VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ LÊN
ĐỖ MINH HOÀNG
SỰ BIẾN ĐỔI CỦA ĐẠO HIẾU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
VIỆN HÀN LÂM
HÀ NỘI, 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC
VIỆN
KHOA
HỌC
XÃNAM
HỘI
KHOA
HỌC
XÃ HỘI
VIỆT
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ LÊN
1.3. Những công trình nghiên cứu liên quan đến giải pháp xây dựng đạo hiếu ở Việt
Nam hiện nay ...................................................................................................................... 20
1.4. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố và những
vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án........................................................ 23
CHƯƠNG 2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẠO HIẾU VÀ SỰ BIẾN ĐỔI
CỦA ĐẠO HIẾU Ở VIỆT NAM.................................................................................... 26
2.1. Đạo hiếu và cơ sở hình thành đạo hiếu ở Việt Nam ............................................... 26
2.2. Nội dung và vai trò của đạo hiếu trong đời sống xã hội......................................... 30
2.3. Sự biến đổi của đạo hiếu và đặc điểm của sự biến đổi đạo hiếu ở Việt Nam ..... 48
CHƯƠNG 3. SỰ BIẾN ĐỔI CỦA ĐẠO HIẾU Ở VIỆT NAM HIỆN NAY THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN ......................................................................... 79
3.1. Thực trạng biến đổi của đạo hiếu ở Việt Nam hiện nay......................................... 79
3.2. Nguyên nhân của sự biến đổi đạo hiếu ở Việt Nam hiện nay .............................105
CHƯƠNG 4. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT HUY BIẾN ĐỔI TÍCH CỰC,
KHẮC PHỤC BIẾN ĐỔI TIÊU CỰC CỦA ĐẠO HIẾU Ở VIỆT NAM HIỆN
NAY .......................................................................................................................................121
4.1. Nâng cao nhận thức về đạo hiếu cho các thành viên trong gia đình Việt Nam
hiện nay ..............................................................................................................................121
4.2. Kết hợp và nâng cao vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong công tác
giáo dục đạo hiếu ..............................................................................................................127
4.3. Phát triển kinh tế gia đình, tạo lập môi trường văn hóa lành mạnh, tạo điều kiện
cho việc thực hiện đạo hiếu .............................................................................................135
4.4. Phát huy vai trò của pháp luật trong việc đưa ra các quy định về đạo hiếu và xử
lý các hành vi bất hiếu ......................................................................................................140
KẾT LUẬN .........................................................................................................................149
DANH MỤC BÀI BÁO, CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ............151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................152
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
trường, khi mà giá trị thặng dư và tiền bạc vật chất được xem như giá trị cao nhất để
đánh giá con người thì nhiều khi đạo hiếu bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Hiện tượng con
cái lơ là, bỏ bê không làm tròn nghĩa vụ đối với cha mẹ, thậm chí con cái bạc đãi, tị
nạnh lẫn nhau, đẩy cha mẹ vào hoàn cảnh “không ăn thì ốm thì gầy/ ăn thì nước mắt
chan đầy bát cơm” đang tạo nên những khoảng tối trong bức tranh về đạo hiếu. Bên
cạnh đó, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, sự ảnh hưởng của
văn hóa ngoại lai đang làm cho một bộ phận giới trẻ có sự thay đổi quan niệm về đạo
hiếu và việc thực hiện đạo hiếu rất đáng để suy ngẫm. Từ những biến đổi trên cho thấy,
việc phân tích thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân sự biến đổi của đạo hiếu để đưa ra
những giải pháp là yêu cầu cần thiết trong xây dựng đạo hiếu ở Việt Nam hiện nay. Đó
là lý do nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài “Sự biến đổi của đạo hiếu ở Việt Nam hiện
nay” để nghiên cứu trong luận án tiến sĩ triết học, chuyên ngành chủ nghĩa duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của mình; cũng là góp phần nhỏ vào thực hiện nhiệm vụ xây
dựng đời sống và nền văn hóa tinh thần nói chung và đạo hiếu nói riêng ở Việt Nam
hiện nay.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về đạo hiếu và sự biến đổi của đạo hiếu
ở Việt Nam, luận án phân tích thực trạng biến đổi của đạo hiếu ở Việt Nam hiện nay và
nguyên nhân của nó; từ đó đề xuất một số giải pháp xây dựng đạo hiếu ở Việt Nam
hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ
Để đạt mục đích trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đạo hiếu và sự biến đổi của đạo
hiếu ở Việt Nam.
