VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG THỊ PHƯƠNG THẢO
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHỨNG THỰC TỪ THỰC
TIỄN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG THỊ PHƯƠNG THẢO
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHỨNG THỰC TỪ THỰC
TIỄN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGÔ HỒNG THỦY
HÀ NỘI, năm 2019
3.1. Định hướng QLNN về chứng thực tại địa bàn quận Hoàn Kiếm, thành phố
Hà Nội............................................................................................................................................... 60
3.2. Các giải pháp nhằm tăng cường QLNN về chứng thực tại địa bàn quận
Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội................................................................................................. 66
KẾT LUẬN......................................................................................................................................... 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................................... 80
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1. Số lượng văn bản quản lý ban hành về công tác chứng thực ................... 28
Bảng 2.2. Hoạt động của quận từ năm 2016 đến năm 2018 ..................................... 40
Bảng 2.3. Kết quả thực hiện chứng thực tại UBND 18 Phường trong 7 tháng đầu
năm 2019 ................................................................................................................... 43
Bảng 2.4. Số liệu về thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về chứng thực .................... 48
Biểu đồ 2.2. Biểu đồ kết quả chứng nhận các loại hợp đồng, văn bản qua 3 năm
2016-2018.................................................................................................................. 41
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kỳ hội nhập phát triển kinh tế hiện nay, nhất là sau khi Việt Nam
gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO). Với mục tiêu năm 2020 nước ta cơ
bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Cùng với sự phát triển của xã
hội thì nhu cầu giao dịch ngày càng tăng. Để thuận tiện cho hoạt động quản lý hành
chính nhà nước đồng thời đáp ứng nhu cầu giao dịch, trao đổi của công dân. Nhà
nước đã cấp cho công dân nhiều loại giấy tờ: chứng minh thư, bằng lái xe, bằng đại
học, chứng chỉ, giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản và quyền sử dụng đất…Các
loại giấy tờ trên về nguyên tắc chỉ được cấp một lần với một bản duy nhất. Trong
đời sống xã hội nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan
nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội góp phần đáp ứng nhu cầu của người dân
Vì vậy, tôi chọn đề tài “ Quản lý nhà nước về chứng thực từ thực tiễn
quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn là đáp ứng yêu cầu đặt
ra cả về lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến quá trình nghiên cứu của luận văn có một số công trình khoa
học được công bố, trong đó có thể kể đến một số công trình sau:
- “ Giới thiệu vài nét về xây dựng hoàn thành công chứng nhà nước ở thành
phố Hà Nội”, đăng trên tạp chí Thông tin khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp năm 1995 [2].
Luận văn Thạc sỹ Quản lý hành chính công: “ Quản lý nhà nước về chứng
thực hiện nay – Qua nghiên cứu thực tiễn trên địa bàn thành phố Hà Nội” của tác
giả Ngô Sỹ Chung [12]. Luận văn đã phân tích hoạt động chứng thực và nội dung
quản lý nhà nước về chứng thực theo tinh thần Nghị Định 79/2007/NĐ – CP nêu lên
thực trạng và thách thức trong quản lý nhà nước đối với hoạt động của chính quyền
và nghành tư pháp thành phố Hà Nội. Về phạm vi, luận văn khảo sát thực tiễn ở cấp
huyện và cấp xã trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Luận văn Thạc sỹ Quản lý hành chính công: “Quản lý nhà nước đối với hoạt
động chứng thực huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội” của tác giả Nguyễn Duy
Giang [16] . Luận văn phân tích hoạt động chứng thực và nội dung quản lý nhà
nước về chứng thực theo tinh thần NĐ 79/2007/NĐ – CP, nêu lên thực trạng và
thách thức trong quản lý nhà nước đối với hoạt động của chính quyền huyện Hoài
Đức và ngành tư pháp thành phố Hà Nội.
