Bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nông nghiệp theo pháp luật đất đai từ thực tiễn tỉnh quảng ninh - Pdf 58

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG THỊ LAN

BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
NÔNG NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG THỊ LAN

BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
NÔNG NGHIỆP THEO PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NINH

Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRẦN ĐÌNH HẢO

HÀ NỘI, năm 2019


tính hiệu quả, hữu ích khi áp dụng vào trong thực tiễn.
Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Hoàng Thị Lan


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BỒI
THƯỜNG, HỖ TRỢ, KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP... 8
1.1.Lý luận về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp ... 8
1.2 Lý luận pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp........................................................................................................... 20
Tiểu kết chương 1 ........................................................................................ 24
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI VỀ BỒI THƯỜNG,
HỖ TRỢ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI TỈNH..25
QUẢNG NINH ...........................................................................................................25
2.1. Thực trạng quy định pháp Luật đất đai về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà
nước thu hồi đất nông nghiệp. ..................................................................... 25
2.2. Thực tiễn áp dụng pháp Luật đất đai về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà
nước thu hồi đất nông nghiệp tại tỉnh Quảng Ninh. ................................... 38
Tiểu kết chương 2 ........................................................................................ 59
Chương 3. GIẢI PHÁP TIẾP TỤC HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ KHI NHÀ
NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI TỈNH QUẢNG NINH ...........61
3.1.Những yêu cầu, đòi hỏi khách quan của của việc tiếp tục hoàn thiện
pháp Luật đất đai về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất từ thực
tiễn tỉnh Quảng Ninh. .................................................................................. 61


XHCN:

Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, tỉnh Quảng Ninh đang là một trong những tỉnh có tốc độ phát
triển kinh tế nhanh và thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư. Một trong những
yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư là tiến độ bàn giao mặt bằng cho dự
án. Điều này liên quan trực tiếp đến các quy định về thu hồi đất, để nhanh
chóng bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư thì vấn đề giải quyết quyền lợi của
người bị thu hồi đất đó là việc bồi thường, hỗ trợ về đất, tài sản gắn liền trên
đất và các quyền lợi liên quan đến việc thu hồi đất cần phải được đảm bảo.
Tuy nhiên, từ trước đến nay việc bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
luôn là vấn đề phức tạp, nó không chỉ dừng lại ở việc Nhà nước được quyền
thu hồi thì Nhà nước được quyền áp đặt mọi chính sách để giải quyết hậu quả
sau thu hồi đất mà đòi hỏi những chính sách giải quyết này phải đảm bảo
được quyền lợi chính đáng cho người bị thu hồi. Việc bồi thường, hỗ trợ
không phải trong mọi trường hợp đều giống nhau, bồi thường, hỗ trợ đối với
đất ở, đất phi nông nghiệp sẽ khác với bồi thường, hỗ trợ đất nông nghiệp.
Xét về phương diện nhà đầu tư, ở đây nhà đầu tư có thể là chính Nhà nước ,
có thể là nhà đầu tư tư nhân ( tư nhân trong trường hợp này được hiểu là nhà
đầu tư không phải là Nhà nước ), để đầu tư một lĩnh vực nào thì nhà đầu tư
phải xem xét kỹ lưỡng đến các yếu tố: chi phí đầu tư, nhu cầu của thị trường,
vị trí địa lý, thủ tục pháp lý, chính sách thu hút đầu tư, mức độ cạnh tranh,
nguồn lao động, nguồn nguyên liệu. Trên thực tế, chi phí đầu tư đóng vai trò
rất quan trọng trong việc quyết định đầu tư của các nhà đầu tư. Tại Quảng
Ninh, phần lớn các dự án đầu tư được thực hiện ở những địa phương có tỷ lệ

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vì vấn đề bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đã và đang trở thành
vấn đề cấp thiết mang tính thời sự và thường xuyên được các phương tiện
truyền thông đăng tải cũng như có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình bồi