2
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về đạo hiếu và sự biến đổi của đạo hiếu ở Việt
biến đổi của đạo hiếu ở Việt Nam.
- Từ việc phân tích thực trạng biến đổi của đạo hiếu ở Việt Nam hiện nay và
nguyên nhân của nó, luận án đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy biến đổi tích cực,
hạn chế biến đổi tiêu cực của đạo hiếu ở Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận án có ý nghĩa khuyến nghị đối với việc giữ gìn và phát triển đạo hiếu ở Việt
Nam hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, phục vụ
cho việc nghiên cứu, giáo dục đạo hiếu, đạo đức, đạo đức gia đình.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và danh mục các
công trình khoa học đã công bố của tác giả có liên quan đến luận án, nội dung của luận
án gồm 4 chương, 13 tiết.
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Hiếu là một giá trị đạo đức căn bản của con người và của đạo làm người. Đặc
biệt ở các nước phương Đông trong đó có Việt Nam, đạo hiếu luôn xác định cho mình
vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong việc rèn luyện đạo đức cá nhân nhằm đạt tới sự
bình yên, hạnh phúc của gia đình và một xã hội hòa mục, ổn định. Với vị trí, vai trò
quan trọng như vậy nên vấn đề đạo hiếu từ xưa đến nay đã được nhiều nhà khoa học
quan tâm, nghiên cứu dưới những góc độ và quy mô khác nhau. Liên quan đến đề tài
của luận án, có thể khái quát các công trình này thành các nhóm cơ bản sau:
1.1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến đạo hiếu và đạo hiếu ở
nhân” [63, tr.129].
Trong Nho giáo, bên cạnh việc trình bày khá chi tiết đạo hiếu của Nho giáo, Trần
Trọng Kim cũng đã chỉ ra những điểm tích cực và sức ảnh hưởng của Nho giáo đối với
đạo đức Việt Nam nói chung và đạo hiếu nói riêng. Đây là nguồn tư liệu rất quý để
nghiên cứu sinh tham khảo trong quá trình viết luận án.
Phan Bội Châu trong “Khổng học đăng” [120] khi bàn về “luân lý ở trong gia
đình” đã có những nét phác thảo về chữ hiếu và việc thực hiện chữ hiếu theo quan
điểm Nho giáo. Phân tích quan điểm của Khổng Tử về chữ hiếu, Phan Bội Châu nhấn
mạnh chữ hiếu là gốc của đạo nhân. Người con giữ được chữ hiếu với cha mẹ ắt sẽ giữ
được chữ đễ với anh em và đối với người trên thì không phạm thượng, càng không bao
giờ làm loạn. Ngược lại, nếu một người bất hiếu với cha mẹ, bất đễ với anh em thì
không thể sống tốt được: “Nếu có hạng người không thương cha mẹ mà bất hiếu,
không thương anh em mà bất đễ, mà vội nói rằng thương loài người, thương thế giới,
quyết không có lẽ ấy” [120, tr.181].
Bên cạnh đó, Phan Bội Châu cũng đề cập đến mối quan hệ giữa việc thực hiện
chữ hiếu của người con trong gia đình và trách nhiệm của người công dân trong xã hội.
6
Ông quan niệm, chữ hiếu không chỉ bó hẹp trong phạm vi gia đình, để làm tròn chữ
hiếu, người con nhiều khi phải gác lại hoặc nhờ người chăm sóc mẹ cha để thực hiện
nghĩa vụ làm người với quốc gia, xã hội. Quan điểm này, ta đã gặp trong hành động
của Nguyễn Trãi trong việc từ bỏ tiểu hiếu với cha để thực hiện đại hiếu với nước và
sau này được Hồ Chí Minh nhấn mạnh trong tư tưởng “hiếu với dân”.
