THỦ TỤC PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VỚI CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC KHÁC TRONG XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ THỰC TIỄN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI - Pdf 58

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN VIẾT HẢI

THỦ TỤC PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
VỚI CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC KHÁC
TRONG XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TỪ THỰC TIỄN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Hà Nội - 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN VIẾT HẢI

THỦ TỤC PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
VỚI CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC KHÁC
TRONG XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
TỪ THỰC TIỄN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS HOÀNG THỊ QUỲNH CHI

HIỆN THỦ TỤC PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN
SỰ VỚI CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC KHÁC TRONG XÁC MINH
ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TẠI QUẬN HOÀNG MAI,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI .................................................................................. 26
2.1. Thực trạng quy định pháp luật về thủ tục phối hợp giữa cơ quan
Thi hành án dân sự với cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều
kiện thi hành án dân sự ............................................................................. 26
2.2. Thực tiễn thực hiện thủ tục phối hợp giữa cơ quan Thi hành án
dân sự với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện thi
hành án dân sự trên địa bàn quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội ............ 40
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ THỰC HIỆN THỦ TỤC PHỐI HỢP GIỮA CƠ QUAN THI
HÀNH ÁN DÂN SỰ VỚI CÁC CƠ QUAN, TỔ CHỨC KHÁC
TRONG XÁC MINH ĐIỀU KIỆN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỪ
THỰC TIỄN QUẬN HOÀNG MAI, HÀ NỘI ........................................... 65


3.1. Phương hướng .................................................................................... 65
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thủ tục phối hợp
giữa cơ quan Thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức khác trong
xác minh điều kiện thi hành án dân sự ...................................................... 67
KẾT LUẬN .................................................................................................... 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CHV

: Chấp hành viên


: Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thi hành án dân sự (THADS) là hoạt động tổ chức thi hành phần dân sự
của những bản án, quyết định có hiệu lực thi hành theo quy định của pháp luật.
Đây là giai đoạn có ý nghĩa vô cùng quan trọng để những phán quyết trên giấy
của tòa án được thực thi trên thực tế, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ
quan, tổ chức, cá nhân.
Chính vì hoạt động THADS tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích của
các chủ thể tham gia nên THADS là công việc vô cùng phức tạp, dễ gây ra sự bất
hợp tác, bức xúc, chống đối của những người liên quan. Hoạt động THADS đòi
hỏi sự phối hợp chặt chẽ của nhiều cơ quan, tổ chức như: Công an, Tòa án nhân
dân (TAND), Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), Ủy ban nhân dân (UBND),
Ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, Bảo hiểm xã hội, cơ quan thuế, cơ quan
đăng ký kinh doanh...Việc phối hợp tốt với các cơ quan, tổ chức hữu quan là một
trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả của công tác THADS.
Quá trình giải quyết việc thi hành án, cơ quan THADS phải triển khai
nhiều hoạt động khác nhau như: thông báo, xác minh điều kiện THADS, thuyết
phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành, thỏa thuận thi hành án, áp dụng
biện pháp bảo đảm, tổ chức cưỡng chế...Trong các hoạt động đó, xác minh điều
kiện THADS là hoạt động cần sự phối hợp chặt chẽ, tích cực từ phía các chủ thể
khác. Kết quả xác minh càng chính xác, càng đầy đủ thì việc tổ chức thi hành án
càng đạt hiệu quả và ngược lại.
Nhận thức được vai trò của hoạt động xác minh điều kiện THADS trong
quá trình giải quyết việc thi hành án, những năm gần đây, thể chế về xác minh
điều kiện THADS đã từng bước được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý hiệu quả
cho việc triển khai trên thực tế. Tuy nhiên, sự phối hợp giữa cơ quan THADS và

cơ quan THADS và các cơ quan, tổ chức khác trong hoạt động này.
- Đề tài "Thực hiện pháp luật về xác minh điều kiện THADS qua thực tiễn
tỉnh Nghệ An": Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ năm 2017 của tác giả Nguyễn Hồng
Trung, Trường Đại học quốc gia Hà Nội. Luận văn có ý nghĩa thực tiễn với địa
bàn tỉnh Nghệ An nhưng phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung ở các quy định pháp
luật chung về xác minh điều kiện THADS mà chưa đi sâu phân tích, làm rõ mối
quan hệ phối hợp trong hoạt động này.
Nghiên cứu về mối quan hệ phối hợp trong THADS cũng chỉ chiếm một
số lượng nhỏ trong số các nghiên cứu về THADS, có thể kể đến các số đề tài
đáng chú ý như:

