đại chúng ở Việt Nam” có nêu ra một số đặc điểm của công ty
đại chúng bao gồm: Là công ty cổ phần hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, là tổ chức
kinh tế quản lý tập trung cao, có số lượng cổ đông lớn, có mối liên hệ chặt chẽ với
TTCK [87, tr11].
CBTT là khái niệm trên thực tế được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau. Trên
TTCK, thông tin được coi là yếu tố quan trọng nhất đảm bảo thị trường công khai,
minh bạch và hiệu quả. Những chủ thể sở hữu thông tin chính xác và phân tích được

9


các thông tin này sẽ đưa ra được quyết định đầu tư kịp thời, hiệu quả, ngược lại thông
tin không chính xác, thiếu minh bạch cũng có thể mang lại rất nhiều rủi ro, thiệt hại, tác
động tiêu cực không chỉ đối với doanh nghiệp, mất lòng tin đối với nhà đầu tư, khó
khăn trong công tác quản lý của các nhà quản lý, ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển
của nền kinh tế.
Theo khuyến nghị thứ 16 của IOSCO ghi nhận việc CBTT của công ty đại
chúng:“Cần công bố đầy đủ, chính xác và kịp thời các kết quả tài chính, rủi ro và các
thông tin quan trọng khác đối với quyết định của nhà đầu tư”[146, tr.38]. Do đó, mục
đích cao nhất của hoạt động CBTT nói chung và CBTT của công ty đại chúng trên
TTCK phải hướng tới sự đầy đủ, tính chính xác và kịp thời về kết quả hoạt động kinh
doanh, các sự kiện pháp lý tốt hoặc không tốt cũng như các thông tin khác của công ty
đại chúng có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của cổ đông, nhà đầu tư.
Những cổ đông, dù là cổ đông nhỏ lẻ, không chuyên cũng cần được tiếp cận thông tin

bảo việc CBTT không thuần túy là nghĩa vụ của công ty đại chúng mà còn là quyền lợi
thiết thực, trực tiếp của công ty đại chúng.
Theo các học giả Mỹ, ngoài việc phải chấp hành các nguyên tắc CBTT chung
các công ty đại chúng phải có sự kiểm soát của nhà đầu tư. Đối với các công ty chứng
khoán cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư cũng rất cẩn trọng, họ không những phải tuân
theo quy định về Đạo luật tư vấn đầu tư, mà còn bị “tẩy chay” ngay nếu có bất kỳ một
sự vi phạm nào, ngay lập tức sẽ có ngay chủ thể khác thay thế họ trên thị trường. Chính
vì vậy, TTCK Mỹ được đánh giá là một TTCK đáng tin cậy vào bậc nhất của thế giới.
Nó cũng chính là kênh lớn nhất và chủ yếu huy động vốn của các chủ thể kinh doanh.
Ngoài ra, Mỹ còn có các công ty bảo vệ nhà đầu tư, do vậy các hoạt động CBTT
không trung thực, sai sự thật, trái quy định ảnh hướng tới nhà đầu tư, tới thị trường
cũng không thể tồn tại là vì thế. Mặt khác, cũng tại Mỹ hoạt động của các công ty dịch
vụ CBTT cũng rất hiệu quả vì thế nhà đầu tư rất dễ dàng trong việc tiếp cận các thông

11


tin công bố của công ty đại chúng trên TTCK. Đây cũng là đánh giá của Tiến sĩ Tạ
Thanh Bình trong đề tài nghiên cứu cấp Ủy ban Chứng khoán “Hoàn thiện hệ thống
CBTT của công ty đại chúng” [5, tr.26].
Dưới góc độ xã hội, chúng ta đều nhận thấy tầm quan trọng của thông tin trên
TTCK bởi nó là bộ phận không thể thiếu của TTCK vì thiếu nó thì TTCK không còn
tồn tại. Theo tác giả Phạm Thị Hằng Nga “CBTT của công ty đại chúng trên TTCK
theo pháp luật Việt Nam” [58, tr.17] thì: Thông qua kênh tin, nhà đầu tư có cái nhìn
tổng thể, dễ dàng tiếp cận về TTCK cũng như đối với các công ty đại chúng. Các thông
tin tổng thể về tổ chức phát hành, diễn biến giao dịch thị trường, chỉ số chứng khoán,
quy mô vốn hóa thị trường,...một bức tranh toàn cảnh của thị trường. Mặt khác, từ
thông tin trên TTCK giúp nhà quản lý đánh giá được mức độ phát triển của TTCK, xác
định được chính xác vai trò của TTCK đối với sự phát triển chung của nền kinh tế xã
hội của đất nước trong từng giai đoạn, hoàn cảnh cụ thể. Thông tin trên TTCK có tác

