Xử lý chất thải rắn thông thường theo pháp luật bảo vệ môi trường việt nam hiện nay từ thực tiễn huyện vân đồn, tỉnh quảng ninh - Pdf 58

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG ANH TUẤN

XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN THÔNG THƯỜNG THEO PHÁP LUẬT
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM HIỆN NAY, TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ

HÀ NỘI, 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HOÀNG ANH TUẤN

XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN THÔNG THƯỜNG THEO PHÁP LUẬT
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM HIỆN NAY, TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH

Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS VŨ THỊ DUYÊN THỦY

HÀ NỘI, 2019


cũng như thời hạn theo quy định của Học viện.
Tác giả cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo Học viện
Khoa học xã hội cùng tập thể các thầy cô giảng viên đã nhiệt tình giảng dạy,
truyền đạt kiến thức trong quá trình tác giả theo học tại Học viện.
Cuối cùng, tác giả nhận thấy đề tài nghiên cứu đã chọn lựa mặc dù
không phải là đề tài mới, nhưng trên thực tế rất ít công trình nghiên cứu về đề
tài cũng như liên quan đến đề tài và cũng không có nhiều văn bản quy phạm
pháp luật quy định về lĩnh vực xử lý chất thải rắn thông thường. Tác giả đã cố
gắng hoàn thiện luận văn cả về nội dung cũng như hình thức nhưng vẫn
không tránh khỏi những thiếu sót. Do vậy, tác giả kính mong nhận được sự
quan tâm, nhận xét của các Thầy, Cô trong Hội đồng bảo vệ về công trình
nghiên cứu. Thông qua đó, tác giả sẽ rút ra được những bài học kinh nghiệm,
khắc phục thiếu sót để hoàn thiện luận văn cũng như các công trình nghiên
cứu sau này.
Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả

Hoàng Anh Tuấn


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI
RẮN THÔNG THƯỜNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI
RẮN THÔNG THƯỜNG ............................................................................... 7
1.1.Một số vấn đề cơ bản về chất thải rắn thông thường và xử lý chất
thải rắn thông thường .................................................................................. 7
1.2. Một số vấn đề lý luận về pháp luật xử lý chất thải rắn thông
thường ....................................................................................................... 17

Biến đổi khí hậu

QHBVMT

Quy hoạch bảo vệ môi trường

KT-XH

Kinh tế - xã hội

BVMT

Bảo vệ môi trương

PTBV

Phát triển bền vững

CNH,HĐH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

TNTN

Tài nguyên thiên nhiên

ĐDSH

Đa dạng sinh học


Nuôi trồng thủy sản

KCN

Khu công nghiệp

UBND

Ủy ban nhân dân

ĐGTĐMT

Đánh giá tác động môi trường

VSMT

Vệ sinh môi trường


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Tình hình thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn huyện
năm 2017:........................................................................................................ 50
Bảng 2.2. Thực trạng chi phí cho công tác thu gom, vận chuyển, xử lý CTR
sinh hoạt tại các đô thị trên địa bàn: ............................................................... 51


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Như chúng ta đã biết, môi trường sống là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp
đến đời sống, sức khỏe của con người, vấn đề ô nhiễm môi trường đang là

về sự phát triển kinh tế - xã hội nhanh của Vân Đồn trong thời gian qua và sắp
tới sẽ tác động mạnh đến tài nguyên và đặt ra nhiều vấn đề môi trường, nổi
cộm nhất là việc quản lý và xử lý chất thải rắn, đặc biệt là chất thải rắn thông
thường phát sinh từ các hoạt động sản xuất, đô thị, du lịch sẽ ngày càng nhiều
và việc thu gom, xử lý nó đang ngày càng trở nên cấp bách.
Hiện nay, các hoạt động về xử lý chất thải rắn thông thường của huyện
Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh còn nhiều bất cập, các quy định của pháp luật về
xử lý chất thải rắn thông thường còn nhiều hạn chế, chưa đầy đủ gây ra rất
nhiều khó khăn cho các chủ thể trong quá trình xử lý. Vì thế việc hoàn thiện
pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường là một nhu cầu cấp thiết trong
giai đoạn hiện nay ở Việt Nam. Chính vì những lý do trên, tác giả quyết định
lựa chọn đề tài “Xử lý chất thải rắn thông thường theo pháp luật Bảo vệ môi
trường Việt Nam hiện nay từ thực tiễn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh” làm
luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề xử lý chất thải rắn nói chung và chất thải rắn thông thường nói
riêng đang được Nhà nước và các cơ quan tổ chức quan tâm. điều này được