Trong những năm 90 của thế kỷ XX, có rất nhiều công trình nghiên cứu về Nho
giáo và các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc, trong đó có thể kể đến một số
công trình như: “Nho giáo xưa và nay” của tác giả Quang Đạm [24], “Nho giáo và
phát triển ở Việt Nam” của tác giả Vũ Khiêu [57]; “Một số vấn đề về Nho giáo Việt
Nam” của tác giả Phan Đại Doãn [21], “Đến hiện đại từ truyền thống” của tác giả Trần
thân, hành đạo, nêu cao thanh danh đến đời sau để làm vinh hiển cho cha mẹ”, đó là
cách báo hiếu cao nhất. Hơn nữa, nếu đem cả thiên hạ mà phụng dưỡng cha mẹ thì
không có hiếu nào bằng. Tác giả Quang Đạm nhận định dương danh hiển thân “là điều
báo hiếu cao nhất của con đối với cha mẹ, và cũng là điều mong ước tha thiết nhất, tính
toán, xếp đặt tốn công nhất của cha mẹ về tương lai của con, vừa vì con, vừa vì mình,
hoặc nói một cách ngắn gọn là vì “nhà” cả thôi” [24, tr.175].
Những phân tích của Quang Đạm trong tác phẩm đã cung cấp cho nghiên cứu
sinh một cái nhìn khái quát về nội dung của chữ hiếu trong Khổng giáo. Mặt khác,
những luận điểm của tác giả cũng cho ta thấy sự ảnh hưởng và sự khác biệt của chữ
hiếu trong Nho giáo Trung Quốc và chữ hiếu trong văn hóa Việt Nam.
Trong cuốn “Một số vấn đề Nho giáo Việt Nam” [21] khi bàn khá nhiều về
đạo hiếu ở Việt Nam, Phan Đại Doãn cũng khẳng định: “Hiếu vốn là tinh thần, là
nội dung của đạo đức gia đình truyền thống Việt Nam hình thành từ rất xa xưa
trong phong tục tín ngưỡng như “thờ cúng tổ tiên”, “trọng lão” nhưng về sau lại
được giáo lý Nho giáo khẳng định thêm sâu sắc, chi tiết và thể chế hóa thành luân lý
xã hội. Các nhà nước dưới thời Lê – Nguyễn đều lấy hiếu để củng cố gia đình, lấy
hiếu làm chuẩn mực cho các giá trị xã hội, làm tiêu chuẩn để rèn luyện nhân cách,
8
lấy hiếu để ràng buộc con người với con người, bề dưới với bề trên và đặc biệt được
pháp luật hóa, chính sách hóa” [21,tr.144]. Theo tác giả, hiếu là nhân cách con người,
là gốc của nhân luân, là quan hệ đứng hàng dọc trong gia đình và dòng họ, có ý nghĩa
quan trọng nhất trong nguyên tắc ứng xử gia đình. Trong cuốn sách này, Phan Đại
Doãn đã có những nét phác thảo cơ bản về đạo hiếu trong gia huấn Việt Nam thời
phong kiến. Tác giả cũng khái quát vị trí, vai trò của đạo hiếu trong gia đình và xã hội;
những nội dung căn bản của đạo hiếu theo quan niệm của Nho giáo và ảnh hưởng của
nó đối với xã hội Việt Nam.
Trong ấn phẩm “Chữ Hiếu” của nhà nghiên cứu Hạnh Hương [49], ở phần “Cội
câu chuyện của nhà Phật, các tác giả đều hướng tới và tìm cách trả lời cho câu hỏi: vì
sao con cái phải báo hiếu cha mẹ? Việc báo hiếu cha mẹ phải thực hiện như thế nào?
Trong quá trình luận bàn về đạo hiếu, dù không tác giả nào phân tích một cách tỉ mỉ nội
hàm, ngoại diên của khái niệm hiếu; không trình bày một cách hệ thống những nội
dung của đạo hiếu, nhưng từ các cuốn sách này ta có thể tìm được những gợi ý rất sâu
sắc trả lời cho câu hỏi đạo hiếu là gì, nội dung căn bản của đạo hiếu bao gồm những
vấn đề nào? Đó là những tư liệu vô cùng quý giá cho nghiên cứu sinh trong quá trình
thực hiện luận án.
