Cơ sở cho sự phát triển của Phật Giáo ở Việt Nam hiện nay - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN THỊ HẰNG

CƠ SỞ CHO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT
GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Tôn giáo học
Mã số: 60. 22. 03. 09


CƠ SỞ CHO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHẬT
GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Tôn giáo học
Mã số: 60. 22. 03. 09

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn

CHƯƠNG 2. NGUYÊN NHÂN, ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN PHẬT GIÁO VIỆT
NAM HIỆN NAY 40
2.1. Nguyên nhân phát triển Phật giáo Việt Nam hiện nay 40
2.1.1. Nguyên nhân kinh tế - xã hội 40
2.1.2. Nguyên nhân nhận thức 62
2.1.3. Nguyên nhân tâm lý, lối sống và đạo đức 69

4
2.2. Điều kiện phát triển Phật giáo Việt Nam hiện nay 78
2.2.1. Quan điểm Đảng và Nhà nước 78
2.2.2.Quan điểm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam 83
2.3. Một vài nhận định về sự tồn tại, phát triển Phật giáo Việt Nam hiện nay 93
Tiểu kết chương 2 98
KẾT LUẬN 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội ra đời từ rất sớm, ngay trong
đời sống người tiền sử nó đã xuất hiện, tồn tại dưới hình thức các tín
ngưỡng nguyên thủy, tôn giáo đa thần như Vật tổ giáo, Tôtem giáo, Linh
thần giáo, Shaman giáo… Đến khi các dân tộc ra đời thì gắn với mỗi dân
tộc thường cũng có một tôn giáo xác định được gọi là tôn giáo dân tộc.
Theo đà phát triển của xã hội loài người dần dần cũng hình thành và lần
lượt ra đời những tôn giáo lớn mang tầm vóc khu vực và thế giới như Phật
giáo, Kitô giáo và Hồi giáo – những tôn giáo vẫn đang còn tồn tại và phát
triển cho tới tận ngày nay. Các tôn giáo này được tổ chức chặt chẽ từ trên
xuống dưới, từ trung ương xuống địa phương, có sự liên kết gắn bó giữa
các vùng miền, thậm chí giữa các quốc gia, khu vực và trên toàn thế giới

xỉnh hành tinh trái đất xích lại gần nhau hơn bao giờ hết. Lẽ ra, trong
những điều kiện như vậy thì tôn giáo với những quan niệm ấu trĩ, những tư
duy thần thoại về một đấng toàn năng siêu hình nào đó sẽ bị đẩy lùi về quá
khứ. Nhưng thực tế lại không phải như vậy. Niềm tin tôn giáo, những tư
duy thần thoại, những đấng toàn năng siêu hình lại không chỉ tồn tại, phát
triển mà còn xuất hiện mới nhiều hơn; không phải chỉ ở những nước nghèo,
kém phát triển mà lại ở chính những quốc gia có nền khoa học tiên tiến
nhất đang mạnh mẽ tiến bước vào kỷ nguyên kinh tế tri thức. Vậy thì
nguyên nhân là ở đâu?
Tôn giáo ra đời, theo các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác – Lênin, bắt
đầu từ ba nguồn gốc: nguồn gốc xã hội, nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc
tâm lý. Và các ông cũng đã khẳng định: tôn giáo không tồn tại vĩnh viễn

7
mà nó sẽ mất đi khi các cơ sở bên ngoài cho sự tồn tại, phát triển của nó
mất đi. Đã đến lúc nói được rằng, tôn giáo ngày nay đã không còn quá lệ
thuộc vào các cơ sở tồn tại ngoài nó nữa, mà nó đã tự sản sinh ra các cơ sở
cho sự tồn tại và phát triển riêng của nó.
Và sự ra đời, tồn tại của bất kỳ một tôn giáo nào cũng không nằm
ngoài quy luật đó. Phật giáo cũng vậy. Phật giáo là một tôn giáo thế giới,
Phật giáo ra đời ở Ấn Độ vào khoảng giữa thiên niên kỷ 1 TCN. Theo
truyền thuyết, người sáng lập ra đạo Phật là Thái tử Tất Đạt Đa. Không bao
lâu sau khi ra đời, nó đã lan tỏa rộng khắp các nước khu vực châu Á, và
ngày nay đang thâm nhập sang các châu lục khác. Phật giáo được truyền bá
vào Việt Nam rất sớm, ngay từ đầu Công nguyên với truyện cổ tích Chử
Đồng Tử, Phật giáo bám rễ và ăn sâu vào Việt Nam đến nay đã hai chục thế
kỷ. Trong quá trình đó, Phật giáo đã xây dựng cho mình truyền thống yêu
nước, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, góp phần quan trọng vào việc xây
dựng nền văn hóa của dân tộc, vào sự hình thành tư tưởng, đạo đức, lối
sống của nhân dân ta. Có thể coi đây là cơ sở do chính Phật giáo tạo ra cho