/>1

2


thể hiện thông qua việc rất nhiều tác giả đã thực hiện các công trình nghiên
cứu khoa học vấn đề này, cụ thể như:
- Nguyễn Văn Phước , “Nghiên cứu, đánh giá thực trạng chất thải rắn.
Đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã
hội tỉnh Bình Dương đến năm 2010” luận văn thạc sĩ ( năm 2006) .
- Lưu Việt Hùng, “ Pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thường tại
việt nam” luận văn thạc sĩ ( năm 2010).

cơ bản về chất thải rắn thông thường, xử lý chất thải rắn thông thường; nghiên
cứu khái niệm pháp luật, nguyên tắc và nội dung pháp luật về xử lý chất thải
rắn thông thường, phân tích các yếu tố tác động đến pháp luật về xử lý chất
thải rắn thông thường; phân tích, đánh giá thực trạng và thực trạng thực hiện
pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường; đề xuất định hướng hoàn thiện
pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường và nêu các giải pháp hoàn thiện
nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quan điểm , luận điểm, các
văn bản pháp luật, các số liệu, báo cáo thực tiễn về xử lý chất thải rắn thông
thường theo pháp luật bảo vệ môi trường Việt Nam hiện nay từ thực tiễn
huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.
4.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Chất thải rắn thông thường là loại chất thải được phát sinh từ rất nhiều
nguồn khác nhau. Song, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về xử lý hai loại
chất thải rắn hiện phát sinh nhiều nhất là: chất thải rắn công nghiệp thông
thường và chất thải rắn sinh hoạt thông thường theo pháp luật bảo vệ môi
trường Việt Nam hiện nay, đề cập đến các vấn đề pháp lý liên quan đến xử lý

4


chất thải rắn thông thường từ thực tiễn áp dụng tại địa bàn huyện Vân Đồn,
tỉnh Quảng Ninh.
Thời gian: Số liệu nghiên cứu từ năm 2016-2018, giải pháp tới 2030
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật, các quan điểm của Đảng, Nhà nước về bảo

mục tài liệu tham khảo luận văn được kết cấu 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về xử lý chất thải rắn thông thường và
pháp luật xử lý chất thải rắn thông thường.
Chương 2: Thực trạng pháp luật xử lý chất thải rắn thông thường và
thực tiễn thực hiện tại huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.
Chương 3: Định hướng hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu
quả thực hiện pháp luật về xử lý chất thải rắn thông thường tại huyện Vân
Đồn, tỉnh Quảng Ninh

6


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN THÔNG
THƯỜNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN
THÔNG THƯỜNG
1.1.Những vấn đề lý luận về chất thải rắn thông thường và xử lý chất thải
rắn thông thường
1.1.1 Khái niệm chất thải rắn thông thường
- Khái niệm chất thải:
Theo cách hiểu thông thường thì Chất thải là những vật và chất mà
người dùng không còn muốn sử dụng và thải ra, tuy nhiên trong một số ngữ
cảnh nó có thể là không có ý nghĩa với người này nhưng lại là lợi ích của
người khác.Trong cuộc sống, chất thải được hình dung là những chất không
còn được sử dụng cùng với những chất độc được xuất ra từ chúng.
Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học định nghĩa “Chất thải là rác
và những đồ vật bị bỏ đi nói chung”. Khái niệm này đưa ra hai tiêu chí để
phân biệt chất thải với vật chất tồn tại dưới dạng khác, đó là Thứ nhất, chất
thải tồn tại dưới dạng vật chất; Thứ hai, các vật chất (đồ vật không có giá trị,
không có tác dụng và không bị chiếm hữu, sử dụng nữa.Từ điển môi trường

khoản 10 Điều 3 Luật BVMT 20052, khoản 12 Điều 3 Luật BVMT 2014 đều
đưa ra định nghĩa về chất thải rắn.
Khoản 12 Điều 3 Luật BVMT năm 2015 thì chất thải được định nghĩa
như sau: Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ,
sinh hoạt hoặc hoạt động khác.Từ những định nghĩa nêu trên, các chất được
coi là chất thải khi thoả mãn các điều kiện sau:
- Chất thải là vật chất, các yếu tố phi vật chất không thuộc phạm trù
chất thải, ví dụ: các mối quan hệ xã hội, yếu tố tinh thần;