Cuốn “Giá trị văn hóa Việt Nam truyền thống và biến đổi” của tác giả Ngô Đức
Thịnh [124] đã trình bày khái quát những giá trị văn hóa tiêu biểu của Việt Nam, trong
đó khi nói về những giá trị văn hóa của gia đình người Việt truyền thống, tác giả đã nêu
lên quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu như Trần Đình Hượu, Phạm Côn Sơn, Vũ
Khiêu, Phan Ngọc. Tác giả đã đồng tình với quan điểm của Vũ Khiêu khi nhấn mạnh
hiếu là “nết đầu trong trăm nết”, “hành vi của người ta không gì lớn bằng chữ hiếu”;
Hiếu là phải làm cho cha mẹ được tôn trọng, nuôi dưỡng cha mẹ phải bằng tấm lòng
kính yêu chân thành; và mối quan hệ giữa người con có hiếu trong gia đình với người
công dân đức độ ngoài xã hội. Trích lời của nhà nghiên cứu Phan Ngọc, tác giả cũng
đề cập đến độ khúc xạ của chữ hiếu trong Nho giáo khi vào Việt Nam, nói cách khác,
“hiếu của Việt Nam có điểm độc đáo khác với hiếu của Trung Quốc”. Ở Việt Nam
10
không chỉ có hiếu của con cái đối với cha mẹ mà còn có cả “đại hiếu” là hiếu với nước
và trong lịch sử dân tộc, nhiều khi để thực hiện “đại hiếu” người ta phải hy sinh cái
“tiểu hiếu”.
Qua tác phẩm này, ta không chỉ tiếp nhận quan điểm của Ngô Đức Thịnh về hiếu
mà từ những nhận định của ông chúng ta hiểu thêm về quan điểm của các nhà nghiên
cứu trước đó khi nghiên cứu về đạo hiếu ở Việt Nam.
Gần đây nhất, cuốn sách Bản thể luận xã hội về đạo hiếu ở Việt Nam hiện nay do
lịch sử, đặc biệt là dựa trên nguyên lý tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội mà nghiên
cứu sinh sẽ luận chứng trong luận án này.
Cuốn sách“Đạo hiếu trong Nho gia” của tác giả Cao Vọng Chi, một nhà nghiên
cứu tôn giáo tâm huyết người Trung Quốc được nhà xuất bản Chính trị Quốc gia dịch
và xuất bản năm 2014 [15]. Đây là tác phẩm đã phân tích một cách thấu đáo về đạo
hiếu. Tác giả đã đưa vào sách bản gốc của “Hiếu kinh” và tập hợp 100 điều ghi chép
lời của các bậc thánh hiền Trung Quốc như Khổng Tử, Tăng Tử, Tử Tư và Mạnh Tử
luận bàn về các vấn đề cốt lõi của đạo hiếu. Bên cạnh đó, tác giả còn đề cập đến hàng
loạt vấn đề liên quan đến đạo hiếu, như cơ sở xác lập, bối cảnh xã hội hình thành và
quá trình truyền thụ đạo hiếu trong xã hội Trung Quốc. Ở phần cuối cuốn sách, Cao
Vọng Chi đã có những nghiên cứu, so sánh về tư tưởng đạo hiếu trong Nho gia với
Đạo giáo, Phật giáo. Những nghiên cứu, so sánh này đã cho chúng ta hiểu rõ và có
những lý giải sâu sắc hơn về đạo hiếu trong Nho gia.