Luận văn thạc sỹ quản lý hành chính công “Quản lý nhà nước về chứng thực
trên địa bàn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội” của tác giả Phan Thanh Hương
[19]. Luận văn đã phân tích hoạt động chứng thực và nội dung quản lý nhà nước về
chứng thực theo tinh thần NĐ 79/2007 NĐ- CP.
- Quản lý nhà nước về công chứng, chứng thực ở nước ta hiện nay và những
2
6.Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn góp phần đưa cái nhìn tổng thể, có hệ thống về hoạt động chứng
3
thực tại địa bàn quận Hoàn Kiếm - Thành phố Hà Nội theo quy định của pháp luật
hiện hành. Luận văn sẽ đưa ra một cái nhìn tổng thể quản lý về chứng thực gắn liền
với việc triển khai cơ chế “ Một cửa”, dưới góc độ là quản lý cung ứng dịch vụ công
cho người dân. Làm cơ sở để nâng cao hiệu quả hoạt động chứng thực, quản lý nhà
nước về chứng thực nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính giai đoạn tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội
dung của luận văn được kết cấu thành 3 chương.
4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHỨNG THỰC
1.1 Những vấn đề chung về chứng thực
1.1.1. Khái niệm “ chứng thực”
Để hiểu được khái niệm pháp luật về chứng thực, trước hết, cần làm rõ khái
niệm “chứng thực”. “Chứng thực” là một thuật ngữ khá phức tạp, cần được tìm hiểu
dưới góc độ ngôn ngữ học và dưới góc độ khoa học pháp lý và quản lý. Do vậy, cần
phải so sánh, tìm hiểu các quan niệm khác nhau về chứng thực ở trong nước cũng
như những khái niệm tương ứng của khoa học pháp lý nước ngoài.
Về khía cạnh ngôn ngữ, theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ, Nxb Đà
Nẵng năm 1997 có một số định nghĩa có liên quan đến chứng thực, sao: “Sao, chép
lại hoặc tạo ra bản khác theo đúng bản gốc (thường nói về giấy tờ hành chính). Sao
đúng nguyên văn một tài liệu. Sao y bản chính. Bản sao”. Còn về xác nhận được
bản công chứng thay vì biên bản công chứng, trong đó có chữ ký, dấu niêm phong
và ghi rõ ngày, nơi lập, văn bản công chứng là đủ.
Tại khoản 1, 2, 3 Điều 40 của Luật này quy định về chứng thực chữ ký: Một
chữ ký chỉ được chứng thực bởi công chứng viên biết chữ ký hoặc lấy được chữ ký
đó; Công chứng viên chỉ cần kiểm tra lại văn bản xem có tồn tại lý do nào đó gây
phương hại đến việc hành nghề của mình; Khi chứng thực phải khái quát nhân thân
đương sự - người mà công chứng viên biết hoặc lấy được chữ ký và phải nói rõ là
công chứng viên biết trước chữ ký hay vừa lấy chữ ký.
Như vậy, các văn bản pháp luật nước ngoài cũng chỉ đưa ra thuật ngữ “chứng thực”
với những việc làm, hành động cụ thể mà không đưa ra khái niệm về “chứng thực”.
- Quan niệm về “chứng thực” trong các văn bản pháp luật trước năm 2015:
+ Trong Sắc lệnh số 59/SL ngày 15/11/1945 của Chính phủ lâm thời Việt Nam dân
chủ cộng hòa ấn định thể lệ việc thị thực các giấy tờ, Hồ Chủ tịch không dùng thuật ngữ
“chứng thực” mà sử dụng thuật ngữ “thị thực”: Các Ủy ban có quyền thị thực tất cả các
giấy má trong địa phương mình, bất kỳ người đương sự làm giấy má ấy thuộc về quốc
tịch nào. Tuy nhiên, Ủy ban thị thực phải là Ủy ban ở trú quán một bên đương sự lập
ước và về việc bất động sản phải là Ủy ban ở nơi sở tại bất động sản.
