Chính sách tiền tệ của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập - Pdf 58

-+
TIỂU LUẬN:
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
VIỆT NAM TRONG BỐI
CẢNH HỘI NHẬP
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
ThS. TRẦN THỊ BÍCH DUNG.
[TP.HCM 10/2011]
THÀNH VIÊN NHÓM:
Hoàng Phi Phụng
Võ Ngọc Thanh Tâm
Đỗ Thị Thuỳ
Nguyễn Thị Cẩm Tú
Trương Thuý Vy
Đại học Kinh Tế TP.HCM Tiểu luận: CSTTVN BỐI CẢNH HỘI
NHẬP
MỤC LỤC Trang
LỜI MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG
I. CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ : 3
1. Khái niệm: 3
2. Các Mục Tiêu : 3
3. Vị trí CSTT : 3
4. Các công cụ: 3
5. Nguyên tắc thực hiện: 3
II. CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VIỆT NAM TRƯỚC HỘI NHẬP: 4
1. Hoạt động thị trường mở: 4
2. Tỉ lệ dự trữ bắt buộc: 4
3. Đánh giá: 4
4. Hạn chế: 5
III. CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI

Cuối cùng nhóm chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ths.Trần Thị Bích Dung đã
hướng dẫn chúng tôi hoàn thành bài tiểu luận này. Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng
sẽ không tránh khỏi những sai sót khi làm tiểu luận, chúng tôi mong được sự góp ý
chân thành từ phía cô và các bạn để lần sau hoàn thành tốt hơn.
Chúng tôi chân thành cảm ơn!
Giảng viên hướng dẫn: ThS Trần Thị Bích Dung3
Đại học Kinh Tế TP.HCM Tiểu luận: CSTTVN BỐI CẢNH HỘI
NHẬP
I. CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ :
1. Khái niệm:
CSTT là một chính sách kinh tế vĩ mô do NHTW khởi thảo và thực thi,
thông qua các công cụ, biện pháp của mình nhằm thực hiện các mục tiêu vĩ mô.
2. Các Mục Tiêu :
- Ổn định giá trị đồng tiền.
- sự tăng hay giảm giá trị đồng tiền của nước mình.
- Tạo công ăn việc làm: CSTT có ảnh hưởng trực tiếp tới việc sử dụng có hiệu
qủa các nguồn lực xã hội,quy mô sản xuất, kinh doanh và từ đó ảnh hưởng
tới tỷ lệ thất nghiệp của nền kinh tế.
- Tăng trưởng kinh tế .
3. Vị trí CSTT :
CSTT là một trong những chính sách quan trọng nhất trong hệ thống các
công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước vì nó tác động trực tiếp vào lĩnh vực lưu thông
tiền tệ.
4. Các công cụ:
- Mua bán chứng khoán của chính phủ: Khi NHTW mua (bán) chứng khoán
thì sẽ làm cho cơ số tiền tệ tăng lên (giảm đi) dẫn đến mức cung tiền tăng lên
(giảm đi).
- Thay đổi tỉ lệ dự trữ bắt buộc: khi tăng (giảm ) tỷ lệ dự trữ bắt buộc sẽ làm
giảm( tăng) số nhân tiền tệ, do đó làm khả năng cho vay của các NHTM
giảm (tăng), làm cho lãi suất cho vay tăng (giảm),từ đó làm cho lượng cung

hưởng chênh lệch lãi suất, khuyến khích các tổ chức tín dụng cho vay trong
nước. ngày 1/12/2000 ngân hàng nhà nước nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc lên
12%
3. Đánh giá:
Giảng viên hướng dẫn: ThS Trần Thị Bích Dung5
Đại học Kinh Tế TP.HCM Tiểu luận: CSTTVN BỐI CẢNH HỘI
NHẬP
- Việc vận hành các công cụ của chính sách tiền tệ cho thấy Việt Nam từng
bước hòa nhập với thông lệ quốc tế.
- Nhất quán quan điểm cơ bản: từng bước một chuyển đổi từ việc sử dụng
các công cụ trực tiếp sang gián tiếp để quản lý mức cung tiền có hiệu quả
hơn.
- Góp phần ổn định giá trị đồng bản tệ.
- Góp phần tăng trưởng kinh tế.
4. Hạn chế:
- Việc thực hiện các quy định về dự trữ bắt buộc của các tổ chức tín dụng
chưa nghiêm, tiềm ẩn các nguy cơ khủng hoảng khả năng thanh toán. Mặt
khác đối tượng phải áp dụng quy chế dự trữ bắt buộc còn chưa đầy đủ, các
đối tượng áp dụng thì mức độ tỷ lệ dự trữ bắt buộc còn khác nhau – có nhiều
yếu tố hợp lý. Như vậy ngân hàng nhà nước vẫn chưa thực sự tạo ra được
một “sân chơi bình đẳng” đối với các tổ chức tín dụng.
- Tác dụng của công cụ tỉ lệ dự trữ bắt buộc này còn hạn chế, chưa biểu hiện
rõ nét, giai đoạn này, cùng với lãi suất thị trường, lãi suất tái cấp vốn, chúng
ta đã liên tục hạ thấp tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tuy nhiên vẫn chưa thúc đẩy nền
kinh tế phát triển rõ rệt, kết quả biểu hiện còn khá khiêm tốn.
- Trong điều hành chính sách chiết khấu dường như ta chỉ nặng về điều chỉnh
lãi suất chiết khấu mà chưa chú ý đến “cửa sổ chiết khấu” của ngân hàng
trung ương đối với các ngân hàng thương mại.
- Công cụ thị trường mở chưa thực sự trở thành một công cụ điều tiết linh
hoạt, chủ yếu của ngân hàng thương mại ở Việt Nam mặc dù theo lý thuyết


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status