VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ LOAN
KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Hà Nội - 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ LOAN
KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI THEO PHÁP LUẬT
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS LÊ MAI THANH
Hà Nội - 2019
1.1. Khái niệm, phân loại kết hôn có yếu tố nước ngoài ............................ 7
1.2. Lý luận pháp luật điều chỉnh kết hôn có yếu tố nước ngoài .............. 13
1.3. Cấu trúc pháp luật điều chỉnh kết hôn có yếu tố nước ngoài............. 22
1.3.1. Về điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài..................................... 22
Chương 2: THỰC TRẠNG KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI TỪ
THỰC TIỄN HUYỆN THẠCH THẤT THÀNH PHỐ HÀ NỘI ............. 32
2.1. Đặc điểm thực tiễn tại huyện Thạch Thất tác động đến kết hôn có yếu
tố nước ngoài ............................................................................................. 32
2.2. Thực trạng pháp luật về điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài và
thực tiễn tại huyện Thạch Thất ................................................................. 34
2.3. Thực trạng pháp luật về hình thức kết hôn có yếu tố nước ngoài và
thực tiễn tại huyện Thạch Thất ................................................................. 44
2.4. Thực trạng pháp luật về hủy kết hôn có yếu tố nước ngoài và thực
tiễn tại huyện Thạch Thất.......................................................................... 51
Chương 3: NHU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
ĐIỀU CHỈNH KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI ......................... 58
3.1. Nhu cầu hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố
nước ngoài tại Việt Nam ........................................................................... 58
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh kết hôn có yếu tố nước
ngoài. ......................................................................................................... 60
KẾT LUẬN .................................................................................................... 68
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................... 69
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong những năm gần đây, chính sách mở rộng hội nhập quốc tế của
Đảng và nhà nước ta đã làm cho đời sống của nhân dân được cải thiện đáng
kể. Cùng với sự phát triển của quá trình giao lưu quốc tế, các quan hệ về hôn
nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài cũng phát
những tiêu cực trong việc phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài để
lại cả trước mắt và lâu dài, ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều mặt kinh tế, văn
hóa, an ninh xã hội, pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế… Có nhiều
nguyên nhân cả khách quan lẫn chủ quan dẫn đến các hiện tượng trên nhưng
sự hạn chế của pháp luật trong việc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia
đình có yếu tố nước ngoài đóng vai trò không nhỏ. Vì vậy, việc nghiên cứu
một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật về kết
hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, từ đó đề xuất nhằm hoàn
thiện hơn nữa các quy định của pháp luật về vấn đề này là hết sức quan trọng,
có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Nhận thức được điều đó, em đã mạnh
dạn chọn vấn đề "Kết hôn có yếu tố nước ngoài theo pháp luật hôn nhân và
gia đình Việt Nam từ thực tiễn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội" làm
đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến
Kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài là vấn đề có
tính thời sự cao. Do vậy, từ trước tới nay có không ít các công trình nghiên
cứu về vấn đề này. Có thể chia các công trình nghiên cứu về kết hôn giữa
công dân Việt Nam với người nước ngoài thành 3 nhóm lớn sau:
Nhóm luận văn, luận án: ở nhóm này có thể liệt kê đến một số công
trình nghiên cứu tiêu biểu như: Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt
Nam (Luận văn Thạc sỹ luật học của Vilayvong Senebouttarat, Trường Đại
học Luật Hà Nội, 2008), Pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt
Nam - thực trạng và giải pháp, của Nguyễn Thị Hương, Luận văn thạc sĩ luật
học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006. Nhìn chung các công trình
2
nghiên cứu trên đã chỉ ra một số vấn đề cơ bản của pháp luật Việt Nam về
quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài. Tuy nhiên
thể trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu đã có, luận văn sẽ tiếp tục làm rõ
những vấn đề lý luận còn bỏ ngỏ gắn với địa bàn cụ thể như Thạch Thất, Hà Nội.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là một loại
quan hệ khá nhạy cảm và phức tạp nên trong luận văn này, trước hết, tác giả
muốn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về quan hệ kết hôn có yếu tố
nước ngoài.