sở thờ tự, bộ máy tổ chức, lễ hội, quan hệ quốc tế… đã cho ta thấy một bức
tranh về tình hình Phật giáo khá toàn diện ở Việt Nam hiện nay.
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh có đề tài độc lập cấp Nhà
nước “Thực trạng, nguyên nhân, xu hướng vận động của Phật giáo ở Việt
Nam và những vấn đề đặt ra cho công tác lãnh đạo quản lý” [33], năm
2001 cũng có một phần nội dung đề cập đến vấn đề trên. Tác giả Thích
Thanh Tứ, có bài viết “Phật giáo Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới, xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc” [68] đăng trên tạp chí Nghiên cứu Phật học số
3/2006 cũng ít nhiều đề cập đến Phật giáo Việt Nam trong hoàn cảnh mới
hiện nay.

9
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Duy trong cuốn sách “Phật giáo với
văn hóa Việt Nam” [8], Nxb Hà Nội, năm 1999 hay tác giả Lê Đức Hạnh
trong bài viết “Một vài đóng góp của Phật giáo đối với văn hóa Việt Nam”
[22] đăng trên tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 5 năm 2005 đều chỉ ra được
những đóng góp của Phật giáo với văn hóa Việt Nam, những ảnh hưởng
của Phật giáo đối với đời sống người Việt, đó cũng chính là con đường
Phật giáo thâm nhập, ăn sâu, bám rễ vào xã hội Việt Nam, làm cho Phật
giáo có chỗ đứng vững chắc hơn, bền lâu hơn để ngày càng phát triển.
Trần Văn Giàu có tác phẩm “Đạo đức Phật giáo trong thời hiện đại”
[20] đã chỉ ra những giá trị đạo đức Phật giáo phù hợp, cần thiết trong đời
sống hiện đại. Dựa vào đó chúng ta có thể xem xét khả năng “cân bằng”,
“điều chỉnh” hành vi đạo đức của đạo đức Phật giáo, điều rất cần thiết trong
bối cảnh đạo đức xã hội hiện nay, để Phật giáo trở thành “nhu cầu” của xã
hội hiện đại.
`Liên quan đến vấn đề này còn có các luận văn, luận án như: Luận án
tiến sĩ Triết học của Tạ Chí Hồng với đề tài: “Ảnh hưởng của đạo đức Phật
giáo trong đời sống đạo đức của xã hội Việt Nam hiện nay”, (Hà Nội,
2004) [35]…

phân tích – tổng hợp, khái quát hóa, phỏng vấn, điều tra xã hội…
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn đóng góp một cách nhìn mới về sự phát triển của Phật giáo
ở Việt Nam hiện nay bằng cách xem xét trên quan điểm triết học Mác –
Lênin một số cơ sở riêng của sự phát triển Phật giáo.
7. Ý nghĩa của luận văn
Luận văn góp phần nhỏ vào công tác nghiên cứu tôn giáo nói chung,
Phật giáo nói riêng ở Việt Nam.