+ Thông tư số 858/QLTPK là văn bản đầu tiên xuất hiện thuật ngữ “chứng
thực”: Tất cả các đơn từ, giấy tờ khác có nội dung không trái pháp luật và đạo đức
xã hội chủ nghĩa, thì có thể được công chứng viên chứng thực chữ ký của người lập
ra chúng. Khi chứng nhận chữ ký, công chứng viên không phải kiểm tra, xác nhận
nội dung của việc trong đơn từ, giấy tờ, mà chỉ cần xem nội dung các văn bản đó có
trái pháp luật và các quy định hiện hành hay không? Nếu thấy nội dung và các sự
việc nêu trong đơn từ, giấy tờ có thể có hại cho người ký, thì công chứng viên giải
thích cho đương sự hiểu hậu quả pháp lý của nó. Sau khi đã kiểm tra chữ ký của
6
79/2007/NĐ-CP và bổ sung thêm quy định mới về khái niệm “chứng thực hợp
đồng, giao dịch”.
Như vậy, trải qua các thời kỳ đến nay, chưa có văn bản pháp luật nào đưa ra một
khái niệm rõ ràng, bao quát được đúng bản chất của hoạt động chứng thực, mà
7
chủ yếu đưa ra khái niệm chứng thực của một việc cụ thể nào đó. Tuy nhiên, phân
tích từ các khái niệm nêu trên thì có thể đưa ra một khái niệm chung nhất: Chứng
thực là việc các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền chứng thực xác nhận tính chính
xác, tính có thực của các giấy tờ, văn bản, chữ ký của cá nhân, các sự kiện pháp lý,
thông tin cá nhân để phục vụ trong các quan hệ dân sự, kinh tế, hành chính…
1.1.2. Vai trò của pháp luật về chứng thực
Thứ nhất, quản lý nhà nước về chứng thực tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động
chứng thực và quản lý chứng thực
Căn cứ vào các quy định của pháp luật về chứng thực, cơ quan, tổ chức, cá
nhân hiểu được quyền, nghĩa vụ của mình khi có yêu cầu chứng thực; các cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền chứng thực có cơ sở pháp lý để thực hiện chức năng của
mình.
Về mặt quản lý nhà nước, đó là các hoạt động của các cơ quan nhà nước, cơ
quan hành pháp khi thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn được nhà nước giao trong
việc quản lý chứng thực. Thông qua hoạt động quản lý nhà nước, các cơ quan nhà
nước có thẩm quyền nắm bắt được các nhu cầu về việc sử dụng bản sao có chứng
thực, giấy tờ, văn bản có chứng thực chữ ký, qua đó, đưa ra những chính sách phù
hợp để điều chỉnh hoạt động này đúng với yêu cầu của quản lý, tránh việc sử dụng
tràn lan gây lãng phí cho xã hội.
- Thứ hai, quản lý nhà nước về chứng thực tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền
nhân thân của công dân.
Do bản sao được chứng thực từ bản chính có giá trị sử dụng thay cho bản chính
đã dùng để đối chiếu chứng thực trong các giao dịch, trừ trường hợp pháp luật có
định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Tư pháp. Trên cơ sở của Nghị định
143, năm 1987 có thông tư số 574/QLTP quy định về công tác công chứng nhà nước
được ban hành với cùng với nó là sự ra đời của phòng công chứng TP. Hồ Chí
Minh, phòng công chứng Hà Nội và một số phòng công chứng ở các địa bàn khác
(nếu có nhu cầu), công tác công chứng, chứng thực của UBND cũng được kiện
toàn. Sau đó, để tạo điều kiện hơn nữa cho các địa phương tiếp cận với hoạt động
công chứng, Bộ tư pháp đã ban hành Thông tư số 858/QLTPK ngày 15/10/1987
hướng dẫn thực hiện các việc làm công chứng, tại thời điểm này chủ thể duy nhất
thực hiện công chứng là phòng công chứng. Căn cứ vào những văn bản này thì các
tỉnh thành trên cả nước đã lập ra các phòng công chứng dần dần hình thành mạng
lưới các phòng công chứng trên cả nước.