2


thường, hỗ trợ và ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý người bị thu hồi đất. Vì thế,
đã có rất nhiều công trình nghiên cứu các vấn đề từ có liên quan như thu hồi
đất nông nghiệp, bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi vì mục
đích phát triển kinh tế, xã hội vì lợi ích quốc gia công cộng…Cho đến các vấn
đề trực diện của đề tài là bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông
nghiệp tiêu biểu như các công trình: Nguyễn Minh Tuấn, “Thu hồi đất vì mục
đích kinh tế ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ (năm 2013); Phạm Thu
Thùy " Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam" Luận
án Tiến sĩ (năm 2014); Đào Danh Dũng, “ Thu hồi đất nông nghiệp để phát
triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo pháp Luật đất đai từ
thực tiễn huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ (năm
2018), Trần Nhật Quân, “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình Định”, Luận văn thạc sĩ
(2018),…
Mặc dù cùng các quy định pháp luật điều chỉnh, nhưng ở mỗi luận văn
sẽ gắn với thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật ở từng địa phương. Do
đặc điểm về kinh tế, xã hội… nên ở tỉnh Quảng Ninh cũng sẽ có mức giá bồi
thường và các biện pháp hỗ trợ khác nhau cho từng đối tượng được bồi
thường hỗ trợ. Trong quá trình bồi thường, hỗ trợ về đất nông nghiệp cũng
phát sinh nhiều vướng mắc như về đơn giá bồi thường, điều kiện, đối tượng
được bồi thường, hỗ trợ, các khoản hỗ trợ khác cần bổ sung.
Do vậy, trong luận văn này, ngoài việc nghiên cứu về các vấn đề truyền

- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng
cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước
thu hồi đất nông nghiệp từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:

4


Các quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
nông nghiệp và thực trạng áp dụng những quy định về bồi thường, hỗ trợ khi
Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp.
4.1.2. Phạm vi nghiên cứu:
Các quy định pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật về về thu hồi
đất, bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp theo luật Luật
đất đai 2013 từ thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Ninh.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn dựa vào phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, dựa trên những quan điểm, định hướng của Đảng về xây dựng
Nhà nước và pháp luật trong thời kỳ đổi mới;
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích: Dựa trên các quy định của pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ Khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp để phân tích nội dung
điều luật, phân tích các dữ liệu định lượng. Căn cứ vào thực trạng thực hiện các
dự án có thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh để phân tích, làm
rõ quá trình thực hiện pháp luật của tỉnh.
Phương pháp đánh giá: Sau khi phân tích các quy định pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp từ thực tiễn tỉnh Quảng
Ninh từ đó tác giả đưa ra quan điểm đánh giá những ưu điểm và những hạn chế

những quy định phù hợp với đòi hỏi thực tiễn của địa phương.
Từ đó, tạo cơ sở để nhà nhà lãnh đạo, đại biểu quốc hội của tỉnh nhìn nhận
những vấn đề tồn đọng để góp ý kiến với cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa
đổi, bổ sung những quy định không còn phù hợp, thiếu khách quan trong Luật
đất đai năm 2013 cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn.

6


7. Cơ cấu của Luận văn
Để làm sáng tỏ các vấn đề nêu trên, tác giả bố cục luận văn gồm các
phần sau: Mục lục; Danh mục các chữ viết tắt; Mở đầu; chương 1; chương 2;
chương 3; kết luận; Danh mục tài liệu tham khảo.
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật bồi thường, hỗ trợ khi Nhà
nước thu hồi đất nông nghiệp.
Chương 2: Thực trạng pháp Luật đất đai về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước
thu hồi đất nông nghiệp tại tỉnh Quảng Ninh.
Chương 3: Giải pháp tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp
luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp tại tỉnh
Quảng Ninh.

7


Chương 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BỒI THƯỜNG, HỖ
TRỢ, KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP
1.1.Lý luận về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa thu hồi đất nông nghiệp
- Khái niệm thu hồi đất nông nghiệp