Thứ hai, nghiên cứu các quy định pháp luật về quan hệ kết hôn có yếu tố
nước ngoài bao gồm: các qui định của pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc
tế mà Việt Nam ký kết điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.
Thứ ba, qua quá trình nghiên cứu, tác giả sẽ đưa ra những kiến nghị, giải
pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt nam về quan hệ kết hôn có yếu tố nước
ngoài nói riêng và hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung.
Nhiệm vụ nghiên cứu: Làm rõ lý luận về việc kết hôn có yếu tố nước
ngoài như khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc kết hôn có yếu tố nước ngoài và
cấu trúc, nội dung pháp luật điều chỉnh kết hôn có yếu tố nước ngoài;
Đánh giá thực trạng quy định của pháp luật về kết hôn có yếu tố nước
ngoài với thực tiễn huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội để từ đó đề xuất một
số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật điều chỉnh kết hôn có yếu tố nước
ngoài
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là kết hôn có yếu tố nước ngoài quan hệ tư pháp quốc tế được điều chỉnh bởi Luật Hôn nhân và gia đình và
những văn bản pháp luật liên quan trong phạm vi địa bàn cụ thể là Thạch
Thất, Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu của luật văn
Trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ, luận văn tập trung vào một
số vấn đề sau:
4
Thứ hai, luận văn phân tích, đánh giá một cách khoa học những quy
định của pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam hiện hành về kết hôn có
yếu tố nước ngoài. Xác định những bất cập trong các quy định của pháp luật
hôn nhân và gia đình Việt Nam về kết hôn có yếu tố nước ngoài trên địa bàn
cụ thể chưa được nghiên cứu như Thạch Thất.
Thứ ba, Luận văn đã đề xuất một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luật hộ tịch năm 2014 nhằm
hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật về kết hôn có yếu tố nước
ngoài. Mặt khác, luận văn cũng đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động của các thiết chế bảo đảm thực thi việc kết hôn có yếu tố nước
ngoài. Đồng thời, những kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng
làm tư liệu học tập, tài liệu tham khảo, nghiên cứu tại các cơ sở đào tạo luật
hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân quan tâm đến quan hệ kết có yếu tố nước
ngoài.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về kết hôn có yếu tố nước ngoài và
pháp luật kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
Chương 2: Thực trạng kết hôn có yếu tố nước ngoài từ thực tiễn huyện
Thạch Thất, thành phố Hà Nội.
Chương 3: Nhu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh kết
hôn có yếu tố nước ngoài.
6
Chương 1
Nam khi tham gia quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài phải có đủ năng lực
hành vi theo pháp luật Việt Nam, còn người nước ngoài phải có đầy đủ năng
lực hành vi theo quy định của nước mà người đó là công dân hoặc nước người
đó đang thường trú, đồng thời họ phải đảm bảo đầy đủ năng lực pháp luật
theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Căn cứ vào khoản 5 điều 3 Luật Quốc tịch năm 2008, được sửa đổi bổ
sung năm 2014 quy định: “Người nước ngoài là công dân nước ngoài và
người không quốc tịch”.
Người nước ngoài tại Việt Nam có năng lực pháp luật dân sự như công
dân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác ( Điều
673).
Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là người nước ngoài được xác
định theo pháp luật của nước mà người đó có quốc tịch trừ trường hợp pháp
luật có quy định khác (Điều 674).
Quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau xác lập ở nước
ngoài cũng là quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài nhưng không thuộc phạm
vi nghiên cứu của đề tài.
Các chủ thể tham gia quan hệ kết hôn, họ đều mong muốn việc kết hôn
của mình được pháp luật công nhận, muốn việc kết hôn là hợp pháp thì phải
thỏa mãn các điều kiện về kết hôn và nghi thức kết hôn, tức là việc kết hôn đó
phải được cơ quan nhà nước có thầm quyền đăng ký và cấp Giấy chứng nhận
kết hôn, đồng thời hai bên nam, nữ cùng ký vào Giấy chứng nhận kết hôn và
Sổ đăng ký kết hôn hoặc nếu việc kết hôn được tiến hành theo pháp luật nước
ngoài, việc kết hôn đó muốn được công nhận tại Việt Nam thì phải ghi chú
vào Sổ đăng ký kết hôn nếu thỏa mãn điều kiện của pháp luật Việt Nam.