Tại đại hội Đảng VI năm 1986 nước ta đã có những chuyển biến to lớn sang
thời kỳ của mở cửa và hội nhập. Nhằm đáp ứng nhu cầu của nhân dân thời kỳ này
và theo quan điểm chỉ đạo của Đảng, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số
45/HĐBT ngày 27/2/1991 về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước. Theo quy
định của Nghị định này thì : “Phòng công chứng Nhà nước là cơ quan thuộc Ủy
9
ban nhân dân tỉnh, có tư cách pháp nhân, có tài khoản riêng ở ngân hàng, có con
dấu mang hình quốc huy.”
Tiếp đó, Chính phủ ban hành Nghị định 31/CP về tổ chức và hoạt động của
công chứng Nhà nước vào ngày 18/5/1996 thay thế cho nghị định số 45/HĐBT, theo
đó phòng công chứng là thuộc Sở tư pháp, quy định này là nhằm chuyên môn hóa
hoạt động công chứng và giảm tải cho Ủy ban nhân dân.
Có thể nói, thời kỳ này, hai hoạt động công chứng và chứng thực còn bị lẫn
lộn về nhiều mặt: về tên gọi, về chủ thể, về nội dung, về phạm vi thực hiện… và
luôn được điều chỉnh chung trong cùng một văn bản quy phạm pháp luật. Các
Phòng công chứng bên cạnh việc công chứng hợp đồng, giao dịch vẫn được giao
thực hiện công việc chứng nhận bản sao (có tính chất giản đơn hơn), còn Ủy ban
phí và hành vi nào là hành vi hành chính, là trách nhiệm của cơ quan hành chính
công quyền phải phục vụ dân. Mặt khác, sự pha trộn đó cũng biến hoạt động công
chứng thành hoạt động mang tính chất hành chính khô cứng, quan liêu.
Giai đoạn này, Phòng Công chứng là cơ quan nhà nước, do Nhà nước thành
lập và trực thuộc Sở Tư pháp. Công chứng viên là công chức nhà nước, việc làm và
thu nhập luôn được đảm bảo, không phụ thuộc vào lượng khách hàng, vì vậy dẫn
đến hiện tượng nhiều Phòng công chứng/công chứng viên có biểu hiện cửa quyền,
sách nhiễu, gây khó khăn cho cơ quan, tổ chức, cá nhân. Tình trạng người dân phải
xếp hàng, chờ đợi trước cửa Phòng Công chứng để được công chứng diễn ra phổ
biến. Tình trạng nhờ vả, chạy chọt để được công chứng một hợp đồng, giao dịch
(thậm chí cả bản sao) cũng phổ biến. Chính sự độc quyền này đã tạo cho công
chứng viên có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền. Nạn “cò công chứng” cũng
vì thế mà trở nên phổ biến, gây bức xúc trong nhân dân.
Giai đoạn này, các việc công chứng, chứng thực được thực hiện cũng rất đơn
giản và do chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể, chi tiết về trình tự, thủ tục công
chứng/chứng thực nên có thể nói hoạt động công chứng/chứng thực chưa được diễn
ra bài bản, chuyên nghiệp. Trình tự/thủ tục công chứng/chứng thực giai đoạn này
còn chưa hạn chế được sự tùy tiện.
1.1.3.2. Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2007
Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa, đến năm 2000, công chứng, chứng thực ở Việt Nam đã chứng tỏ là một công
cụ đắc lực phục vụ quản lý nhà nước có hiệu quả góp phần tích cực phòng ngừa
tranh chấp, tạo ra sự an toàn pháp lý cho các quan hệ giao dịch trong xã hội.