2


- Đề tài“Mối quan hệ giữa các cơ quan trong THADS”: Luận văn tốt
nghiệp thạc sỹ năm 2008 của tác giả Lê Thị Hồng Hạnh, Trường Đại học Luật
Hà Nội. Luận văn được viết vào thời kỳ Luật THADS 2008 mới được ban hành,
đến hiện tại,một số vấn đề đã không còn phù hợp với thực tiễn.
- Đề tài“Nguyên tắc trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức, cá nhân
với cơ quan THADS, Chấp hành viên”: Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ năm 2013
của tác giả Lê Hồng Suy, Trường Đại học Luật Hà Nội. Luận văn tập trung vào
nghiên cứu trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong mối quan hệ với cơ quan
THADS, chưa đi sâu vào phân tích trách nhiệm của cơ quan THADS trong mối
quan hệ đó nên cần tiếp tục được nghiên cứu bổ sung.
- Đề tài: “Mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan THADS với các cơ quan, tổ
chức hữu quan trong THADS ở tỉnh Thanh Hóa”Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ
năm 2015 của tác giả Vi Trọng Thụ, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
Trong luận văn, tác giả chưa làm rõ lý do và bản chất của từng mối quan hệ nên
cần được nghiên cứu bổ sung thêm.
- Đề tài:"Thủ tục phối hợp giữa cơ quan THADS với các cơ quan, tổ chức

minh điều kiện THADS từ thực tiễn quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Từ đó,
đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật và các giải pháp nâng cao hiệu quả
thực thi thủ tục phối hợp giữa cơ quan THADS và các cơ quan, tổ chức khác
trong xác minh điều kiện THADS.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích khái niệm, đặc điểm của thủ tục phối hợp giữa cơ quan
THADS với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện THADS, làm rõ
các nguyên tắc, phương thức, nội dung, yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện
thủ tục này trên thực tế.
- Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về thủ tục phối hợp giữa cơ
quan THADS với các cơ quan tổ chức khác trong xác minh điều kiện THADS;
Phân tích những ưu điểm, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân từ thực tiễn địa bàn
quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thủ tục phối hợp giữa cơ
quan THADS và các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện THADS.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu những vấn đề chung và quy định pháp luật về thủ tục
phối hợp giữa cơ quan THADS với các cơ quan, tổ chức khác trong hoạt động
xác minh điều kiện THADS, khảo sát, đánh giá thực tiễn áp dụng trên địa bàn

4


quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của Luận văn là những quy định hiện hành của pháp
luật Việt Nam về thủ tục phối hợp giữa các cơ quan THADS và các cơ quan, tổ
chức khác trong xác minh điều kiện THADS và đánh giá thực tiễn thực hiện thủ
tục phối hợp đó tại quận Hoàng Mai. Số liệu thống kê được thực hiện trong thời

hợp giữa cơ quan THADS với cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện
THADS, thể hiện ở những nội dung căn bản sau đây:
- Luận văn làm sáng tỏ hơn những lý luận cơ bản về thủ tục phối hợp giữa
cơ quan THADS với cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện THADS.
- Luận văn góp phần đánh giá thực trạng pháp luật về thủ tục phối hợp
giữa cơ quan THADS với cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện
THADS.
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng thủ tục phối hợp giữa cơ quan THADS với
cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện THADS trên địa bàn quận
Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, luận văn đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả
phối hợp trong xác minh điều kiện THADS ở quận Hoàng Mai và địa phương
khác trong cả nước.
Luận văn có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo với các công
trình nghiên cứu liên quan.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có
kết cấu gồm 3 chương, cụ thể như sau:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thủ tục phối hợp giữa cơ quan Thi
hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện thi hành
án dân sự.
- Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện thủ tục
phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức khác trong
xác minh điều kiện thi hành án dân sự tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
- Chương 3: Phương hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thủ tục
phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với các cơ quan, tổ chức khác trong
xác minh điều kiện thi hành án dân sự tại quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