Lưu Việt Hùng , Pháp luật về quản lý chất thải rắn thông thường tại Việt Nam ( Luận văn thạc sĩ năm
2010) , trang 3
2

8


- Chất thải được hiểu là các vật chất mà con người thải ra từ nhà sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác3.
Từ các định nghĩa và dựa vào các tiêu chí khác nhau ta có thể phân loại
chất thải thành các nhóm loại khác nhau:
Dựa vào dạng tồn tại của chất thải, chất thải tồn tại dưới dạng rắn (chất
thải rắn), lỏng (chất thải lỏng), khí (khí thải), nhiệt lượng, tiếng ồn…
Phụ thuộc vào sự độc hại của chất thải, chất thải bao gồm chất thải độc
hại nguy hiểm và chất thải thông thường.
Phụ thuộc vào nguồn sản sinh chất thải, chất thải được chia thành chất
thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế…
Phụ thuộc vào chu trình sản sinh ra chất thải, chất thải bao gồm
nguyên liệu thứ phẩm, phế liệu, vật liệu thứ phẩm, sản phẩm, đồ vật hư hỏng
hoặc quá hạn sử dụng
Tùy thuộc vào mức độ nguy hại của chất thải, chất thải được phân laoị

không cháy được; Chất thải tái chế được: kim loại, cao su, giấy, gỗ…
Khi tính toán các yếu tố công nghệ cho quá trình xử lý chất thải rắn
người ta thường nói đến một số tính chất của nó như tỷ trọng,độ ẩm, độ xốp,
kích thước trung bình… Trong trường hợp công nghệ nhiệt phân được lựa
chọn người ta còn quan tâm đến các tính chất khác của chất thải như nhiệt trị,
nhiệt dung riêng, độ cháy, độ tro, thàn phần cháy4. Mỗi loại chất thải rắn sẽ có
khối lượng, nhiệt ẩm, chất trơ, độ trị và thành phần cháy khác nhau. Khi thu
gom chất thải rắn, các công ty môi trường sẽ phân loại dựa vào tính chất để dễ
dàng xử lý hơn.
- Khái niệm chất thải rắn thông thường
Như đã trình bày ở trên, nếu phân loại chất thải theo tính chất độc hại
của chúng, chất thải gồm chất thải thông thường và chất thải nguy hại. Dưới

4

/>
10


góc độ pháp lý, tại Khoản 2 Điều 3 Nghị định số 38/2015/NĐ-CP của Chính
phủ về quản lý chất thải và phế liệu có giải thích: Chất thải thông thường là
chất thải không thuộc danh mục chất thải nguy hại hoặc thuộc danh mục chất
thải nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại dưới ngưỡng chất thải nguy hại. Như
vậy, để hiểu được rõ hơn về chất thải rắn thông thường thì trước hết tác giả
xin được đề cập khái niệm chất thải nguy hại.
Thứ nhất, khái niệm chất thải nguy hại:
Trên thế giới thì thuật ngữ chất thải nguy hại đã được đề cập đến từ rất
lâu. Tuy nhiên, tại các quốc gia khác nhau thì đều có quan điểm khác nhau về
thuật ngữ này, chẳng hạn như: Tại Philiphin: Chất thải nguy hại là những chất
có độc tính, ăn mòn, gây kích thích, họat tính,có thể cháy, nổ mà gây nguy