11
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập,
giảng dạy và nghiên cứu về tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo.
8. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội
dung của luận văn gồm 2 chương, 5 tiết.

cảnh thực tế hiện tại. Chúng tôi lấy quan điểm Mác, Ăngghen, Lênin về tôn
giáo là cơ sở lý luận để nghiên cứu vấn đề. Luận văn sẽ chỉ ra những điều
mới trong sự tồn tại, phát triển của một tôn giáo cụ thể là Phật giáo, ở một
hoàn cảnh cụ thể là Việt Nam mà những điều mới ấy là chưa có, chưa nảy
sinh trong hoàn cảnh chủ nghĩa Mác ra đời và các ông cũng chưa đề cập

13
đến. Chính vì vậy để phục vụ cho quá trình nghiên cứu, trước tiên cần phải
làm rõ một số khái niệm có liên quan.
1.1.1. Các khái niệm cơ bản
* Khái niệm tôn giáo
Tôn giáo ra đời từ rất sớm, tuy nhiên thuật ngữ “tôn giáo” hiện nay,
khó có thể hàm chứa được nội dung đầy đủ của cái được gọi là “tôn giáo”
từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây. Cũng như khái niệm Văn hóa, định nghĩa
về tôn giáo cũng đã được các nhà khoa học, nhà nghiên cứu nêu ra rất
phong phú.
Dựa trên cơ sở quan niệm duy vật về lịch sử, quan niệm của C. Mác
về tôn giáo Ăngghen đã đưa ra một định nghĩa có tính chất kinh điển từ góc
độ triết học về tôn giáo: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh
hư ảo vào đầu óc của con người – của những lực lượng bên ngoài chi phối
cuộc sống hàng ngày của họ, chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở
trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu trần thế” [55, tr.437].
Định nghĩa trên đã bao quát được cả bản chất của tôn giáo, con đường hình
thành ý thức hay niềm tin tôn giáo. Mối quan hệ cơ bản giữa tồn tại xã hội
và ý thức xã hội cũng được thể hiện rõ ở định nghĩa này.
Một trong những tiền đề của quan niệm Mác xít về tôn giáo phải kể
đến luận điểm của Phoiơbách: Không phải Chúa trời sáng tạo ra con người,
mà chính là con người sáng tạo ra Chúa trời theo hình ảnh của mình. Trong
định nghĩa trên, ta thấy rằng Ăngghen đã tiếp tục khẳng định luận điểm con
người sáng tạo ra tôn giáo. Tất nhiên con người ở đây là con người hiện

ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ các sáng tạo và phát minh
đó tức là văn hóa” [58, tr.431].

15
Dựa trên những quan điểm cơ bản của học thuyết Mác - Lênin tư
tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và căn cứ vào đặc điểm tín ngưỡng, tôn
giáo ở Việt Nam, Đảng và nhà nước ta quan niệm về ngồn gốc, bản chất
của tôn giáo: Tôn giáo phát sinh và tồn tại do sự bất lực của con người
trong cuộc đấu tranh chống lại thiên tai và áp bức xã hội. Khi cuộc sống
còn chưa tốt đẹp, trình độ văn hóa thấp kém và chưa có một thế giới quan
khoa học, thì con người còn tin vào sức huyền bí nào đó của tôn giáo.
* Khái niệm cơ sở:
Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học Vietlex, Nxb Đà
Nẵng thì Cơ sở được hiểu theo những nghĩa sau: “là cái làm nền tảng, trong
quan hệ với những cái xây dựng trên đó hoặc dựa trên đó mà tồn tại, phát
triển mà những cái khác hình thành, phát triển; Đơn vị cấp dưới cùng, nơi
trực tiếp thực hiện các hoạt động như sản xuất, công tác… của một hệ
thống tổ chức, trong quan hệ với các bộ phận lãnh đạo cấp trên; Người
hoặc nhóm người làm chỗ dựa cho tổ chức hoạt động, thường là hoạt động
bí mật” [70, tr.425]. (Không dùng hai nghĩa sau, hoặc cần thì rất ít theo
nghĩa là tổ chức tôn giáo có thể phân cấp thành Trung ương, cơ sở, ở đây,
chúng tôi lựa chọn nghĩa thứ nhất). Tôn giáo ra đời và tồn tại trên cơ sở
điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa đạo đức phù hợp với nó. Nhưng khi đã
tồn tại rồi, hoạt động của nó còn biến những tiền đề đã tạo ra nó thành cơ
sở riêng cho sự tồn tại và phát triển tiếp của nó.
* Khái niệm nguyên nhân
Trong sáu cặp phạm trù cơ bản của phép biện chứng duy vật có phạm
trù nguyên nhân và kết quả. Trong mối liên hệ với phạm trù kết quả thì
nguyên nhân được hiểu: là phạm trù chỉ sự tác động lẫn nhau giữa các mặt
trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau, gây ra một biến đổi nhất