Ngày 08/02/2000 Chính phủ ban hành Nghị định 75/NĐ –CP về công chứng,
chứng thực. Nghị định này quy định về phạm vi của công chứng, chứng thực; tổ
chức phòng công chứng, chứng thực; nguyên tắc hoạt động, trình tự thủ tục của việc
công chứng, chứng thực; công tác chứng thực của Ủy ban nhân nhân cấp huyện, thị
xã thành phố thuộc tỉnh và UBND cấp xã, phường, thị trấn. Cũng ừt Nghị định này
thì thuật ngữ “phòng công chứng Nhà nước” đã được thay thế bằng “Phòng công
chứng” thể hiện quan điểm xã hội hòa hoạt động công chứng của Nhà nước ta.Đây
giao dịch dân sự, kinh tế.
1.1.3.3. Giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2014
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước đã đề ra, đặc biệt là Nghị quyết số
48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ
Chính trị, với mục đích tạo điều kiện cho công tác công chứng, chứng thực ở Việt
Nam phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, phục vụ tốt hơn nhu cầu công chứng,
12
chứng thực của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong xã hội, ngày 29/11/2006, Quốc Hội
đã thông qua Luật công chứng và ngày 18/5/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 79/2007/NĐ-CP về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính,
chứng thực chữ ký. Từ đây, hoạt động công chứng và chứng thực đã tách bạch. Việc
ban hành Luật công chứng và Nghị định số 79/2007/NĐ-CP là phù hợp trong giai
đoạn này, đặc biệt việc xã hội hóa hoạt động công chứng và giao việc chứng thực
bản sao cho UBND cấp xã thực hiện là một bước tiến quan trọng trong việc hoàn
thiện pháp luật về công chứng, chứng thực, đưa hoạt động công chứng phát triển
theo hướng chuyên nghiệp, phù hợp với thông lệ quốc tế và gắn hoạt động chứng
thực với vai trò của chính quyền địa phương.
Từ thời điểm này, hoạt động công chứng và chứng thực đã có sự tách bạch,
nhiệm vụ của hoạt động công chứng và chứng thực đã được phân biệt tương đối
rạch ròi, phù hợp với tình hình thực tế của giai đoạn này. Theo đó, tổ chức hành
nghề công chứng được giao nhiệm vụ chính là công chứng hợp đồng, giao dịch,
không còn đảm nhận nhiệm vụ mang tính chất chứng thực là chứng thực bản sao,
chữ ký. Theo quy định của Luật Công chứng thì Phòng công chứng và Văn phòng
công chứng có nhiệm vụ là:“chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng,
giao dịch khác bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc
cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”. Còn Ủy ban nhân dân cấp huyện,
cấp xã theo quy định của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP được giao nhiệm vụ chứng
chứng các thẩm quyền này là phù hợp với tình hình hiện nay, một mặt vừa tạo thêm
một “kênh” để người dân lựa chọn, một mặt vừa tạo điều kiện cho các tổ chức hành
nghề công chứng duy trì và nâng cao chất lượng hoạt động.
Còn với sự ra đời của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/2/2015 của Chính
phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký
và chứng thực hợp đồng, giao dịch, thì về cơ bản hoạt động chứng thực vẫn được
duy trì tại UBND cấp huyện, cấp xã, bên cạnh đó là hoạt động chứng thực bản sao,
chữ ký tại tổ chức hành nghề công chứng. Tuy nhiên, để đảm bảo phù hợp với điều
kiện, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác chứng thực, việc chứng
thực hợp đồng, giao dịch đã được đơn giản hóa, đặc biệt là giá trị pháp lý của hợp
đồng, giao dịch được chứng thực.