Trong cuốn sách này, tác giả cũng đã dành cả một chương để viết về ảnh hưởng
của đạo hiếu trong Nho gia đối với các nước láng giềng. Qua cách nhìn, cách đánh giá
của một nhà nghiên cứu Trung Quốc, ta thấy được mối quan hệ của đạo hiếu trong nền
văn hóa Việt Nam và văn hóa Trung Quốc. Tuy nhiên, ở đây Cao Vọng Chi mới chỉ
nhìn thấy điểm tương đồng với ảnh hưởng một chiều từ đạo hiếu trong Nho gia đối với
Việt Nam mà chưa nhìn thấy điểm khác biệt của đạo hiếu ở Việt Nam vốn được nảy
sinh từ nền văn hóa Việt Nam. Đây là một vấn đề mà tác giả cần nghiên cứu và làm rõ
trong phần lý luận của luận án. Tuy nhiên, tài liệu này đã cung cấp cho tác giả cái nhìn
12
khá rõ ràng và toàn diện về đạo hiếu trong Nho gia, cung cấp cơ sở lý luận để tác giả
nghiên cứu vấn đề trong luận án của mình.
Đặc biệt, trong bài viết “Khảo cứu văn bản Bổ chính nhị thập tứ hiếu truyện diễn
nghĩa ca và văn bản chữ Nôm” của Sato Thụy Uyên – một nhà nghiên cứu người Nhật
Bản, đăng trong Kỷ yếu hội thảo khoa học Việt Nam học lần thứ IV, tổ chức tại Hà
giá trị đạo đức truyền thống của mỗi dân tộc; đạo hiếu ở Việt Nam được hình thành từ
rất sớm, gắn liền với đặc điểm của nền văn hóa bản địa và chịu sự ảnh hưởng khá sâu
sắc đạo hiếu của Nho giáo, Phật giáo, Thiên chúa giáo. Trong suốt quá trình hình thành
và phát triển, đạo hiếu luôn giữ một vị trí, vai trò quan trọng trong đời sống gia đình và
đạo đức xã hội. Những nghiên cứu này đã giúp nghiên cứu sinh có một cái nhìn tương
đối toàn diện và sâu sắc về đạo hiếu nói chung và đạo hiếu ở Việt Nam nói riêng. Đó
thực sự là những tri thức quý báu tạo tiền đề để nghiên cứu sinh tiếp tục đi sâu nghiên
cứu làm rõ phạm trù đạo hiếu, cơ sở hình thành cũng như những nội dung cơ bản của
đạo hiếu ở Việt Nam.
1.2. Những công trình nghiên cứu liên quan đến sự biến đổi của đạo hiếu ở
Việt Nam hiện nay
Tác giả Phan Châu Trinh, trong bài diễn thuyết “Đạo đức và luân lý Đông Tây”
[165] diễn ra tại Nhà hội Việt Nam ở Sài Gòn, đêm 19 tháng 11 năm 1925, khi “cốt ý
bàn về sự thay đổi luân lý của nước ta” đã phân biệt hai chữ đạo đức và luân lý. Tác giả
cho rằng, đạo đức là đạo đức, luân lý là luân lý; đạo đức gồm cả luân lý mà luân lý chỉ
là một phần trong đạo đức mà thôi. Đạo đức thì không có mới có cũ, có Đông có Tây,
nghĩa là đạo đức thì không bao giờ thay đổi được. Luân lý thì không thế. Luân lý
không phải là thứ thiên niên bất dịch mà có thể tùy thời mà thay đổi. Tác giả lấy thí dụ,
trong ứng xử của con cái khi cha mẹ qua đời, xứ này cha mẹ chết thì đem ăn thịt hoặc
đốt đi, mới gọi là hiếu, mà xứ kia thì phải làm đám táng có kèn trống linh đình mới là
phải đạo làm con [165].
15
Trong tác phẩm, Phan Châu Trinh cho ta thấy cách nhìn duy vật biện chứng của
một nhà tư tưởng khi bàn về luân lý nói chung và đạo hiếu nói riêng. Mặc dù tư tưởng
được đưa ra từ đầu thế kỷ XX nhưng đến nay vẫn còn có những ý nghĩa nhất định
trong việc khẳng định sự biến đổi của đạo hiếu và việc xây dựng luân lý trong xã hội
Việt Nam hiện nay.
luận án của mình.