6




7


đó phải được mọi người tôn trọng và phải được bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh
trên thực tế.
Thứ hai, THADS là hoạt động bảo đảm cho việc biến các phán quyết của
tòa án trở thành hiện thực, có xét xử thì phải có thi hành án.“Xét xử và thi hành
án là hai mặt thống nhất của quá trình bảo vệ lợi ích của đương sự” [3, tr.43].
Một phán quyết của tòa án nếu không được tổ chức thi hành thì quyền lợi hợp
pháp của đương sự cũng chỉ là thứ quyền lợi trên giấy, mà không có một ý nghĩa
thực tế nào cả. Quá trình tổ chức thi hành án không được phép “sáng tạo” mà
phụ thuộc vào nội dung phán quyết của Tòa án. Hoạt động THADS là hoạt động
bắt nguồn từ quá trình xét xử. Bản án của tòa án là căn cứ để tổ chức thi hành án,
nó xác định nội dung, mức độ, phạm vi tổ chức thi hành án. Khi bản án của Tòa
án có sự thay đổi thì việc tổ chức thi hành án cũng buộc phải thay đổi theo. Ví dụ
như: Khi nhận được quyết định giám đốc thẩm của Tòa án thì cơ quan THADS
phải ra quyết định đình chỉ thi hành án, khi nhận được bản án xét xử lại của tòa
án thì cơ quan THADS ra quyết định thi hành án mới để tổ chức thi hành…
Thứ ba, ở Việt Nam, trong một thời gian dài (cho đến trước năm 1993),
THADS là một bộ phận của Tòa án, nằm hoàn toàn trong Tòa án. Nghị quyết số
49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”
của Bộ chính trị cũng xác định cơ quan thi hành án là một trong số các cơ quan
tư pháp, gồm: Cơ quan điều tra, VKSND, TAND và cơ quan thi hành án. Điều
này thể hiện tính chất tư pháp của hoạt động THADS.
- Quan điểm thứ hai cho rằng THADS là hoạt động hành chính, vì các lý
do sau:
Thứ nhất, quá trình tố tụng là quá trình đi tìm sự thật với nhiều giai đoạn
khác nhau, nhưng khi có bản án của Tòa án thì giai đoạn đi tìm sự thật và hướng
giải quyết sự thật đó đã kết thúc.“Tố tụng là quá trình đi tìm chân lý, còn

d) Các biện pháp tổ chức THADS vừa thể hiện tính quyền lực nhà nước,
có tính chất bắt buộc nhưng cũng thể hiện tôn trọng quyền tự định đoạt của
đương sự. Các đương sự được quyền tự thỏa thuận thời gian, phương thức thực
hiện việc thi hành án, với điều kiện không trái pháp luật và đạo đức xã hội,
không làm ảnh hưởng đến người thứ ba. Điều này làm tăng tính tích cực của
công dân trong giai đoạn thi hành án, tiết kiệm thời gian, công sức, chi phí xã
hội, giảm bức xúc trong nhân dân.
d) THADS là hoạt động có sự tham gia phối hợp của nhiều cơ quan, tổ
chức, cá nhân trong xã hội: Để hoạt động THADS thực sự hiệu quả thì bên cạnh
sự cố gắng của những người làm công tác THADS thì phải có sự phối hợp chặt
chẽ của các cơ quan quyền lực nhà nước, cơ quan tư pháp, cơ quan hành chính,
các tổ chức chính trị - xã hội - kinh tế...Tuy nhiên, cơ quan THADS phải là trung