Trong bài báo của tác giả Phạm Thị Giang Thu: “Pháp luật CBTT của công ty
niêm yết trên TTCK Việt Nam thực tiễn pháp lý và phương hướng hoàn thiện” [88, tr.
44] có đề cập: “Bằng các quy định của pháp luật Nhà nước thể hiện sự can thiệp cần
thiết để bảo vệ các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nhỏ lẻ, cá thể, khả năng phân
tích thông tin và tìm hiểu thị trường còn hạn chế. Sự điều chỉnh của pháp luật đối với
hoạt động CBTT của chủ thể niêm yết được quy định ngay ở những khâu đầu tiên như
việc đặt ra những điều kiện chào bán chứng khoán ra công chúng với chế độ CBTT rất
chặt chẽ, nhằm bảo đảm chứng khoán giao dịch tại thị trường phải là hàng hoá có
chất lượng, tạo niềm tin cho công chúng đầu tư” [88, tr. 46]. Quan điểm của tác giả
đưa ra là hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK nhằm bảo vệ quyền lợi
chính đáng của nhà đầu tư. Theo tác giả Đinh Văn Sơn “Để phát triển TTCK – niềm tin
vào thị trường là yếu tố tạo lửa và duy trì lòng nhiệt tình của các chủ thể tham gia thị
trường, đặc biệt là nhà đầu tư. Do đó, thông tin về chứng khoán và giao dịch chứng
khoán trở thành một yếu tố hết sức nhạy cảm và quan trọng” [67, tr 13]. Quan điểm
chung của các tác giả về sự cần thiết của hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên
TTCK liên quan chặt chẽ tới quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư trên TTCK.

13


Không thể phủ nhận vai trò của CBTT của công ty đại chúng trên TTCK là rất
lớn, nó có tác động đến tất cả các chủ thể tham gia thị trường. Nhìn nhận vấn đề liên
quan đến vai trò của CBTT tác giả Đinh Văn Sơn có ghi nhận: “Với vai trò của mình,
thông tin là nhân tố tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của TTCK” [67, tr.14]. CBTT
và thông tin của các chủ thể trên TTCK nói chung và CBTT của công ty đại chúng nói
riêng có vai trò và tác động cả về mặt tích cực và tiêu cực đối với TTCK. “Ở phần lớn
các nước nghĩa vụ công khai thông tin được quy định trong luật chứng khoán và có xu
hướng nhích lại luật chứng khoán của Mỹ. Tổ chức quốc tế các Ủy ban chứng khoán
(IOSCO); Ủy ban quốc tế về tiêu chuẩn hóa hạch toán (LASS) cũng ban hành các biểu
mẫu và danh mục thông tin đối với các công ty”. [56, tr. 290] Dưới góc độ nhìn nhận

[45, tr 19]. Cũng đồng quan điểm với tác giả Bạch Đức Hiển, tác giả Bùi Kim Yến đã
tiếp cận về nguyên tắc CBTT của công ty đại chúng trên TTCK nói riêng và CBTT
trên TTCK nói chung: “TTCK phải được xây dựng trên cơ sở hệ thống CBTT
tốt...Nguyên tắc công khai chính là nhằm đảo bảo lợi ích cho tất cả những người tham
gia thị trường, thể hiện tính công bằng có nghĩa là mọi người tham gia thị trường đều
phải tuân thủ những quy định chung, được bình đẳng trong việc chia sẻ thông tin và
việc gánh chịu các hình thức xử phạt nếu vi phạm vào những quy định đó. Nguyên tắc
này bảo vệ nhà đầu tư, đồng thời cũng hàm nghĩa rằng, một khi nhà đã được cung cấp
thông tin đầy đủ, kịp thời và chính xác thì người đầu tư phải chịu trách nhiệm về các
quyết định đầu tư của mình” [108, tr.8]. Nhằm phát triển một TTCK bền vững thực sự
là một kênh huy động vốn lớn nhất cho nền kinh tế, “thu gom” mọi nguồn vốn tiết
kiệm lớn nhỏ của mỗi gia đình, mỗi người dân hay các nguồn vốn nhàn rỗi tạm
thời...tạo thành nguồn vốn khổng lồ cho nền kinh tế mà các phương thức huy động vốn
khác không có được đòi hỏi nguyên tắc CBTT của công ty đại chúng phải hướng tới
được tính công khai, minh bạch và kịp thời.


Tình hình nghiên cứu lý luận về phân loại thông tin phải công bố của công ty

đại chúng trên TTCK
Hầu hết các nghiên cứu đã đề cập đến các loại thông tin của công ty đại chúng
phải công bố trên TTCK bao gồm các thông tin về tài chính, thông về tình hình hoạt