Tác giả Nguyễn Thị Thọ trong bài “Từ đạo hiếu truyền thống, nghĩ về đạo hiếu
ngày nay” [125] đã khái quát sự hình thành, phát triển và biến đổi của đạo hiếu Việt
Nam. Tác giả nhận định, đạo hiếu Việt Nam được hình thành từ xa xưa và chịu ảnh
hưởng khá sâu sắc của đạo hiếu trong Nho giáo. Đề cập tới sự biến đổi của đạo hiếu ở
Việt Nam dưới tác động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tác
giả nhận định: sự biến đổi đó đang diễn ra theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu
cực, “bên cạnh những tấm gương hiếu thảo, những tấm lòng nhân nghĩa, ân tình với
cha mẹ, thì vẫn còn đó nhiều người con đã có thái độ bất nhân, bất nghĩa, thiếu tôn
trọng hoặc có hành vi hỗn láo, vô đạo đức với cha mẹ. Một số người coi việc nuôi
dưỡng, chăm sóc cha mẹ như một gánh nặng. Một số khác lại nghĩ rằng, chỉ cần đóng
góp tiền bạc để nuôi dưỡng cha mẹ là làm tròn bổn phận của người con” [130, tr.17].
Từ đó, tác giả đặt ra yêu cầu “đã đến lúc mọi gia đình cần để tâm soát xét lại, tái lập
gia đạo, gia phong”, cần tiếp tục khẳng định vai trò của chữ hiếu trong gia đình cũng
như ngoài xã hội.
Tác giả Lê Văn Hùng với “Sự biến đổi của đạo hiếu trong gia đình Việt Nam
hiện nay” [48] thì cho rằng đạo hiếu ở Việt Nam hiện nay đang bị biến dạng bởi ảnh
hưởng của tồn tại xã hội. Đó là sự phát triển của kinh tế thị trường và quá trình hội
nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Sự du nhập của lối sống và văn hóa phương Tây
đang ảnh hưởng trực tiếp đến lối sống, đạo đức của con người Việt Nam, làm biến đổi
các giá trị, chuẩn mực văn hóa gia đình.
17
Cuốn Đạo hiếu trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay, trong phần “Sự biến
đổi của đạo hiếu dưới tác động của kinh tế thị tường ở Việt Nam hiện nay” đã có nhiều
bài nghiên cứu phán ánh sự biến đổi của đạo hiếu, trong đó có thể kể đến:
Bài viết “Xu hướng biến đổi của đạo hiếu trong gia đình Việt Nam hiện nay”
của tác giả Hoàng Thúc Lân [70] đã phản ánh sự biến đổi của đạo hiếu ở Việt Nam
tránh để lại những hệ lụy xã hội cho thế hệ mai sau.
Cuốn Bản thể luận xã hội về đạo hiếu ở Việt Nam hiện nay của tác giả Nguyễn
Thị Thọ [129], trong phần “Tác động của kinh tế thị trường đến đạo hiếu ở Việt Nam
hiện nay” đã phân tích sự tác động của kinh tế thị trường đến đạo hiếu theo chiều
hướng tích cực và tiêu cực. Ở chiều hướng tích cực, trên phương diện xã hội, tác giả đề
cập đến sự hình thành các dịch vụ xã hội mới là: Trung tâm bảo trợ xã hội cho người
già; mô hình chăm sóc người cao tuổi tại nhà và thuê người giúp việc chăm sóc cha mẹ
của một số gia đình có điều kiện kinh tế. Trên phương diện gia đình, sự tác động của
kinh tế thị trường đã phá vỡ mô hình “gia đình lớn nhiều thế hệ” để thiết lập mô hình
nhỏ theo kiểu phương Tây, gọi là “gia đình hạt nhân” chỉ có hai thế hệ là cha mẹ và
con cái chung sống.
Ở chiều hướng tiêu cực, tác giả cho rằng mặt trái của kinh tế thị trường đang
làm băng hoại nhiều giá trị đạo đức, tấn công, len lỏi vào từng gia đình, phá vỡ những
chuẩn mực giá trị đạo hiếu truyền thống làm gia tăng tình trạng con cháu không nghe
lời ông bà, cha mẹ. Thậm chí con cháu đùn đẩy trách nhiệm thực hiện đạo hiếu gia
đình; hiện tượng con cháu bạo hành, bỏ rơi ông bà, cha mẹ đáng báo động. Nguyên
nhân của hiện tượng này được tác giả xem xét từ bốn phía: phía gia đình, dòng họ, phía
con cái, phía nhà trường và phía xã hội.
