VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HỮU LONG
QUYẾT TOÁN ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
CÓ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2019
Tho
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HỮU LONG
QUYẾT TOÁN ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY
DỰNG CƠ BẢN CÓ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN NGÂN
SÁCH NHÀ NƯỚC THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ
THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NINH
Ngành: Luật Kinh Tế
Mã số: 8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS.TRẦN ĐÌNH HẢO
1.3. Quyết toán các dự án xây dựng cơ bản hoàn thành trong mối quan
hệ với công tác quản lý chi phí đầu tư xây dựng cơ bản.................................... 24
Chương 2: QUYẾT TOÁN ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY
DỰNG CƠ BẢN CÓ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ
NƯỚC TẠI TỈNH QUẢNG NINH.................................................................................... 34
2.1 Giới thiệu chung về tỉnh Quảng Ninh.................................................................. 34
2.2 Tổng quan về tình hình đầu tư phát triển và tình hình đầu tư xây
dựng cơ bản có sử dụng Nguồn vốn Ngân sách Nhà nước của tỉnh
Quảng Ninh................................................................................................................................ 36
2.3. Thực trạng quyết toán các dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử
dụng nguồn Ngân sách Nhà nước của tỉnh Quảng Ninh.................................... 38
2.4. Đánh giá chung thực trạng quyết toán các dự án XDCB có sử
dụng nguồn ngân sách nhà nước hoàn thành tại cơ quan tài chính tỉnh
Quảng Ninh................................................................................................................................ 57
2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quyết toán đối với dự án đầu
tư xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước.................59
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
QUYẾT TOÁN ĐỐI VỚI CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ
Tho
BẢN CÓ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TẠI TỈNH QUẢNG NINH........................63
3.1 Định hướng, mục tiêu phát triển công tác quyết toán các dự án đầu tư
xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn ngân sách nhà nước tỉnh Quảng Ninh
đến năm 2020............................................................................................................................ 63
3.2. Giải pháp hoàn thiện công tác quyết toán các dự án đầu tư xây
dựng cơ bản có sử dụng ngân sách nhà nước tại tỉnh Quảng Ninh...............66
KẾT LUẬN....................................................................................................................................... 77
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hàng năm, tỉnh Quảng Ninh dành vốn ngân sách lớn cho đầu tư xây dựng để
phát triển kinh tế xã hội những năm gần đây chiếm khoảng 35% tổng nguồn chi.
Điều này cho thấy rõ cơ cấu ưu tiên dành nguồn lực chi đầu tư phát triển của tỉnh
nhằm xây dựng một Quảng Ninh ngày càng hiện đại, văn minh. Nhiều dự án đầu tư
đưa vào khai thác sử dụng đã phát huy hiệu quả góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân
trong tỉnh. Các dự án này sẽ góp phần quan trọng kết nối Quảng Ninh với các tỉnh
trong nước và thế giới.
Tuy nhiên cũng có nhiều dự án đầu tư xây dựng cơ bản còn xảy ra tình trạng
lãng phí, thất thoát nguồn Ngân sách của Nhà nước. Thất thoát, lãng phí tại nhiều
công trình đầu tư xây dựng cơ bản thời gian qua đang trở thành vấn đề bức xúc
trong dư luận. Mặc dù Ngân sách Nhà nước còn nhiều khó khăn, nhưng Chính phủ
và các địa phương đã ưu tiên dành nguồn vốn rất lớn hàng năm để đầu tư xây dựng
các dự án, công trình, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã
hội. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, việc quản lý và triển khai thực hiện các
dự án trong thời gian qua còn nhiều hạn chế và bất cập, dẫn đến gây thất thoát, lãng
phí vốn, tình trạng đội vốn, không minh bạch trong sử dụng nguồn vốn…Do đó
quyết toán đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn Ngân
sách Nhà nước là một trong những yếu tố giúp giảm thất thoát, lãng phí vốn.
Quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn Ngân
sách Nhà nước theo pháp luật Việt Nam tỉnh Quảng Ninh luôn được quan tâm và đã
phát huy được những hiệu quả nhất định, hàng năm tiết kiệm cho ngân sách tỉnh
trung bình gần 5 tỷ đồng, góp phần ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực trong quản
lý vốn đầu tư XDCB. Tuy nhiên, đối với công tác quyết toán vốn đầu tư XDCB tỉnh
vẫn còn những hạn chế. Những năm trước đây, công tác quyết toán vốn đầu tư
XDCB chưa được quan tâm đúng mức, chậm quyết toán kéo dài dẫn đến tình trạng
hồ sơ thất lạc. Việc thay đổi chủ đầu tư, hay nhà thầu mất khả năng tài chính đã bỏ
trốn, phá sản, hoặc một số chủ đầu tư thiếu trách nhiệm trong việc đôn đốc lập báo
cáo quyết toán vốn đầu tư XDCB… khiến công tác này bị ảnh hưởng. Việc bố trí
đầu tư quan tâm. Trong phạm vi của luận văn tôi chỉ tập trung giới thiệu một số
công trình tiêu biểu liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn
Ngân sách Nhà nước:
Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công của tác giả Nguyễn Huy Chí, năm
2011: “Tăng cường quản lý Nhà nước đối với dự án đầu tư XDCB bằng vốn
NSNN”. Luận văn đã tổng hợp hệ thống hóa, bổ sung và hoàn thiện khung lý thuyết
về đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn NSNN và quản lý Nhà nước đối với đầu tư xây
dựng cơ bản bằng vốn NSNN.
2
Tho
Luận văn thạc sĩ ngành Quản lý công: ”Quản lý chi đầu tư XDCB từ NSNN tại
huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi”, năm 2017 của tác giả Nguyễn Việt Toàn. Luận
văn đã đưa ra tổng quan về chi đầu tư XDCB từ NSNN, trên cơ sở thực trạng quản
lý chi đầu tư XDCB từ NSNN tại huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi từ đó đưa ra
định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chi đầu tư XDCB từ NSNN.
Luận văn thạc sĩ ngành Quản lý kinh tế: “Hoàn thiện quản lý vốn đầu tư
XDCB thuộc nguồn vốn Ngân sách xã, phường tại thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng
Bình”, năm 2017 của tác giả Đoàn Phan Anh, luận văn đã trình bày cơ sở lý luận và
thực tiễn về quản lý vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn Ngân sách xã, phường,
phân tích thực trạng quản lý vốn đầu tư XDCB thuộc ngân sách xã, phường ở thị xã
Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý
vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn Ngân sách xã, phường tại thị xã Ba Đồn, tỉnh
Quảng Bình.
Luận văn thạc sĩ ngành Quản lý kinh tế: “Quản lý các dự án đầu tư XDCB
bằng nguồn vốn NSNN tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang”, năm 2015 của tác giả
Lê Hà Thái, luận văn đã nêu lên tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về
đầu tư XDCB, nâng cao chất lượng giải phóng mặt bằng, tái định cư... nhằm nâng
cao hiệu quả quản lý nguồn vốn đầu tư XDCB từ Ngân sách Nhà nước.
Do đó có thể nói các tác giả chủ yếu nghiên cứu quản lý hiệu quả đầu tư công
hay quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản, lĩnh vực nghiên cứu về quyết toán đối với
các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước theo pháp
luật Việt Nam là khâu cuối cùng trong chuỗi quản lý hiệu quả đầu tư công hay quản
lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản ít được nghiên cứu và có thể dẫn đến tình trạng vi
phạm Luật đầu tư công về phát sinh nợ đọng XDCB dẫn đến chưa quản lý hiệu quả
vốn đầu tư. Luận văn “Quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng
nguồn vốn ngân sách nhà nước theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng
Ninh” mà học viên thực hiện có kế thừa một số cơ sở lý luận về vốn đầu tư XDCB,
đồng thời bổ sung làm rõ thêm cơ sở lý luận và pháp luật về quyết toán đối với các
dự án XDCB có sử dụng nguồn vốn NSNN nói riêng và phân tích, đánh giá thực
trạng quyết toán đối với các dự án XDCB có sử dụng nguồn vốn NSNN của Quảng
Ninh từ năm 2015-2018 thông qua các báo cáo, số liệu của cơ quan nhà nước, cơ
quan thanh tra, kiểm toán và điều tra khảo sát, phỏng vấn các cán bộ lãnh đạo,
chuyên viên đang công tác trong lĩnh vực quyết toán đối với các dự án XDCB của
tỉnh, đưa ra các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả thực hiện chính sách, nêu lên các nguyên
nhân, nhân tố ảnh hưởng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quyết
toán đối với các dự án XDCB có sử dụng nguồn vốn NSNN.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ hơn những vấn đề lý luận về
quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà
4
Tho
2015-2018. - Phạm vi về nội dung:
Trong phạm vi đề tài, tác giả chủ yếu đánh giá quá trình thực hiện và những
kết quả đạt được trong quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng
5
Tho
nguồn vốn ngân sách nhà nước theo pháp luật Việt Nam thông qua việc quyết toán
các dự án, công trình hoàn thành, chủ yếu như hạ tầng dự án giao thông trọng điểm
như cao tốc Hạ Long – Hải Phòng, cao tốc Hạ Long – Vân Đồn, sân bay, hạ tầng du
lịch.... tại tỉnh Quảng Ninh.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn vận dụng phương pháp nghiên cứu quy định về quyết toán dự án
hoàn thành thuộc nguồn vốn Nhà nước và phương pháp duy vật biện chứng, tập
trung vào trình tự, thời hạn quyết toán. Phương pháp nghiên cứu quy định về quyết
toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn Nhà nước sẽ làm sáng tỏ những vấn đề lý
luận và thực tiễn của việc quyết toán đối với các dự án hoàn thành có sử dụng
nguồn vốn Ngân sách Nhà nước cũng như việc đánh giá và hoàn thiện chính sách
hiện nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu
cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích: được tác giả sử dụng khi đánh giá, bình luận các
quan điểm, các quy định của pháp luật về quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ
bản có sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước. Phương pháp này được tác giả sử
dụng trong tất cả các chương của luận văn.
- Phương pháp tổng hợp: được tác giả sử dụng khi đánh giá nhằm rút ra
cho việc giảng dạy, nghiên cứu và đào tạo chuyên ngành luật.
7. Kết cấu của luận văn
Cơ cấu của luận văn gồm: phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu
tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quyết toán đối với các dự án xây dựng
cơ bản có sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước.
Chương 2: Quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử dụng nguồn
vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quyết toán đối với các dự án xây
dựng cơ bản có sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước theo pháp luật Việt Nam
7
Tho
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYẾT TOÁN ĐỐI VỚI
CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN CÓ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1. Khái luận về quyết toán đối với các dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử
dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước
(Trích dẫn Thư viện học liệu mở Việt Nam):
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc Ngân sách Nhà nước là vốn của Ngân sách
Nhà nước được cân đối trong dự toán Ngân sách Nhà nước hàng năm từ các nguồn
thu trong nước, nước ngoài (bao gồm vay nước ngoài của Chính phủ và vốn viện trợ
của nước ngoài cho chính phủ, các cấp chính quyền và các cơ quan Nhà nước) để
cấp phát và cho vay ưu đãi về đầu tư xây dựng cơ bản. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản
của ngân sách Nhà nước được hình thành từ các nguồn sau:
- Một phần tích luỹ trong nước từ thuế, phí, lệ phí
lực tối cao của quốc gia là Quốc hội.
(Trích dẫn Tạp chí Công thương)
Quyết toán ngân sách nhà nước phải đảm bảo đầy đủ các nội dung:
- Phản ánh được đầy đủ số liệu thu, chi ngân sách
- Chủ thể có quyết toán ngân sách nhà nước phải giải trình được việc quản lý thu,
chi ngân sách nhà nước trong năm tài chính đó có tuân thủ luật định hay không.
- Thể hiện được tính hiệu quả nhất có thể trong việc chấp hành ngân sách nhà
nước.
- Quyết toán ngân sách nhà nước được xác định trong 1 năm (năm tài chính).
- Quyết toán ngân sách nhà nước phải được trình báo cho cơ quan nhà nước có
thẩm quyền phê chuẩn.
Quyết toán vốn đầu tư XDCB đối với dự án xây dựng cơ bản có sử dụng vốn
Ngân sách Nhà nước được hiểu là việc lập, kiểm tra và quyết định báo cáo tài
chính về toàn bộ tình hình quản lý và sử dụng vốn đầu tư để xây dựng dự án, công
trình, hạng mục công trình kể từ khi bắt đầu đến khi kết thúc, bàn giao đưa dự án,
công trình hoặc hạng mục công trình đó vào sử dụng. Đầu tư nói chung là việc sử
dụng các nguồn lực (có thể là tiền vốn, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động
và trí tuệ) ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả
nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra. Kết quả thu được từ hoạt
động đầu tư có thể là tiền vốn, là tài sản vật chất (nhà máy, đường giao thông, bệnh
viện, trường học…) hay là tài sản trí tuệ (trình độ văn hoá, chuyên môn, quản lý,
khoa học kỹ thuật…).