Tại điều 34 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính
phủ quy định về điều kiện ghi vào Sổ hộ tịch việc kết hôn của công dân Việt
8
9
Quan hệ kết hôn, cả hai bên nam, nữ là công dân Việt Nam nhưng có ít
nhất một bên đang định cư ở nước ngoài tại thời điểm đăng ký kết hôn.
Theo quy định tại khoản 3 điều 3 Luật Quốc tịch năm 2008 được sửa
đổi bổ sung năm 2014: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân
Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”.
Ví dụ: Trường hợp anh A là công dân Việt Nam đang định cư tại Hàn
Quốc, quen biết và yêu chị B là công dân Việt Nam đang du học tại Hàn
Quốc, sau đó cả hai trở về Việt Nam, trong trường hợp này thì quan hệ kết
hôn giữa anh A và chị B được coi là quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.
1.1.2. Phân loại kết hôn có yếu tố nước ngoài
a. Kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam
Căn cứ để xác định quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là quốc tịch
của ít nhất một bên là nước ngoài hoặc cả hai bên có quốc tịch Việt Nam
nhưng có một bên định cư ở nước ngoài. Theo đó, có một số trường hợp cụ
thể sau:
Một là, công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài ở Việt Nam.
Việc kết hôn trong trường hợp này có thể là một bên nam là công dân
Việt Nam kết hôn với một bên nữ là người nước ngoài hoặc một bên nữ là
công dân Việt Nam kết hôn với một bên nam là công dân nước ngoài nhưng
việc kết hôn đó phải được tiến hành tại Việt Nam.
Ví dụ : Trong thời gian làm việc ở một công ty nước ngoài tại Việt
Nam, anh N (công dân Việt Nam) đã quen, yêu một cô đồng nghiệp tên là
Marian (quốc tịch Mehico). Vừa rồi, anh N và cô Marian đã lập kế hoạch kết
hôn với nhau và họ quyết định đăng ký kết hôn tại Việt Nam.
Hai là, công dân Việt Nam ở trong nước kết hôn với người Việt Nam
định cư ở nước ngoài tại Việt Nam.
Đối với trường hợp nêu trên, gồm có các trường hợp kết hôn sau đây:
- Giữa hai người nước ngoài thường trú tại Việt Nam.
- Giữa hai người nước ngoài tạm trú tại Việt Nam.
11
- Giữa người nước ngoài thường trú với người nước ngoài tạm trú tại
Việt Nam
Ví dụ: Anh David quốc tịch Đức đăng ký thường trú tại Việt Nam, chị
Diana người không quốc tịch đăng ký tạm trú tại Việt Nam. Hiện nay, hai anh
chị muốn kết hôn với nhau tại Việt Nam. Trong trường hợp này, nếu họ đáp
ứng các điều kiện kết hôn theo pháp luật Việt Nam thì họ có quyền kết hôn
với nhau và được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam xem xét, giải quyết
việc đăng ký kết hôn theo thủ tục, nghi thức do luật định.
b. Kết hôn có yếu tố nước ngoài tại nước ngoài
Đây là trường hợp các bên tiến hành kết hôn ở nước ngoài (những
trường hợp này không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn).
Thứ nhất, công dân Việt Nam kết hôn với người nước ngoài ở nước
ngoài.
Nước ngoài ở đây có thể hiểu là nước mà người nước ngoài là công dân
hoặc cư trú (người nước ngoài là người không quốc tịch).
Ví dụ: Anh Nguyễn Văn K (công dân Việt Nam) kết hôn với chị
Andrew (công dân Mỹ) và họ thực hiện đăng ký kết hôn tại Mỹ.
Thứ hai, công dân Việt Nam kết hôn với nhau ở nước ngoài.
Hai công dân Việt Nam kết hôn với nhau nhưng việc kết hôn của họ
được tiến hành ở nước ngoài nơi một trong hai bên cư trú. Mặc dù hai bên kết
hôn đều là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập quan hệ vợ chồng là ở
nước ngoài. Vì vậy, giữa công dân Việt Nam kết hôn với nhau ở nước ngoài
cũng được xác định là quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.
quan hệ này không chỉ chịu sự điều chỉnh của các quy phạm quốc gia mà còn
chịu sự điều chỉnh của các quy phạm điều ước quốc tế của các bên liên quan.
Pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài bao gồm các quy
phạm xung đột và quy phạm thực chất được các quốc gia liên quan thống nhất
hóa, trong đó, quy phạm xung đột là quy phạm cơ bản điều chỉnh quan hệ.
Các loại quy phạm này có mối liên hệ mật thiết với nhau, tạo nên sự thống
nhất trong việc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Nếu quan hệ
13
kết hôn không được điều chỉnh bởi qui phạm thực chất thì cơ quan có thẩm
quyền sẽ áp dụng qui phạm xung đột để chọn luật áp dụng.
1.2.1.2. Đặc điểm pháp luật điều chỉnh kết hôn có yếu tố nước ngoài
Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài trước tiên được xem xét là quan
hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài do tư pháp quốc tế điều chỉnh, pháp luật
điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài không những chỉ là các quy
định được ghi nhận trong nguồn pháp luật trong nước mà còn là các quy định
được ghi nhận trong các nguồn pháp luật khác như điều ước quốc tế và tập
quán quốc tế. Đây chính là một trong những đặc điểm quan trọng của pháp luật
điều chỉnh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài:
Đối tượng điều chỉnh:
Pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài đặc trưng
bởi đối tượng điều chỉnh. Đối tượng điều chỉnh bị phức tạp hoá bởi yếu tố
nước ngoài, đây cũng là điểm phân biệt với các quan hệ kết hôn thông thường
khác. Các nước trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về “yếu tố nước
ngoài” trong quan hệ dân sự nói chung và trong quan hệ kết hôn nói riêng. Để
xác định yếu tố nước ngoài trong quan hệ dân sự, các quốc gia thường căn cứ
vào ba dấu hiệu: quan hệ đó có ít nhất một bên chủ thể là người nước ngoài;
khách thể của quan hệ đó là tài sản hoặc quyền tài sản và quyền nhân thân
chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt nam được quy định trong
Luật hôn nhân và gia đình của Việt Nam; trong các điều ước quốc tế các Hiệp
định tương trợ tư pháp và các văn bản khác có liên quan.
* Phương pháp thực chất hay còn gọi là phương pháp điều chỉnh trực
tiếp là phương pháp điều chỉnh thông qua các quy phạm thực chất được thống
nhất hóa ghi nhận tại các điều ước quốc tế nhưng gần như chưa có trong các
lĩnh vực hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Việc áp dụng quy phạm thực chất
làm đơn giản hoá trong điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài tạo
điều kiện cho các cơ quan có thẩm quyền giải quyết quan hệ nhanh chóng,
thuận lợi. Đồng thời loại trừ vấn đề phải lựa chọn luật hoặc áp dụng pháp luật
nước ngoài.
15
Nguyên tắc điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài
Thứ nhất: Nguyên tắc áp dụng luật nơi tiến hành kết hôn
Quan hệ kết hôn phát sinh hệ quả pháp lý quan trọng đối với mỗi chủ
thể, như quan hệ nhân thân giữa hai người, con cái và tài sản, làm thay đổi
vấn đề nhân thân của chủ thể tham gia quan hệ hôn nhân đó. Do vậy, việc
kết hôn được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của nước nào thì
phải tuân theo quy định pháp luật của nước đó.
Cơ sở của nguyên tắc này là: “Luật nơi thực hiện hành vi”, theo đó
hành vi pháp lý phải tuân thủ các điều kiện về hình thức theo pháp luật của
nước nơi thực hiện hành vi, sự kiện kết hôn là hành vi pháp lý. Theo nguyên
tắc chung giải quyết xung đột pháp luật về hình thức của hành vi pháp lý,
các nước thường áp dụng luật nơi thực hiện hành vi, tức là nơi thực hiện
việc kết hôn để áp dụng việc kết hôn giữa hai bên, việc áp dụng luật nơi thực
hiện việc kết hôn thể hiện sự tôn trọng và hòa nhập vào môi trường xã hội
của vợ, chồng. Vì vậy, pháp luật nhiều nước đều công nhận hiệu lực về hình
hôn có lợi để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em thì việc kết hôn đó cũng
được công nhận tại Việt Nam.