Như vậy, liên quan đến sự biến đổi của đạo hiếu ở Việt Nam hiện nay chưa có
nhiều sách viết, nhưng qua những đề tài khoa học, những bài báo đăng trên các tạp chí
bước đầu các tác giả đã đưa ra cách nhìn tổng quát về sự biến đổi của đạo hiếu ở Việt
Nam hiện nay. Các tác giả đều nhận thấy, sự biến đổi đó là một tất yếu do sự biến đổi
của tồn tại xã hội, sự tác động của nền kinh tế thị trường, của sự biến đổi gia đình, của
19
hội nhập quốc tế, v.v.. Sự biến đổi đó đã và đang diễn ra theo hai chiều hướng tích cực
và tiêu cực. Tuy nhiên, những nghiên cứu này đề cập đến sự biến đổi của đạo hiếu còn
mang tính tản mạn, thiếu những công trình chỉ ra được căn nguyên hay tính quy luật
Tác giả Phạm Côn Sơn trong cuốn “Nền nếp gia phong” [109] đã nhấn mạnh,
trước sự suy đồi của nền đạo lý gia phong, chúng ta cần phải chỉnh đốn lại, xây dựng
lại nền nếp. Theo tác giả, “để xây dựng một gia đình nền nếp, mỗi người chủ gia đình
phải để tâm nhận thức và hoạch định một khuôn mẫu và một tập quán cho tất cả mọi
người trong gia đình noi theo” [109, tr.122]; phải kiến tạo nền nếp gia phong, thiết lập
lại gia phả. Bởi lẽ, gia phả là “căn bản truyền nối của gia đình mà nhờ đó, người ta có
thể truy tìm được nguồn cội và những người cùng một huyết thống” [109, tr.127] và
“không có gia phả người ta sẽ không biết đâu là chứng cớ vịn vào đó để dạy bảo con
cháu” sống có đức độ, lo làm ăn và noi gương tổ tiên.
Trong cuốn “Hiếu hạnh xưa và nay” [13], tác giả Cao Văn Cang khẳng định, xã
hội ngày nay cần phải giáo dục chữ hiếu. Để giáo dục chữ hiếu cần phải “chấn chỉnh
lại nền nếp gia đình”. Tác giả nhận định: “Nếu như một thời vì mưu sinh khó khăn mà
những người lớn đã lơ là việc gia huấn, con cháu lớn khôn mau lẹ, gây ra những điều
lỗi lầm thì đó là cả một sự thiếu sót cần phải sửa đổi”[13, tr.131]. Chính vì vậy, trong
giáo dục con cháu hiện nay, mỗi gia đình cần phải có một gia huấn thích hợp. “Gia
huấn không những hướng dẫn mọi thành viên trong gia đình sống phải đạo làm
người... mà còn phải tiến triển theo hướng mới phục vụ xã hội ngày nay”[13, tr125].
Tác giả nêu lên “mục tiêu của gia huấn bây giờ” bao gồm nhiều vấn đề, trong đó, phải
“cổ động nam giới ý thức trách nhiệm là rường cột của gia đình cũng là thành viên chủ
lực của xã hội”; “cổ động nữ giới hăng hái gánh vác nhiệm vụ xã hội, song song với
nghĩa vụ trong gia đình và ở chức nghiệp”; con người phải “tránh thói ích kỷ nhỏ nhen,
xa rời những đam mê”; “phải biết tận dụng thời gian và tính tiết kiệm tiền bạc ... biết
giữ thăng bằng cho cuộc sống”; người cha, người mẹ “phải luôn quan tâm đến bổn
phận làm cha làm mẹ, có trách nhiệm với con cái. Không nên bê tha bỏ phế gia đình.
Không nên hưởng thụ một cách vô trách nhiệm”; làm con “phải có lòng hiếu thảo, tôn
21