hành chính, định nghĩa cũng thể hiện được việc thu hồi đất là thu hồi lại
quyền sử dụng đất hoặc thu hồi lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân
xã, phường, thị trấn… đây là điểm thể hiện hạn chế của định nghĩa bởi việc
thu hồi đất đã giao ngoài các chủ thể được đề cập còn thu hồi đất đã giao của
hộ gia đình, cá nhân. Vậy khi Nhà nước thu hồi đất của cá nhân, hộ gia đình
thì việc thu hồi đất được xử lý như thế nào, rõ ràng đối với nội dung này, Luật
đất đai năm 2003 với các văn bản hướng dẫn luật không có sự thống nhất.
Nhận thấy những điểm hạn chế này, thông qua thực tiễn thực hiện và
yêu cầu của nền kinh tế. Để đất nước hội nhập nhanh chóng với xu thế phát
triển của thế giới, theo kịp các nước phát triển trong khu vực, bắt buộc Nhà
nước phải nhanh chóng có những quyết sách phù hợp với thực tế, mà cụ thể
là Nhà nước phải sửa đổi những điểm chưa phù hợp của luật và các văn bản
hướng dẫn luật trong đó có Luật đất đai năm 2003.
Việc sửa đổi, bổ sung những quy định liên quan đến thu hồi đất, bồi
thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là điều tất yếu, bởi một trong những
điều kiện để nền kinh tế quốc gia phát triển đó là thu hồi các nguồn vốn đầu
tư và nước ta. Mà một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư
của các nhà đầu tư là điều kiện chính sách của Quốc gia cũng như của địa
phương về thu hút đầu tư. Khi các quy định về thu hồi, bồi thường, hỗ trợ khi
Nhà nước thu hồi đất nói chung cũng chính là đối với đất nông nghiệp nói
riêng được quy định cụ thể, phù hợp với xu thế, cân đối được quyền lợi cũng
như trách nhiệm của các bên có liên quan thì việc thu hồi, bồi thường, hỗ trợ

9


sẽ được tiến hành nhanh chóng, đem lại lợi ích cho các bên, góp phần ổn định
an ninh xã hội và giúp kinh tế phát triển vững mạnh. Hơn nữa pháp luật quy
định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, người sử dụng đất được Nhà nước giao
đất, cho thuế đất, được Nhà nước thừa nhận quyền sử dụng hợp pháp, Nhà


thu hồi đất vì mục đích phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia công
cộng, điều này vô hình trung đã dẫn đến nhiều trường hợp trong thực tế doanh
nghiệp lớn xin quy hoạch để phát triển kinh tế doanh nghiệp nhưng lại được
núp dưới vỏ bọc dự án phát triển kinh tế vì lợi ích quốc gia và thuộc trường
hợp Nhà nước thu hồi đất, còn doanh nghiệp nhỏ hay các cá nhân, hộ gia đình
khác cũng đang hoạt động kinh tế, cũng đang trực tiếp sản xuất trên diện tích
đất bị thu hồi để phát triển kinh tế gia đình, từ đó góp phần ổn định kinh tế địa
phương lại không được xem trọng.
Ở một khía cạnh khác, mặc dù Luật đất đai năm 2013 và các văn bản
liên quan không quy định nhưng tác giả nhận thấy bản chất của việc Nhà
nước thu hồi đất cũng gần giống với trường hợp trưng mua bởi trưng mua là
việc ép buộc người có tài sản phải bán cho Nhà nước tài sản đó trong trường
hợp nhất định, cũng giống như những trường hợp thuộc Nhà nước thu hồi
đất, bằng quyết định thu hồi đất, chủ sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ bàn
giao đất cho Nhà nước. Ở đây xét trường hợp Nhà nước thu hồi là đúng với
quy định của pháp luật còn trường hợp thu hồi bất hợp pháp tức việc thu hồi
đất không thuộc các trường hợp Nhà nước thu hồi đất thì về bản chất người sử
dụng đất không có trách nhiệm bàn giao đất cho Nhà nước. Tuy nhiên, giữa
trưng mua và trường hợp Nhà nước thu hồi đất có điểm khác nhau cơ bản, đó
là khi trưng mua thì Nhà nước chỉ phải chi trả khoản tiền, tài sản tương ứng
với giá trị thực tế của quyền sử dụng đất và tài sản bị trưng mua, còn khi thu
hồi đất thì Nhà nước bồi thường khoản tiền hoặc diện tích đất có giá trị tương
đương với giá trị quyền sử dụng đất, tài sản bị thu hồi, ngoài ra Nhà nước còn
áp dụng cách chính sách hỗ trợ khác nhau nhằm đảm bảo cuộc sống sau thu
hồi cho người bị thu hồi đất.
Tương tự với trường hợp trưng mua thì Nhà nước cũng có thể áp dụng
việc trưng dụng quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền trên đất trong