15


động kinh doanh, kết quả kinh doanh, thông tin về nhân sự. Cụ thể, công bố các thông
tin tài chính của công ty đại chúng bao gồm: CBTT BCTC năm, CBTT BCTC bán
niên, CBTT định kỳ BCTC quý, công bố bất thường các thông tin khác liên quan đến
BCTC. Tiếp đến là CBTT về tình hình hoạt động và kết quả sản xuất, kinh doanh của

hoạt động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK là một bộ phận cấu thành và quan
trọng của pháp luật điều chỉnh hoạt động công bố thông trên TTCK. Đó là tổng hợp
những nguyên tắc, định hướng cơ bản về hoạt động CBTT của công ty đại chúng, là
tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động công khai thông tin của các
công ty đại chúng, bao gồm các nhóm quy phạm pháp luật về CBTT định kỳ của công
ty đại chúng, nhóm quy phạm pháp luật về CBTT bất thường của công ty đại chúng,
nhóm quy phạm về CBTT theo yêu cầu của công ty đại chúng. Các nhóm quy phạm
pháp luật điều chỉnh hoạt động CBTT của công ty đại chúng như trên tương ứng với
các nghĩa vụ CBTT mà công ty đại chúng phải tuân thủ”. Theo đó, công ty đại chúng
phải công bố các thông tin mang tính chất tài chính hoặc phi tài chính liên quan đến
tình hình hoạt động của công ty như các BCTC, các thông tin về quản trị công ty,
thông tin về rủi ro và chính sách quản lý rủi ro… Việc CBTT của công ty đại chúng có
thể diễn ra định kỳ, bất thường hay theo yêu cầu của UBCKNN (UBCKNN), SGDCK
(SGDCK). Quan điểm này được thể hiện trong công trình nghiên cứu “Minh bạch
thông tin trên TTCK” của tác giả Phạm Thị Hằng Nga [57, tr.25].
Thông tin của công ty đại chúng có vai trò đặc biệt trong sự phát triển của
TTCK, nó là mạch máu giúp thị trường thông suốt, tràn đầy năng lượng và là tiền đề để
phát triển một thị trường minh bạch, công khai và phát triển. Chính vì vậy, trên thế giới
đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu liên quan đến các yếu tố tác động đến hoạt
động CBTT của công ty đại chúng trên TTCK. Nghiên cứu đầu tiên có thể kể đến là
của các tác giả Jonas and Blanchet [142, tr.153], trong nghiên cứu của mình tác giả xây
dựng các thuộc tính để tạo nên mười một đặc tính của chất lượng thông tin BCTC theo
Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ (Financial Accounting Standards Board
- FASB). Từ nghiên cứu của các tác giả Jonas and Blanchet, Ferdy van Beest, Geert
Braam [140, tr.103] phát triển nghiên cứu của mình để đo lường chất lượng BCTC của

17


Anh và Mỹ bằng phương pháp “hoạt động hóa” (operationalize) các đặc tính chất


Trong khi đó, các tác giả Zhang Yuemei và Li Yanxi An [135, tr.18] cho rằng
hoạt động CBTT bị ảnh hưởng tác động bởi chính trong hoạt động nội bộ của công ty
trong đó đặc biệt quan tâm đến yếu tố tác động của nhân sự quản lý trong doanh
nghiệp, trong mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp và chất lượng thông tin công bố
của các công ty đại chúng. Trên cơ sở đó, tác giả đánh giá mối quan hệ chặt chẽ giữa
chất lượng thông tin công bố song song với số lượng các nhà lãnh đạo độc lập trong bộ
máy lãnh đạo của doanh nghiệp và được đặt trong mối quan hệ tương quan, khách
quan và chủ quan với hệ thống quản trị doanh nghiệp cùng với chế độ đãi ngộ của
doanh nghiệp dành cho các nhà lãnh đạo của doanh nghiệp.
Ngoài ra, để đánh giá chất lượng thông tin BCTC, nghiên cứu của tác giả
Lyle.N [143, tr.28] đánh giá chất lượng thông tin BCTC thông qua chuỗi cung ứng
BCTC. Theo tác giả, chuỗi cung ứng BCTC bị chi phối bởi nhiều chủ thể, nhiều công
đoạn, quy trình thông qua quá trình lập, xác nhận, kiểm tra và sử dụng BCTC. Tất cả
chuỗi quá trình đạt được chất lượng cao sẽ tạo ra BCTC có chất lượng cao. Nghiên cứu
của tác giả xem xét 4 yếu tố: “Quản trị công ty, quy trình lập BCTC, Báo cáo kiểm
toán của kiểm toán viên độc lập và tính hữu ích của BCTC”. Nghiên cứu được thực
hiện trong giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 7 năm 2007. Đối tượng nghiên cứu là 341
người có liên quan đến chuỗi cung ứng BCTC trên khắp thế giới như: người lập
BCTC, kiểm toán viên độc lập, người sử dụng, các nhà lập pháp, xây dựng chuẩn mực.
Phương pháp chủ yếu của nghiên cứu dựa vào bảng câu hỏi gồm 22 câu (cho 341
người) và phỏng vấn sâu 25 chuyên gia. Kết quả các đặc tính chất lượng BCTC cho
thấy: “(a) Thông tin tài chính tốt hơn nhờ sự cải thiện của chuẩn mực kế toán, quy
định luật pháp và giám sát; (b) BCTC công bố có khả năng so sánh tốt hơn; (c) Thông
tin kế toán về khả năng đáng tin cậy được cải thiện; (d) Gia tăng tầm quan trọng của
các báo cáo diễn giải và (e) tiếp cận thông tin BCTC dễ dàng hơn”.

19




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status