17
tôn giáo thì việc cắt nghĩa nguồn gốc ra đời của tôn giáo là đặc biệt quan
trọng. Cũng nhờ vạch ra được nguyên nhân xuất hiện và tồn tại của tôn
giáo mà sự giải thích về nó mang tính khoa học. Lênin gọi toàn bộ những
nguyên nhân và điều kiện tất yếu làm nảy sinh tôn giáo là những nguồn gốc
của tôn giáo. Nguồn gốc đó bao gồm: Nguồn gốc xã hội, ngồn gốc nhận
thức và nguồn gốc tâm lý.
Nghiên cứu nguồn gốc của tôn giáo, Mác đưa ra luận điểm nổi tiếng:
“Con người sáng tạo ra tôn giáo chứ tôn giáo không sáng tạo ra con người”
[54, tr.569]. Mác hiểu con người chính là thế giới con người, là xã hội tồn
tại thực chứ không phải con người chung chung. Con người sáng tạo ra tôn
giáo nhưng lại bị tôn giáo tác động ngược trở lại.
Trong ba nguồn gốc của tôn giáo, Mác, Ăngghen, Lênin đều khẳng
định nguồn gốc xã hội chính là nguồn gốc quan trọng nhất, giữ vai trò chủ
đạo nhất cho sự ra đời của tôn giáo.
Nguồn gốc xã hội của tôn giáo là toàn bộ những nguyên nhân và
điều kiện khách quan của đời sống xã hội tất yếu làm nảy sinh và tái hiện
những niềm tin tôn giáo. Trong đó một số nguyên nhân và điều kiện gắn
với mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, một số khác gắn với mối
quan hệ giữa con người với con người.
Trong lịch sử tiến hóa của mình, ban đầu ở thời kỳ sơ khai, con
người sống phụ thuộc tự nhiên (thời kỳ săn bắt, hái lượm). Sau dần, con
người có nhu cầu cải tạo tự nhiên để tạo ra của cải vật chất ngày càng nhiều
hơn cho nhu cầu sinh tồn và phát triển khi mà số lượng thành viên trong
cộng đồng ngày càng nhiều thêm, nguồn sẵn có của tự nhiên không còn đáp
ứng đủ và tái sản xuất kịp. Mối quan hệ giữa con người với tự nhiên được
thực hiện thông qua những phương tiện và công cụ lao động mà con người
có. Những phương tiện và công cụ càng thô sơ, kém phát triển bao nhiêu


cầu sinh tồn và phát triển của mình. Nhưng khi ở trình độ, khả năng cải tạo
tự nhiên còn thấp kém, con người luôn cảm thấy yếu đuối và bất lực trước
các hiện tượng tự nhiên nên gán cho tự nhiên những sức mạnh huyền bí,
siêu nhiên không thể giải thích nổi. Đó là cơ sở cho sự nảy sinh các biểu
tượng thờ cúng. Ăngghen luận giải như sau: “Trong thời kỳ đầu của lịch
sử, chính những lực lượng thiên nhiên là những cái trước tiên được phản
ánh như thế, và trong quá trình phát triển hơn nữa thì ở những dân tộc khác
nhau, những lực lượng thiên nhiên ấy đã được nhân cách hóa một cách hết
sức hỗn tạp” [55, tr.437].
Trong cuộc sống, con người luôn tham gia vào hai mối quan hệ:
Quan hệ con người – tự nhiên, con người – con người (quan hệ xã hội).
Trong mối quan hệ xã hội có hai yếu tố giữ vai trò quyết định là tính tự
phát của sự phát triển xã hội ở những thời kỳ đầu lịch sử và ách áp bức giai
cấp cùng chế độ người bóc lột người còn kéo dài cho đến ngày nay.
Khi viết về nguồn gốc xã hội này, Ăngghen đã luận giải “Về sau bên
cạnh những lực lượng thiên nhiên lại có cả những lực lượng xã hội tác
động – những lực lượng này đối lập với con người, một cách cũng xa lạ lúc
đầu cũng không thể hiểu được đối với họ và cũng thống trị họ với cái vẻ tất
yếu bề ngoài giống như bản thân những lực lượng tự nhiên vậy” [55,
tr.437,438]. Những nhân vật ảo tưởng, siêu nhiên lúc đầu chỉ phản ánh
những sức mạnh huyền bí của các lực lượng tự nhiên, thì nay lại vì thế, có
cả những thuộc tính xã hội và trở thành những đại biểu cho các lực lượng
lịch sử.
Trong tất cả các hình thức kinh tế - xã hội trước hình thái kinh tế - xã
hội Cộng sản chủ nghĩa, những mối quan hệ xã hội đã phát triển một cách
tự phát. Những quy luật phát triển của xã hội biểu hiện như là lực lượng mù
quáng, trói buộc con người và ảnh hưởng mang tính quyết định đến số phận