Đầu tư phát triển là loại hình đầu tư có liên quan đến sự tăng trưởng quy mô
vốn của nhà đầu tư và quy mô vốn trên phạm vi toàn xã hội. Thông qua đầu tư phát
triển, cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất phục vụ của nền kinh tế được
9
Tho
Ngân sách Nhà nước
- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ nguồn vốn Ngân sách Nhà nước
- Nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước
10
Tho
- Đảm bảo công khai, minh bạch trong phân bổ vốn và quản lý đầu tư xây dựng
Về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết toán đối với các dự án xây dựng cơ bản có sử
dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước có thể được xem xét trên hai phương diện:
khách quan và chủ quan. Về phương diện khách quan gồm có:
- Hệ thống cơ chế chính sách:
Nhiệm vụ của quyết toán là xác định toàn bộ các chi phí hợp pháp đã thực hiện
trong quá trình đầu tư, từ khi chuẩn bị đầu tư đến khi dự án hoàn thành đưa vào khai
thác sử dụng. Để xác định các chi phí hợp pháp này, cơ quan có chức năng thẩm tra
quyết toán vốn đầu tư các dự án hoàn thành phải căn cứ vào hệ thống chính sách,
chế độ liên quan đến đầu tư xây dựng dự án và quyết toán như: hệ thống định mức,
đơn giá, tiêu chuẩn quy phạm trong XDCB và các chính sách quản lý tài chính về
đầu tư và xây dựng… Hệ thống chính sách đầy đủ, đồng bộ là nhân tố quan trọng để
nâng cao chất lượng quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản; ngược lại nếu hệ thống
chính sách không đầy đủ, không đồng bộ sẽ tạo ra những khe hở gây thất thoát lãng
phí trong đầu tư XDCB nói chung và trong quyết toán nói riêng.
- Trình độ của các cơ quan, tổ chức liên quan đến quyết toán đầu tư và xây
dựng (cơ quan thẩm tra phê duyệt dự án đầu tư, thiết kế dự toán, cơ quan cấp trên
của chủ đầu tư, các đơn vị tư vấn, đơn vị thi công…):
Quyết toán vốn đầu tư XDCB là bước cuối trong trình tự đầu tư XDCB, do đó
chất lượng của quyết toán này chịu ảnh hưởng nhiều của chất lượng các bước khác
trước đó. Chẳng hạn, nếu chất lượng công tác lập và thẩm định dự toán xây dựng
cũng có thể xảy ra đối với trường hợp các chủ đầu tư không đủ năng lực, không
thực hiện được chức năng nhiệm vụ của mình.
- Trình độ cán bộ thẩm tra quyết toán: Đây là nhân tố ảnh huởng lớn nhất đến
chất lượng quyết toán vốn đầu tư XDCB. Có thể nhận thấy thẩm tra quyết toán vốn
đầu tư của các dự án là một công tác hết sức phức tạp, liên quan đến nhiều ngành,
nhiều lĩnh vực: Tài chính, xây dựng, giao thông, nông nghiệp thuỷ lợi, công nghiệp,
… Chất lượng, kết quả của quyết toán phụ thuộc vào bản thân của các cán bộ trực
tiếp thẩm tra quyết toán. Do đó, đòi hỏi cán bộ thẩm tra quyết toán phải là người
thực sự có năng lực, nắm vững nghiệp vụ tài chính nhưng cũng phải am hiểu về kỹ
thuật xây dựng nếu không sẽ bỏ sót những sai phạm trong các khâu trước của quá
trình đầu tư gây thất thoát lãng phí trong đầu tư XDCB.
Cán bộ làm thẩm tra quyết toán còn phải có đạo đức nghề nghiệp vì công tác
quyết toán vốn đầu tư XDCB có liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên liên quan
nên dễ dẫn đến tình trạng thông đồng móc ngoặc giữa đơn vị thi công, chủ
đầu tư và cán bộ thẩm tra bỏ qua những sai sót làm sai lệch chi phí đầu tư hợp lý
gây thất thoát lãng phí vốn trong hoạt động đầu tư XDCB.