Theo đó, hợp đồng, giao dịch được chứng thực chỉ có giá trị “hình thức,” tức có
giá trị pháp lý thấp hơn so với hợp đồng, giao dịch được công chứng. Điều này là
phù hợp với thực tế vì hiện nay, tại những tỉnh, thành phố lớn nơi có điều kiện kinh
tế - xã hội phát triển thì việc chứng thực hợp đồng, giao dịch đã được chuyển giao
cho các tổ chức hành nghề công chứng. Chỉ tại những địa phương vùng sâu, vùng,
xa, vùng kinh tế khó khăn... thì UBND cấp huyện, cấp xã vẫn tiếp tục đảm đương
nhiệm vụ chứng thực hợp đồng, giao dịch. Việc chứng thực hợp đồng, giao dịch
theo quy định tại Nghị định 23/2015/NĐ-CP một mặt vừa làm giảm thủ tục cũng
14
như lệ phí cho bà con nơi đây, mặt khác vẫn đảm bảo yêu cầu của pháp luật trong
trường hợp giao dịch đó buộc phải có công chứng/chứng thực. Chỉ trong trường hợp
phát sinh tranh chấp thì do hợp đồng, giao dịch được chứng thực có giá trị pháp lý
thấp hơn nên độ an toàn không cao bằng hợp đồng, giao dịch được công chứng. Tuy
nhiên, thực tế cho thấy giao dịch diễn ra tại những địa phương này thường là đơn
giản, có giá trị nhỏ vì vậy khả năng phát sinh tranh chấp không cao hoặc nếu có
cũng không quá khó để giải quyết.
1.2 Quản lý nhà nước về chứng thực
Theo điều khiển học: QL là quá trình điều khiển của chủ thể QL đối với đối
tượng QL để đạt được mục tiêu đã định.
Theo quan điểm của kinh tế học: QL là sự tính toán, sử dụng hợp lý các
nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.
Theo GS Hà Sĩ Hồ: QL là một quản trình tác động có định hướng, có chủ
đích, tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể có dựa trên các thông tin về tình
trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được
ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định [20;tr12].
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: QL là tác động có mục đích, có kế hoạch của
chủ thể QL đến tập thể của người lao động nói chung (khách thể QL) nhằm thực
hiện mục tiêu dự kiến [22; tr.18].
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “QL là sự tác động có định hướng, có chủ
đích của chủ thể QL đến khách thể QL trong một tổ chức, làm cho tổ chức đó vận
hành và đạt được mục tiêu của tổ chức” [22;tr. 16].
Theo Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “QL là một quá trình định hướng, quá
trình có mục tiêu; QL là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt
được mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ
thống mà người QL mong muốn” [22; tr.17].
Theo tác giả Nguyễn Văn Lê: “QL là một hệ thống xã hội, là khoa học và
nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào con người nhằm đạt hiệu
quả tối ưu theo mục tiêu đề ra” [22; tr.13].
Theo TS.Nguyễn Quốc Chí và PGS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Quản lí là
hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí (người quản lí) đến khách
thể quản lí (người bị quản lí) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và
đạt được mục đích của tổ chức” [2; tr.16].
1.2.1.2 Quản lý Nhà nước
Khái niệm quản lý nhà nước chỉ xuất hiện và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn
tại của nhà nước.
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ
máy nhà nước, là sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện
quản lý hành chính nhà nước. Bằng việc ban hành văn bản, chủ thể quản lý hành
chính nhà nước thể hiện ý chí của mình dưới dạng các chủ trương, chính sách pháp
luật nhằm định hướng cho hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật; dưới dạng quy
phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa các quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà
nước và của cấp trên thành những quy định chi tiết để có thể triển khai thực hiện
trong thực tiễn; dưới dạng các mệnh lệnh cá biệt nhằm áp dụng pháp luật vào thực
tiễn, trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ quản lý;
dưới những dạng mệnh lệnh chỉ đạo cấp dưới trong hoạt động, nhằm tổ chức thực
hiện pháp luật trong thực tiễn; dưới dạng những thông tin hướng dẫn đối lập với cấp
dưới nhằm đảm bảo sự thống nhất, có hệ thống của bộ máy hành chính nhà nước.