11

12


thuẫn đó sẽ bộc lộ hay không được bộc lộ ra ngoài tùy thuộc vào nhiều yếu tố.
Nhưng đều đó sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến tình hình ổn định chính trị, xã hội,
sự phát triển kinh tế của địa phương bị thu hồi đất cũng như Quốc gia.
- Đặc điểm của thu hồi đất nông nghiệp
Thứ nhất, nhà nước thu đất nông nghiệp là thu hồi tư liệu sản xuất và
đối tượng sản xuất của người bị thu hồi đất, điều này ảnh hưởng không nhỏ
đến đời sống, đến thu nhập của người bị thu hồi đất.
Thứ hai, việc thu hồi đất nông nghiệp đồng nghĩa với việc chấm dứt
quyền sử dụng đất của người bị thu hồi đất, chấm dứt các quyền sử dụng đối
với các tài sản gắn liền trên đất không phục hồi được như cây trồng, vật nuôi,
bờ đầm, cầu cống…
Thứ ba, việc thu hồi đất nông nghiệp phần lớn có nhiều thuận lợi hơn
so với thu hồi các loại đất khác, do không phải tốn nhiều chi phí phá dỡ, san
lấp mặt bằng.
Thứ tư, thu hồi đất nông nghiệp mang lại giá trị lợi nhuận lớn cho chủ
đầu tư, do giảm bớt các chi phí phụ, đặc biệt giá thành bồi thường, hỗ trợ cho
đất nông nghiệp thấp hơn rất nhiều so với đất phi nông nghiệp
- Ý nghĩa của thu hồi đất nông nghiệp
Việc thu hồi đất nông nghiệp nhằm phục vụ các lợi ích Quốc gia như:
an ninh, quốc phòng, phát triển kinh tế xã hội, về phương diện rộng sẽ góp
phần lớn thúc đẩy kinh tế Quốc gia phát triển, là nền tảng vững chắc để đẩy
mạnh kinh tế địa phương.
Việc thu hồi đất nông nghiệp sẽ góp phần đưa địa phương mang một
diện mạo mới về kinh tế, xã hội, tạo nguồn cảm hứng lao động, thu hút nhân
lực và nhân tài về địa phương lao động, sáng tạo.
Thu hồi đất nông nghiệp góp phần giảm bớt lãng phí trong sử dụng đất
nông nghiệp như đối với các diện tích đất ít sử dụng, sử dụng không hiệu quả,


14


định những dự án đó thuộc Nhà nước thu hồi nên gây ra hiện tượng lạm dụng
pháp luật mang lại lợi ích cho doanh nghiệp nhưng gây thiệt hại cho người bị
thu hồi đất.
Ba là, thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai: Vì Nhà nước là
người đại diện thực hiện quyền sở hữu về đất đai, nên Nhà nước phải thể hiện
quyền quản lý nghiêm ngặt đối với đất đai, việc người sử dụng đất không
đúng quy định của pháp luật thì sẽ bị xử lý. Điều này góp phần đảm bảo tính
nghiêm minh của pháp luật, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất.
Bốn là, thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự
nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người. đây là một trong
những trường hợp cho thấy Nhà nước luôn quan tâm đến quyền lợi của người
sử dụng đất. khi người sử dụng đất không có nhu cầu sử dụng thì sẽ được Nhà
nước thu hồi, khi có những yếu tố khách quan bất lợi, ảnh hưởng đến đời sống
của người sử dụng đất cũng được Nhà nước quan tâm thu hồi đất, tạo lập nơi
ở mới cho người bị thu hồi đất.
1.1.3. Khái niệm bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước khi Nhà nước
thu hồi đất nông nghiệp
1.1.3.1. Khái niệm bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
Xuất phát từ việc xác định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, như đã nêu ở
các phần trên quyền sử dụng đất của người sử dụng đất được Nhà nước bảo
hộ nên khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của người sử dụng đất đã trực
tiếp xâm phạm đến quyền lợi của họ thì Nhà nước phải có những chính sách
phù hợp nhằm hoàn trả lại cho họ những giá trị vật chất khác tương đương với
giá trị họ bị mất đi.
Khoản 12 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 giải thích: Bồi thường về đất
là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi

Trước kia, Luật đất đai năm 1987 và Luật đất đai năm 1993 sử dụng
thuật ngữ “ Đền bù” thay cho “ Bồi thường”. Theo tác giả, đền bù là việc Nhà

16


nước đền trả lại cho người bị thiệt hại giá trị tương đương với tài sản bị thiệt
hại, điều này có nghĩa là người bị thu hồi đất mà diện tích đất đó được xác
định có giá trị là A thì sẽ được đền bù với giá trị là A, người bị thu hồi đất
không được trả thêm bất kỳ khoản tiền hay vật chất nào nữa.
Còn đối với cụm từ “Bồi thường” trong lĩnh vực dân sự quy định về bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng đòi hỏi phải có yếu tố lỗi, có thiệt hại thực tế
xảy ra, thiệt hại có mối quan hệ nhân quả với hành vi, hậu quả bồi thường là
bồi thường giá trị tài sản bị thiệt hại đây là thiệt hại có thể nhìn thấy được,
ngoài ra bên gây thiệt hại còn phải bồi thường giá trị tổn thất không thể nhìn
thấy được đó là thiệt hại về tổn thất tinh thần. Tuy nhiên, để được bồi thường
về nội dung này, người bị thiệt hại phải chứng minh được, còn bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp không hoàn toàn giống với bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng theo pháp luật dân sự. Xét về hình thức thì chủ thể
trực tiếp gây thiệt hại là Nhà nước , nhưng hành vi gây thiệt hại này lại được
pháp luật quy định và cho phép tức không có yếu tố lỗi trong trường hợp này.
Mức bồi thường và các khoản bồi thường thiệt hại đã được xác định trước, về
nguyên tắc, bên bị thiệt hại tức người bị thu hồi đất không phải chứng minh
thiệt hại thực tế xảy ra.
Theo quy định thì Nhà nước được quyền thu hồi đất nông nghiệp trong
các trường hợp pháp luật quy định, nhưng thực tế đã có nhiều trường hợp xảy
ra, khi chủ đầu tư sử dụng những lợi ích vật chất, cấu kết với cơ quan có thẩm
quyền thu hồi đất để đưa dự án kinh doanh thương mại, dự án của doanh
nghiệp tư nhân nhằm mục đích thu lợi cho doanh nghiệp núp dưới hình thức
dự án xây dựng khu dân cư nông thôn không đảm bảo được điều kiện thuộc

khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp cần phải được xem xét ở nhiều phương
diện, đó là thiệt hại thực tế có thể xác định được cần phải được mở rộng cho
cả những thiệt hại trong tương lai gần, xem xét giá trị thực tế của đất nông
nghiệp linh hoạt theo thị trường.

18


1.1.3.2.Khái niệm hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
Để giải quyết hậu quả do Nhà nước thu hồi đất, người thu hồi đất
ngoài việc được bồi thường thì còn được hỗ trợ. Theo khoản 14 Điều 3 Luật
đất đai năm 2013 thì: “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ
giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển”.
Các khoản hỗ trợ chính khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp là hỗ trợ ổn
định đời sống và sản xuất và hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc
làm.
Tuy nhiên theo quan điểm của tác giả, bản chất của những hỗ trợ này
không phải là Nhà nước trợ giúp cho người có đất bị thu hồi mà phải là Nhà
nước bồi thường mới đúng bởi: Những vấn đề mà Nhà nước hỗ trợ đều xuất
phát từ việc thu hồi đất, đó là thiệt hại mà người có đất bị thu hồi bị ảnh
hưởng. Bởi thu hồi đất nông nghiệp nên những gia đình đang trực tiếp sản
xuất nông nghiệp bị mất đất, không còn tư liệu sản xuất, những người nông
dân vốn chỉ quen với công việc đồng ruộng, nay không còn đất hoặc còn ít đất
để canh tác khiến họ hoang mang, phải đi tìm, thích nghi với công việc mới,
có người không thể được nhận vào làm ở các xí nghiệp do không có trình độ,
không trong độ tuổi tuyển dụng. Quy định về các hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi
đất nông nghiệp cho thấy Nhà nước đang ban phát cho người bị thu hồi đất
mà không phải ở phương diện Nhà nước phải có trách nhiệm “ Bồi thường”
do hành vi thu hồi đất của mình.
Rõ ràng, vì Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà có thể người bị thu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status