không đảm bảo an toàn trong thu gom, lưu giữ, vận chuyển, xử lý thì các rủi
ro, sự cố sẽ gây hậu quả rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến môi trường sống và
sức khỏe cộng đồng. Tùy thuộc vào đặc tính và bản chất của chất thải mà khi
thải vào môi trường sẽ gây nên các tác động khác nhau, lan truyền bệnh.
Bốn là, tính ôxy hóa: Chất thải có khả năng nhanh chóng thực hiện
phản ứng ôxy hóa tỏa nhiệt mạnh khi tiếp xúc với các chất khác, có thể gây ra
hoặc góp phần đốt cháy các chất đó, sẽ gây ra cháy nổ, gây nhiễm độc nguồn
nước và không khí.
Năm là, tính ăn mòn: Các chất hoặc hỗn hợp các chất có tính axít mạnh
(pH bằng 2 hoặc nhỏ hơn 2), hoặc kiềm mạnh (pH bằng 12,5 hoặc lớn hơn
12,5). Việc ăn mòn có thể gây cháy da, ảnh hưởng đến phổi và mắt, gây hư
hại vật liệu công trình.
Sáu là, tính dễ nổ: Các chất thải ở thể rắn hoặc lỏng có thể nổ do kết
quả của phản ứng hóa học khi tiếp xúc với lửa hoặc do bị va đập, ma sát sẽ
tạo ra các loại khí ở nhiệt độ, áp suất và tốc độ gây thiệt hại cho môi trường

12


xung quanh. Chính vì dễ nổ nên chúng có thể gây tổn thương da, bỏng và
thậm chí là tử vong; phá hủy công trình và thậm chí chết người.
Bảy là, tính dễ cháy: Chất thải lỏng có nhiệt độ bắt cháy thấp hơn 60 độ
C, chất rắn có khả năng tự bốc cháy hoặc phát lửa do bị ma sát, hấp thu độ
ẩm, do thay đổi hóa học tự phát trong các điều kiện bình thường, khí nén có
thể cháy. Đặc tính dễ cháy sẽ gây ra hỏa hoạn, bỏng, làm ô nhiễm không khí
và nguồn nước.
Với những đặc tính này của chất thải nguy hại đã thấy rõ sự khác biệt
với chất thải thông thường. Trong khi chất thải nguy hại gây nguy hiểm cho
sức khỏe con người và động vật thì chất thải không thuộc danh mục chất thải
nguy hại hoặc thuộc danh mục chất thải nguy hại nhưng có yếu tố nguy hại

thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải rắn thông thường và các yếu tố có hại
trong chất thải.
Quá trình xử lý chất thải rắn thông thường là một giai đoạn thuộc công
việc quản lý chất thải. Chất thải rắn thông thường cũng như các loại chất thải
là nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm môi trường, gây hiệu ứng nhà kính. Cho
nên việc xử lý nó bằng nhiều phương pháp khác nhau sẽ làm giảm chất độc đó
và giảm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh. Chẳng hạn, xử lý bằng
phương pháp thiêu đốt sẽ chuyển chất thải thành dạng khí có thể kiểm soát
được nên cũng giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm. Đây là phương pháp mang lại
hiệu quả xử lý nhanh nhất. Hay sử dụng phương pháp chôn lấp vệ sinh, nghĩa
là các chất thải được chôn sâu xuống lòng đất và được phủ lấp bên trên.
Phương pháp này cũng có khả năng kiểm soát được sự phân hủy của chất thải
nên cũng giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi. Việc áp dụng các biện pháp xử lý
chất thải rắn thông thường phụ thuộc vào loại chất thải rắn, nhu cầu, mức độ
đầu tư, điều kiện kinh tế của từng địa phương.

14


Đây là cách hiểu xử lý chất thải rắn thông thường ở góc độ kỹ thuật.
Trong luận văn, tác giả tiếp cận xử lý chất thải nói chung, xử lý chất thải rắn
thông thường nói riêng như là một khâu không thể thiếu của quá trình quản lý
chất thải và được tiếp cận dưới góc độ pháp lý.
Nghị định số 38/2015/ NĐ-CP có giải thích khái niệm xử lý chất thải
như sau: Xử lý chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ
thuật (khác với sơ chế) để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu
hủy, chôn lấp chất thải và các yếu tố có hại trong chất thải. Do vậy, tôi cho
rằng, xử lý chất thải rắn thông thường là quá trình sử dụng các giải pháp
công nghệ, kỹ thuật để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy,
chôn lấp chất thải rắn thông thường và các yếu tố có hại trong chất thải rắn