10


tâm của sự phối hợp, phải chủ động trong mối quan hệ phối hợp đó.
Từ những phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm chung về THADS
như sau: THADS là hoạt động hành chính- tư pháp do cơ quan THADS có thẩm
quyền tổ chức thực hiện, nhằm thực thi các bản án, quyết định của Tòa án hoặc
các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định.
1.1.2. Khái niệm xác minh điều kiện thi hành án dân sự
1.1.2.1 Khái niệm điều kiện thi hành án dân sự
Điều kiện THADS là khái niệm xác định khả năng thực hiện nghĩa vụ
theo nội dung bản án, quyết định của tòa án của người phải thi hành án. Điều 3
Luật THADS năm 2008 quy định: "Có điều kiện thi hành án là trường hợp
người phải thi hành án có tài sản, thu nhập để thực hiện nghĩa vụ về tài sản; tự
mình hoặc thông qua người khác thực hiện nghĩa vụ thi hành án". Như vậy,
"chưa có điều kiện thi hành án" nghĩa là người phải thi hành án chưa có tài sản,
thu nhập để thực hiện nghĩa vụ về tài sản, chưa có khả năng để tự mình hoặc

Chương VIII LTHADS 2014.
Theo cách hiểu chung nhất, thủ tục là thứ tự và cách thức làm việc theo
một lề lối đã được quy định. Với các cơ quan nhà nước thì thủ tục phải theo quy
định của pháp luật.
Theo nghĩa chung nhất thì phối hợp là "cùng hành động hoặc hoạt động
hỗ trợ lẫn nhau" nhằm đạt được mục đích chung [39, tr.759]. Xét ở khía cạnh
quản lý nhà nước thì phối hợp được hiểu là“ một phương thức, một hình thức,
một quy trình kết hợp hoạt động của các cơ quan, tổ chức lại với nhau để bảo
đảm cho các cơ quan, tổ chức này thực hiện được đầy đủ, hiệu quả các chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, nhằm đạt được các lợi ích chung."[31,
tr.360]
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm: Thủ tục phối hợp giữa cơ quan THADS
với các cơ quan, tổ chức khác trong THADS là cách thức, phương thức kết hợp
hoạt động của cơ quan THADS với các cơ quan, tổ chức khác trong THADS theo
quy định của pháp luật để bảo đảm cho bản án, quyết định của Tòa án được thi
hành nghiêm chỉnh trên thực tế.
Thủ tục phối hợp giữa cơ quan THADS với các cơ quan, tổ chức khác
trong xác minh điều kiện THADS là cách thức, phương thức kết hợp hoạt động
của cơ quan THADS với các cơ quan, tổ chức khác trong việc thu thập các thông
tin về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, làm cơ sở cho việc tổ
chức thi hành án theo quy định của pháp luật.
1.1.3.2. Ý nghĩa của việc phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với
các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện thi hành án dân sự
Sự phối hợp giữa cơ quan THADS với các cơ quan, tổ chức khác trong xác
minh điều kiện THADS có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với quá trình tổ chức
thi hành án, thể hiện ở các nội dung sau:

14




15


CHV có thể phân công cho Thư ký triển khai một số nội dung công việc như:
Soạn thảo các công văn đề nghị cung cấp thông tin, đặt lịch làm việc, ghi biên
bản xác minh... nhưng người chịu trách nhiệm phải là CHV. CHV cũng có thể
mời đại diện các cơ quan hữu quan như: VKSND cùng cấp, đại diện UBND,
công an... tham gia để đảm bảo việc xác minh diễn ra khách quan, công khai, an
toàn, hiệu quả.
b) Chủ thể thực hiện yêu cầu phối hợp xác minh điều kiện THADS là các
cơ quan, tổ chức đang nắm giữ, quản lý thông tin về điều kiện thi hành án của
người phải thi hành ántrên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định
của pháp luật: Chủ thể này rất đa dạng và phong phú, có thể là cơ quan nhà
nước, cơ quan chuyên môn thuộc cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế - chính
trị- xã hội...tùy hồ sơ cụ thể. Cần phải thấy rằng trách nhiệm phối hợp chỉ phát
sinh khi có đề nghị trực tiếp từ phía cơ quan THADS, và trong phạm vi các nội
dung cơ quan THADS yêu cầu. Cơ quan, tổ chức phối hợp có thể cử cán bộ của
mình cung cấp thông tin, nhưng chủ thể chịu trách nhiệm là người đứng đầu cơ
quan, tổ chức đó.
1.1.3.4. Nguyên tắc thực hiện phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự
với các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện thi hành án dân sự
Nguyên tắc phối hợp trong xác minh điều kiện THADS được hiểu là
những tư tưởng chủ đạo điều chỉnh mối quan hệ giữa cơ quan THADS với các
cơ quan tổ chức khác trong xác minh điều kiện THADS phù hợp với ý chí nhà
nước và có tính bắt buộc đối với các chủ thể tham gia. Việc phối hợp trong xác
minh điều kiện thi hành án phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
a) Nguyên tắc tuân thủ quy định của pháp luật
Pháp luật là những quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành hoặc thừa
nhận để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo ý chí của nhà nước, được bảo đảm