1.2. Nội dung, trình tự, thủ tục quyết toán dự án đầu tư xây dựng cơ bản có
sử dụng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước đã hoàn thành theo pháp luật Việt Nam
Theo Điều 2 của Thông tư 09/2016/TT-BTC, mục tiêu của công tác quyết toán
các dự án xây dựng cơ bản hoàn thành có sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước là
12
Tho
nhằm đánh giá kết quả quá trình đầu tư, xác định năng lực sản xuất, giá trị tài sản
mới tăng thêm do đầu tư mang lại; nhằm đánh giá việc thực hiện các quy định của
Nhà nước trong quá trình đầu tư thực hiện dự án, xác định rõ trách nhiệm của chủ
Tho
Biểu mẫu báo cáo quyết toán được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số
64/2018/TT-BTC
- Đối với dự án hoàn thành, hạng mục công trình độc lập hoàn thành, dự án
dừng thực hiện vĩnh viễn có khối lượng thi công xây dựng, lắp đặt thiết bị được
nghiệm thu gồm các Mẫu số: 01, 02, 03, 04, 05, 06, 06A, 07/QTDA kèm theo
Thông tư số 64/2018/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 30/07/2018.
- Đối với dự án quy hoạch sử dụng nguồn vốn đầu tư phát triển (nếu có), dự án
dừng thực hiện vĩnh viễn không có khối lượng thi công xây dựng, lắp đặt thiết bị
được nghiệm thu gồm các Mẫu số: 03, 07, 08/QTDA kèm theo Thông tư số
09/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính ban hành ngày 18/01/2016.
(Trích dẫn theo Điều 8 Thông tư 09/2016/TT-BTC có sửa đổi bổ sung theo
Thông tư 64/2018/TT-BTC)
Về Hồ sơ trình duyệt quyết toán, chủ đầu tư gửi 01 bộ hồ sơ đến cơ quan thẩm
tra phê duyệt quyết toán. Hồ sơ bao gồm các tài liệu sau:
Đối với dự án hoàn thành, hạng mục công trình hoàn thành; dự án dừng thực
hiện vĩnh viễn có khối lượng thi công xây dựng, lắp đặt thiết bị sẽ phải bao gồm:
- Tờ trình đề nghị phê duyệt quyết toán của chủ đầu tư (bản chính). Trường
hợp thuê kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán, tờ trình phải nêu rõ những nội
dung thống nhất, nội dung không thống nhất và lý do không thống nhất giữa chủ
đầu tư và đơn vị kiểm toán độc lập;
- Biểu mẫu báo cáo quyết toán theo quy định tại Điều 7 Thông tư số
09/2016/TT-BTC (bản chính)
- Toàn bộ các văn bản pháp lý có liên quan theo Mẫu số 02/QTDA (bản chính
hoặc bản do chủ đầu tư sao y bản chính);
- Hồ sơ quyết toán của từng hợp đồng gồm các tài liệu (bản chính hoặc do chủ
đầu tư sao y bản chính): hợp đồng xây dựng và các phụ lục hợp đồng (nếu có); các
toán hợp đồng hoặc bổ sung hoàn thiện hồ sơ, tài liệu quyết toán hợp đồng hoặc
hoàn thành các nội dung công việc để quyết toán dự án kèm theo thời hạn thực hiện
(theo Mẫu số 14/QTDA). Sau khi chủ đầu tư đã gửi văn bản lần thứ 03 (mỗi văn
bản cách nhau 10 ngày) đến nhà thầu, cá nhân, tổ chức, nhưng nhà thầu, cá nhân, tổ
chức vẫn không thực hiện các nội dung theo yêu cầu; chủ đầu tư được căn cứ những
hồ sơ thực tế đã thực hiện để lập hồ sơ quyết toán (không cần bao gồm quyết toán
A-B), thuê kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán (nếu có), xác định giá trị đề nghị
quyết toán trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và ghi rõ nội dung về việc nhà thầu,
cá nhân, tổ chức không hợp tác để quyết toán dự án hoặc thực hiện các nội dung
công việc để hoàn thành quyết toán dự án trong Tờ trình đề nghị phê duyệt quyết
toán của chủ đầu tư. Nhà thầu, cá nhân, tổ chức tham gia thực hiện dự án chịu hoàn
toàn các tổn thất, thiệt hại (nếu có) và có trách nhiệm chấp hành quyết định phê
duyệt quyết toán dự án của cấp có thẩm quyền.