20
họ. Khi xã hội loài người xuất hiện tư hữu và hình thành giai cấp đối kháng

trong đời sống của người vô sản và người tiểu chủ, cũng đe dọa đem lại cho
họ và đang đem lại cho họ sự phá sản “đột ngột”, “bất ngờ”, “ngẫu nhiên”,
làm cho họ phải diệt vong, biến họ thành một người ăn xin, một kẻ bần
cùng, một gái điếm, và dồn họ vào cảnh chết đói, đó là nguồn gốc sâu xa
của tôn giáo hiện đại mà người duy vật phải chú ý đến trước hết và trên hết,
nếu người ấy không muốn cứ mãi là một người duy vật sơ đẳng” [46,
tr515,516].
Trong các xã hội có đối kháng giai cấp, sự áp bức giai cấp thì chính
chế độ người bóc lột người là nhân tố quan trọng làm nảy sinh tôn giáo.
Những người bị bóc lột trong các xã hội ấy, không những chỉ chịu sự tác
động của lực lượng xã hội mù quáng mà họ còn bị bần cùng hóa cả về mặt
kinh tế, chính trị, bị tước đoạt những phương tiện và khả năng phát triển
tinh thần. Bị dồn nén cả về mặt thể chất lẫn tinh thần, không thể tìm thấy
lối thoát ở cuộc sống hiện thực, nhưng quần chúng nhân dân bị áp bức lại
tìm thấy một lối thoát – lối thoát ở trên trời, ở thế giới bên kia. Luận giải
vấn đề này, Lênin viết “Sự bất lực của giai cấp bị bóc lột trong cuộc đấu
tranh chống bọn bóc lột tất nhiên đẻ ra lòng tin vào cuộc đời tốt đẹp hơn ở
thế giới bên kia, cũng giống y như sự bất lực của người dã man trong cuộc
đấu tranh chống thiên nhiên đẻ ra lòng tin vào thần thánh, ma quỷ, vào
những phép màu…” [45, tr169,170].
Chính vì vậy trong Lời nói đầu của Góp phần phê phán triết học
pháp quyền của Hêghen, Mác đã đưa ra luận điểm kinh điển về bản chất
của tôn giáo: “Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn
của hiện thực, vừa là sự phản kháng chống lại sự nghèo nàn hiện thực ấy.

22
Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới
không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không
có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [54, tr570].
Ở đây có hai điểm cần lưu ý: Một là, sự bất lực của quần chúng bị