17
Thứ hai, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động được tiến hành bởi những
chủ thể có quyền năng hành pháp.
Cách hiểu phổ biến hiện nay thì nhà nước có ba quyền năng: lập pháp, hành
pháp và tư pháp. Trong đó, quyền năng hành pháp trước hết và chủ yếu thuộc về các
cơ quan hành chính nhà nước, tuy nhiên trong rất nhiều hoạt động khác như: việc ổn
định tổ chức nội bộ của các cơ quan nhà nước, hoạt động quản lý được tiến hành bởi
các bộ…Trong những trường hợp này quyền năng hành pháp cũng thể hiện rõ nét
và nếu xét về bản chất thì tương đồng với hoạt động hành pháp của các cơ quan
hành chính nhà nước.
Thứ ba, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động có tính thống nhất, được
tổ chức chặt chẽ
Để bảo đảm tính pháp chế trong hoạt động hành pháp, bộ máy các cơ quan
hành pháp được tổ chức thành một khối thống nhất từ trung ương tới địa phương,
đứng đầu là Chính phủ, nhờ đó các hoạt động của bộ máy được chỉ đạo, điều hành
thống nhất, bảo đảm lợi ích chung của cả nước, bảo đảm sự liên kết, phối hợp nhịp
nhàng giữa các địa phương tạo ra sức mạnh tổng hợp, tránh được sự cục bộ phân
hóa giữa các địa phương hay vùng miền khác nhau. Tuy nhiên, do mỗi địa phương
về hoạt động chứng thực; phổ biến, giáo dục pháp luật về chứng thực; quản lý hệ
thống tổ chức và hoạt động của các cấp có thẩm quyền trong hoạt động chứng thực;
đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ chứng thực; kiểm tra, thanh tra, khen
thưởng, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động chứng thực; đảm
bảo kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện cho một số hoạt động chức thực; tổng kết
hoạt động chứng thực.
1.2.2 Nội dung, hình thức và phương pháp quản lý nhà nước về chứng thực
1.2.2.1 Nội dung quản lý nhà nước về chứng thực
Pháp luật là công cụ quan trọng để nhà nước tổ chức quản lý xã hội nhất là khi
xây dựng một chế độ xã hội mới. Cho nên, nhà nước cần phải thực hiện các hoạt động
xây dựng và hoàn thiện pháp luật, tổ chức thực hiện pháp luật, xử lý vi phạm pháp luật.
Đây là ba khâu quan trọng của qui trình quản lý nhà nước bằng pháp luật, hoạt động
quản lý nhà nước sẽ không thực hiện được nếu thiếu một trong ba khâu đó.
Cho nên, giữa ba khâu tồn tại một mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời
cấu thành nội dung của quản lý nhà nước bằng pháp luật. Quản lý nhà nước về
chứng thực cũng vậy, nội dung của nó được cấu thành từ ba khâu là xây dựng và
hoàn thiện các qui định của pháp luật về chứng thực, tổ chức thực hiện các quy định
của pháp luật về chứng thực, bảo vệ các quy định của pháp luật về chứng thực.
- Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật về chứng thực:
Đây là nội dung cơ bản của quản lý nhà nước về chứng thực vì các văn bản
pháp luật là cơ sở đầu tiên và quan trọng để quản lý nhà nước có hiệu quả.
Hoạt động ban hành các quy định của pháp luật về chứng thực là hoạt động
phức hợp gồm nhiều giai đoạn kế tiếp nhau, do nhiều chủ thể có vị trí, chức năng,
19
quyền hạn khác nhau tiến hành, bắt đầu từ giai đoạn hình thành sang kiến xây dựng
pháp luật đến việc công bố văn bản pháp luật.
Trong tất cả các giai đoạn của hoạt động xây dựng các quy định pháp luật về
20