Theo đó, việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan có thẩm quyên của
nước ngoài phù hợp với quy định về điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn
của nước đó thì cũng được công nhận tại Việt Nam. Như vậy, pháp luật
nước ta thừa nhận việc áp dụng luật nơi tiến hành kết hôn để thừa nhận nghi
thức tiến hành kết hôn. Nghi thức kết hôn là nghi thức dân sự, việc kết hôn
phải được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền.
Ở nước ta việc giải quyết xung đột về hình thức hôn nhân cũng áp
dụng nguyên tắc luật nơi tiến hành kết hôn, việc kết hôn tại Việt Nam tuân
theo hình thức, trình tự, thủ tục của pháp luật Việt Nam.
Trong các Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và các nước
cũng thống nhất thừa nhận nguyên tắc này, cụ thể tại khoản 2 điều 24 Hiệp
định trong tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Nga quy định: “Hình thức
kết hôn tuân theo pháp luật của nước bên ký kết nơi tiến hành kết hôn”. Điều
17
này cũng được quy định cụ thể tại khoản 2 điều 25 Hiệp định tương trợ tư
pháp giữa Việt Nam và Lào, khoản 3 điều 31 Hiệp định tương trợ tư pháp
giữa Việt Nam và Hunggari...
Thứ hai: Nguyên tắc áp dụng luật nhân thân.
Nguyên tắc áp dụng luật nhân thân gồm hai hệ thuộc: hệ thuộc Luật
quốc tịch và hệ thuộc luật nơi cư trú của đương sự.
Việc áp dụng nguyên tắc này nhằm bảo đảm phù hợp với luật nơi cư
trú nhằm tôn trọng pháp luật nơi cư trú, nơi công dân có quốc tịch, đồng thời
thể hiện sự tôn trọng văn hóa, phong tục tập quán nơi công dân có quốc tịch
và cư trú.
Nguyên tắc này được nghi nhận hầu hết trong các hiệp định tương trợ
Như vậy, đối với trường hợp người nước ngoài có hai hay nhiều quốc
tịch thì sẽ áp dụng pháp luật của nước người đó mang quốc tịch đồng thời
thường trú, nếu người đó không thường trú tại một trong các nước có quốc
tịch thì áp dụng pháp luật của nước người đó mang hộ chiếu.
1.2.2. Nguồn pháp luật điều chỉnh kết hôn có yếu tố nước ngoài
1.2.2.1. Nguồn pháp luật trong nước
Nguồn pháp luật trong nước là hình thức chứa đựng các nguyên tắc, các
quy phạm pháp luật của quốc gia nhằm điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố
nước ngoài. Nguồn pháp luật trong nước có rất nhiều hình thức khác nhau,
tuỳ theo quy định trong hệ thống pháp luật mỗi nước. Trên thế giới có hai hệ
thống pháp luật lớn nhất Common law và Civil law có nguồn pháp luật khác
nhau. Common law sử dụng nguồn án lệ chính, bên cạnh đó có cả nguồn
thành văn; Civil law sử dụng nguồn pháp luật thành văn. Nguồn pháp luật
Việt Nam là hệ thống pháp luật thành văn, pháp luật điều chỉnh quan hệ kết
hôn có yếu tố nước ngoài được quy định trong các loại văn bản sau:
Hiến pháp, là văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất, quy định
các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam nói chung và của quan hệ hôn
nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nói riêng,trong đó có quan hệ kết hôn
có yếu tố nước ngoài. Quyền về hôn nhân và gia đình là quyền cơ bản của
19
công dân được ghi nhận trong các Hiến pháp 1946; Hiến pháp 1959; Hiến
pháp 1980; Hiếp pháp 1992 (sửa đổi 2001), Hiến pháp năm 2013. Đây là cơ
sở để các văn bản pháp luật khác cụ thể hoá, đưa luật vào cuộc sống điều
chỉnh các quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài.
Bộ luật dân sự: Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài là một trong các
loại quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài nên quan hệ này cũng được điều
chỉnh trong Bộ luật dân sự. Bộ luật dân sự năm 2015 là Bộ luật chung điều