Các chất thải là nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm môi trường như hiện nay.
Cho nên việc xử lý nó bằng nhiều phương pháp khác nhau sẽ làm giảm nguy
cơ gây ô nhiễm môi trường và giảm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh.
Với viêc xử lý bằng phương pháp thiêu đốt sẽ chuyển chất thải nguy
hại thành dạng khí có thể kiểm soát được nên cũng giảm thiểu nguy cơ ô
nhiễm. Đây là phương pháp mang lại hiệu quả xử lý nhanh nhất.
Hay sử dụng phương pháp chôn lấp vệ sinh, nghĩa là các chất thải được
chôn sâu xuống lòng đất và được phủ lấp bên trên. Phương pháp này cũng có
khả năng kiểm soát được sự phân hủy của chất thải nên cũng giảm thiểu nguy
cơ ô nhiễm môi trường.
Thứ hai, tận dụng việc xử lý chất thải phục vụ đời sống con người.
Trong quá trình xử lý chất thải người ta phân chia thành 2 loại, một loại chất
thải có thể tái chế lại và một loại không thể tái chế. Đối với những loại có thể
dùng tái chế lại thì sẽ được chuyển đến các khu tái chế hợp vệ sinh để tiến
hành xử lý và tạo ra những sản phẩm khác phục vụ đời sống của con người.

16


Còn đối với các chất thải không thể tái chế thì sẽ tiến hành xử lý để
giảm nguy cơ ảnh hưởng đến cuộc sống con người. Tuy nhiên trong quá trình
xử lý những chất thải đó con người cũng vẫn có thể tận dụng được những lợi
ích của nó mang lại. Ví dụ như trong khi sử dụng các chất thải nguy hại bằng
phương pháp thiêu đốt sẽ tận dụng được nguồn năng lượng trong quá trình đốt
để phục vụ cho các lò sưởi, các ngành công nghiệp cần nhiều nhiệt…Hay như
việc xử lý chất thải trong chăn nuôi bằng việc xây dựng hầm BIOGAS sẽ tạo
ra chất đốt dùng để nấu nướng cũng rất hiệu quả, giúp con người tiết kiệm chi
phí trả tiền khí đốt hàng tháng nếu như dùng gas.
1.2. Những vấn đề lý luận về pháp luật xử lý chất thải rắn thông thường
1.2.1. Khái niệm, nội dung điều chỉnh của pháp luật về xử lý chất thải rắn

chủ thể quản lý mang tính quyền lực và đại diện cho lợi chung của cộng đồng,
Nhà nước cần kiểm soát các điều kiện đảm bảo an toàn cho môi trường và
cộng đồng trong quá trình tiến hành các hoạt động xử lý CTRTT. Sự kiểm
soát này được thực hiện thông qua hoạt động thẩm định các điều kiện xử lý
CTRTT, hay giám sát việc đảm bảo các điều kiện đó trong suốt quá trình hoạt
động tại các cơ sở xử lý CTRTT. Mối quan hệ giữa chủ xử lý CTRTT với các
cơ quan quản lý nhà nước về CTRTT phát sinh từ yêu cầu đó. Điều chỉnh mối
quan hệ này, pháp luật quản lý CTRTT thường bao gồm các quy phạm pháp
luật về về các hoạt động kiểm tra, giám sát của Nhà nước đối với các cơ sở xử
lý CTRTT thông qua chế độ báo cáo định kỳ…
Hai là: Quan hệ giữa chủ xử lý CTRTT với chủ vận chuyển CTRTT và
chủ nguồn thải CTRTT. Mối quan hệ này phát sinh trong quá trình chủ xử lý
CTRTT tiếp nhận CTRTT từ chủ vận chuyển CTRTT và hoàn tất hợp đồng
xử lý CTRTT với chủ nguồn thải CTRTT. Các mối quan hệ này được điều
chỉnh chủ yếu thông qua quy định về trách nhiệm chuyển giao CTRTT giữa
chủ vận chuyển CTRTT và chủ xử lý CTRTT.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status