của cơ quan, tổ chức được yêu cầu cung cấp thông tin và cơ quan THADS. Để
đảm bảo hiệu quả công việc của cả hai bên, CHV cần có sự nhạy bén, cân nhắc
trong việc lựa chọn thời điểm, địa điểm và nội dung phối hợp cụ thể. Còn các cơ
quan, tổ chức khi phối hợp với cơ quan THADS cũng cần có lộ trình làm việc,
cân đối thời gian và nhân lực để đảm bảo hiệu quả phối hợp. Chẳng hạn như đối
với việc xác minh hiện trạng tài sản là quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở,
CHV phải trao đổi trước với chính quyền địa phương về thời gian tổ chức thực
hiện, tránh vào thời điểm địa phương ưu tiên cho các hoạt động chính trị, văn

17


hóa, xã hội quan trọng. CHV cũng cần phải bảo mật thông tin, chỉ sử dụng
những thông tin được cung cấp vào việc giải quyết hồ sơ thi hành án.
1.1.3.5. Nội dung yêu cầu phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với
các cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện thi hành án dân sự
Nội dung yêu cầu phối hợp trong xác minh điều kiện THADS là các thông
tin về khả năng thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án. CHV có thể yêu
cầu cơ quan, tổ chức đang quản lý thông tin cung cấp các thông tin như sau:
- Yêu cầu Ngân hàng, Tổ chức tín dụng khác cung cấp thông tin về số tiền
trong tài khoản, sổ tiết kiệm của người phải thi hành án.
- Yêu cầu công ty chứng khoán, đơn vị phát hành giấy tờ có giá cung cấp
thông tin về loại, số lượng, giá trị cổ phiếu hoặc giấy tờ có giá của người phải thi
hành án.
- Yêu cầu các cơ quan đăng ký quyền sở hữu, sử dụng tài sản cung cấp thông
tin liên quan đến số lượng, chủng loại, tình trạng, thời gian sử dụng, các đặc điểm của
tài sản, người quản lý... đối với các tài sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng như:
quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, một số loại phương tiện giao thông...
- Yêu cầu cơ quan chi trả thu nhập cung cấp thông tin về mức thu nhập,
thời gian, cách thức chi trả thu nhập của người phải thi hành án.

Trên cơ sở kết quả thông tin thu thập được (bằng biên bản xác minh, công
văn trả lời của cơ quan, tổ chức liên quan), CHV đề xuất Thủ trưởng cơ quan ra
các quyết định về thi hành án theo thẩm quyền hoặc lựa chọn các biện pháp tổ
chức thi hành án phù hợp.
Tuy nhiên, cần chú ý rằng, hoạt động xác minh là hoạt động diễn ra liên
tục, trong suốt quá trình giải quyết hồ sơ thi hành án và CHV có thể phải phối
hợp với nhiều cơ quan, tổ chức khác nhau. Do đó, CHV cần xác định đúng cơ
quan phối hợp và thời hạn thực hiện theo quy định của pháp luật để tránh vi
phạm trong nội dung này.
1.1.3.7. Phương thức phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với các
cơ quan, tổ chức khác trong xác minh điều kiện thi hành án dân sự
Phương thức phối hợp được hiểu là là cách thức thực hiện việc phối hợp
giữa cơ quan THADS với các cơ quan, tổ chức khác nhằm xác minh điều kiện
THADS của người phải thi hành án. Có nhiều phương thức phối hợp khác nhau
hiện đang được sử dụng trong xác minh điều kiện THADS, như:

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status