đạt được ở một mức độ nào đó. Ở đâu mà con người “chưa biết” thì tôn
giáo còn có khả năng thay thế cho khoa học để giải thích những điều “chưa
biết” ấy” [51, tr.7]. Mà nghịch lý lại đặt ra là thế giới thì vô cùng vô tận,
những điều con người chưa biết “tỷ lệ thuận” với những điều con người đã
biết. Càng khám phá nhiều con người càng thấy những gì mình biết là quá
ít với những điều chưa biết. Chính vì vậy, một nhà khoa học đã nói: Càng
biết nhiều, con người càng ít giám quả quyết những gì mình biết.
Nguồn gốc nhận thức của tôn giáo còn gắn với đặc điểm của quá
trình nhận thức. Vấn đề này đã được Lênin phân tích rất sâu sắc. Quá trình
nhận thức là quá trình đầy phức tạp và mâu thuẫn. Nó là sự thống nhất biện
chứng giữa nội dung khách quan và hình thức chủ quan. Những hình thức
phản ánh thế giới hiện thực càng đa dạng, phong phú bao nhiêu, thì con
người càng có khả năng nhận thức thế giới xung quanh sâu sắc và đầy đủ
bấy nhiêu. Nhưng mỗi một hình thức mới của sự phản ánh thế giới hiện
thực (từ cảm giác đến tri giác, đến biểu tượng, rồi từ biểu tượng đến khái
niệm, phán đoán suy lý) không những tạo ra khả năng mới để nhận thức thế
giới sâu sắc hơn mà còn tạo ra khả năng “xa rời” hiện thực, phản ánh sai
lầm, đó chính là sự tuyệt đối hóa, sự cường điệu mặt chủ thể của nhận thức
con người (hay hình thức chủ quan của nó) biến nó thành cái không có nội
dung khách quan, không còn cơ sở thế gian, nghĩa là thành cái siêu nhiên,
thần thánh.

24
Khi nói về nguồn gốc nhận thức của tôn giáo, của những quan niệm
về thần, Lênin cũng rất tán đồng với ý kiến của Phơbách, cho rằng: Thượng
đế siêu hình không phải là cái gì khác mà là sự tập hợp, là toàn bộ những
đặc tính chung nhất rút ra từ giới tự nhiên, song con người nhờ vào sức
tưởng tượng, tức là chính bằng phương pháp tách rời như thế khỏi bản chất
cảm tính, khỏi vật chất của giới tự nhiên lại đem giới tự nhiên biến thành
một chủ thể hay là một thực thể độc lập. Trong Bút ký triết học, Lênin viết

lại nó” [57, tr.15]. Đó là ý kiến của Xpirkin. Và dù Mác, Ăngghen, Lênin
rất chú ý đến nguồn gốc xã hội, nhận thức của tôn giáo thì các ông vẫn rất
quan tâm đến một nguồn gốc khác, nguồn gốc thứ ba, nguồn gốc tâm lý.
1.1.4. Cơ sở tâm lý của sự ra đời, tồn tại tôn giáo
Các nhà triết học trước đó và cả các nhà kinh điển của chủ nghĩa
Mác - Lênin đã không chỉ một lần nhắc đến luận điểm :“Sự sợ hãi đã tạo
nên thần linh”. Vậy sợ hãi ở đây là sợ hãi điều gì? Sợ hãi những hiện tượng
tự nhiên thần bí: mưa, gió, sấm chớp… để rồi sinh ra Thần Mưa, Thần Gió,
Thần Sấm, Thần Chớp… Trong tự nhiên cuộc sống nguyên thủy xa xưa,
rừng cây chật đất, thú và người sống lẫn bên nhau, người săn thú nhiều
nhưng thú ăn thịt người cũng không ít, một kẻ thù lớn đối với con người là
thú dữ ngay lập tức cũng được tôn lên làm thần để thờ. Nhưng các nhà kinh
điển chú ý đến sự sợ hãi trước các hiện tượng xã hội nhiều hơn. “Sự sợ hãi
trước các thế lực mù quáng của chủ nghĩa tư bản, - mù quáng vì nhân dân
không thể đoán trước được nó, - là thế lực bất cứ lúc nào trong đời sống vô
sản và người tiểu chủ, cũng đe dọa đem lại cho họ sự phá sản “đột ngột”,
“bất ngờ”, ngẫu nhiên làm cho họ phải diệt vong…” [46, tr.515]. Như vậy
từ sự sợ hãi nảy sinh nhu cầu chở che, chế ngự, né tránh, triệt tiêu… Nghĩa
là một sự phản ứng chống trả nỗi sợ hãi một cách thụ động qua những hành

Trích đoạn Nguyên nhân tâm lý, lối sống và đạo đức Quan điểm Đảng và Nhà nước
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status