15
Tho
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì thẩm quyền phê duyệt quyết toán
được xác định như sau:
* Đối với dự án quan trọng quốc gia và các dự án quan trọng khác do Thủ
tướng Chính phủ quyết định đầu tư: (Trích dẫn theo Điều 9 Thông tư 09/2016/TTBTC)
- Đối với dự án hoặc dự án thành phần sử dụng vốn ngân sách nhà nước:
Người đứng đầu Bộ, ngành trung ương phê duyệt quyết toán đối với dự án hoặc dự
án thành phần thuộc Bộ, ngành trung ương quản lý; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh phê duyệt quyết toán đối với dự án hoặc dự án thành phần thuộc cấp tỉnh quản
lý; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt quyết toán đối với dự án hoặc dự
án thành phần thuộc cấp huyện quản lý.
- Chủ đầu tư phê duyệt quyết toán các dự án, dự án thành phần không sử dụng
kiểm toán đảm bảo đủ nội dung quy định tại Điều 12 Thông tư số 09/2016/TT-BTC
của Bộ Tài chính ban hành ngày 18/01/2016 thì cơ quan chủ trì thẩm tra quyết toán
dự án sử dụng kết quả báo cáo kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước làm căn cứ để
thẩm tra, không thuê kiểm toán độc lập để kiểm toán quyết toán dự án. Trường hợp
Kiểm toán Nhà nước thực hiện kiểm toán chưa đủ các nội dung quy định tại Điều
12 Thông tư này, chủ đầu tư lựa chọn nhà thầu kiểm toán độc lập để kiểm toán bổ
sung theo yêu cầu của người phê duyệt quyết toán. Chi phí kiểm toán bổ sung được
xác định tương tự như xác định chi phí kiểm toán đối với hạng mục công trình, gói
thầu trong dự án quy định tại điểm c khoản 1 Điều 21 Thông tư này. Cơ quan chủ trì
thẩm tra sử dụng kết quả báo cáo kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước và kết quả báo
cáo kiểm toán của kiểm toán độc lập làm căn cứ để thẩm tra quyết toán dự án.
Trường hợp Kiểm toán Nhà nước có quyết định kiểm toán dự án khi chủ đầu tư và
nhà thầu kiểm toán độc lập đang thực hiện hợp đồng kiểm toán báo cáo quyết toán
dự án hoàn thành thì nhà thầu kiểm toán độc lập vẫn tiếp tục thực hiện hợp đồng
kiểm toán theo đúng quy định của Chuẩn mực kiểm toán báo cáo quyết toán dự án
hoàn thành và hợp đồng đã ký kết.
Trong trường hợp nhà thầu kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán báo cáo
quyết toán dự án hoàn thành, cơ quan thẩm tra thực hiện thẩm tra theo các nội dung
sau:
- Kiểm tra tính pháp lý của hợp đồng kiểm toán, phạm vi kiểm toán, thời gian
và thể thức thực hiện kiểm toán đối với dự án.
- Đối chiếu nội dung báo cáo kết quả kiểm toán của dự án với nội dung kiểm
toán theo quy định và Chuẩn mực kiểm toán về Kiểm toán báo cáo quyết toán dự án
hoàn thành (hiện nay là Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 1000 - Kiểm toán báo
cáo quyết toán dự án hoàn thành ban hành kèm theo Thông tư số 67/2015/TT-BTC
ngày 08/5/2015 của Bộ Tài chính). Trong quá trình thẩm tra, trường hợp cơ quan
thẩm tra quyết toán phát hiện kết quả kiểm toán có sai sót, không đảm bảo yêu cầu,
17
khi trình người có thẩm quyền quyết định.
(Trích dẫn theo quy định tại Khoản 5, Điều 1 Thông tư 64/2018/TT-BTC sửa
đổi bổ sung Điều 9 Thông tư 09/2016/TT-BTC)
Về cơ quan thẩm tra quyết toán dự án hoàn thành, được xác định như sau:
18