VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM VŨ MONG
GIAO KẾT HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
NGÂN HÀNG OCEANBANK
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM VŨ MONG
GIAO KẾT HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
NGÂN HÀNG OCEANBANK
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN ĐỨC MINH
HÀ NỘI, 2019
1.4. Điều kiện có hiệu lực của giao kết Hợp đồng tín dụng.............................................. 25
1.5. Trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng tín dụng........................................................ 30
1.6. Nguyên tắc giao kết hợp đồng tín dụng..................................................................... 38
1.7. Mối quan hệ giữa giao kết hợp đồng bảo đảm tín dụng với giao kết hợp đồng
tín dụng............................................................................................................................ 41
1.8. Điều kiện giao dịch chung trong giao kết hợp đồng tín dụng..............................43
Chương 2........................................................................................................................ 48
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG QUA THỰC TIỄN
NGÂN HÀNG OCEANBANK...................................................................................... 48
2.1. Thực trạng pháp luật về giao kết hợp đồng tín dụng........................................... 48
2.2. Thực tiễn giao kết hợp đồng tín dụng tại Ngân hàng OceanBank.............................53
2.3. Các kết luận và phát hiện qua nghiên cứu................................................................. 56
2.4. Định hướng hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng tín dụng..............................62
2.5. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng tín dụng.............65
KẾT LUẬN..................................................................................................................... 74
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Stt
Kí hiệu
Diễn giải
1
BIDV
Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam
7
TCTD
Tổ chức tín dụng
8
TMCP
Thương mại cổ phần
9
VBHD
Văn bản hướng dẫn
10
WTO
Tổ chức Thương Mại Thế giới
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, Việt Nam đã và đang có những bước đi hết sức quan
trọng trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế. Việc gia nhập Tổ chức thương mại
và lợi ích chung của toàn xã hội.
Hơn nữa, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế cũng đặt ra yêu cầu phải
có sự thống nhất giữa quy phạm pháp luật quốc gia với các quy phạm pháp luật
quốc tế, giữa các quy định của pháp luật về giao kết hợp đồng tín dụng với các cam
kết của WTO mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.
Với các lý do như trên, em xin lựa chọn đề tài “Giao kết hợp đồng tín dụng
ngân hàng theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Ngân hàng OceanBank” để
nghiên cứu. Hi vọng rằng với những nghiên cứu này sẽ góp phần hoàn thiện những
vấn đề bất cập trong việc giao kết hợp đồng tín dụng.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn
Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực tín dụng
ngân hàng nói chung và giao kết hợp đồng tín dụng nói riêng ở những khía cạnh
khác nhau như:
- “Một số vấn đề pháp lý về hợp đồng tín dụng và thời hiệu khởi kiện vụ án
kinh tế về tranh chấp hợp đồng tín dụng” – Hoàng Quỳnh Chi – Kiểm sát. Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, số 4/2002. Bài viết đã đề cập đến nhũng quy định của
pháp luật về chủ thể, đối tượng, vấn đề giao kết và thực hiện hợp đồng tín dụng,
thời hiệu khởi kiện vụ án kinh tế về tranh chấp hợp đồng tín của các tổ chức tín
dụng ở Việt Nam.
- “Các biện pháp pháp lý bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng” – Phạm
Văn Đàm – Dân chủ và Pháp luật. Bộ Tư pháp, số 11/2011. Bài viết trình bày khái
niệm, bản chất và đặc điểm sự cần thiết phải áp dụng các biện pháp bảo đảm thực
hiện HĐTD. Đối với các khoản tiền vay bằng tài sản: cầm cố, thế chấp, bảo lãnh...
- “Vận dụng quy định của pháp luật về lãi suất để giải quyết tranh chấp hợp
đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án” – Lương Khải An – Tạp chí Kiểm sát, số
12/2012. Bài viết chỉ ra việc vận dụng các quy định về lãi suất quá hạn, lãi suất chậm
thi hành án vẫn còn những quan điểm khác nhau; bên cạnh đó, hướng dẫn của ngành
Ngân hàng còn chồng chéo với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp
trên; các cơ quan liên ngành cũng chưa kịp thời phối kết hợp để cùng giải quyết vướng
mắc nên việc giải quyểt tranh chấp còn thiếu thống nhất, chưa thỏa đáng.
Thứ nhất là, nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản
pháp luật về giao kết hợp đồng tín dụng.
Thứ hai là, phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về
giao kết hợp đồng tín dụng ở nước ta hiện nay, đặc biệt là tại Ngân hàng
OceanBank.
3
Thứ ba là, đề xuất một số kiến nghị nhằm sửa đổi những quy định bất cập, góp
phần hoàn thiện khung pháp lý về giao kết hợp đồng tín dụng để nâng cao hiệu quả của
hoạt động tín dụng ở nước ta nói chung và Ngân hàng OceanBank nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài lấy đối tượng nghiên cứu là các quy định của pháp luật Việt Nam hiện
hành về giao kết hợp đồng tín dụng, cụ thể là thực tiễn áp dụng pháp luật về giao kết
hợp đồng tín dụng tại Ngân hàng OceanBank.
Đồng thời, qua việc nghiên cứu thực trạng pháp luật điều chỉnh hợp đồng tín
dụng, đề tài sẽ chỉ ra một số vấn đề bất cập còn tồn đọng. Từ đó, tác giả đề xuất một
số quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng tín dụng,
nâng cao hiệu quả và tính khả thi của việc áp dụng pháp luật về hoạt động tín dụng
vào thực tiễn tại Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Pháp luật về giao kết hợp đồng tín dụng ngân hàng có phạm vi nghiên cứu rất
rộng, nội dung phức tạp, bao hàm nhiều lĩnh vực pháp luật như dân sự, hành chính,
hình sự… Do đó, để nghiên cứu một cách toàn diện thì đòi hỏi sự đầu tư nghiên cứu
rất nhiều kiến thức có liên quan đến nhiều ngành luật khác nhau. Vì vậy, với việc
nghiên cứu dừng lại ở mức đề tài luận văn thạc sĩ, tác giả chỉ giới hạn phạm vi nội
dung nghiên cứu là pháp luật về giao kết hợp đồng tín dụng tại ngân hàng. Trên cơ
sở đó, tác giả đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa pháp luật về giao kết
Ngoài ra, việc thu thập, nghiên cứu, phân tích các tài liệu được cung cấp bởi
Ngân hàng OceanBank cũng góp phần hoàn thành và làm rõ hơn mục đích nghiên
cứu. Thêm nữa để có cái nhìn toàn diện, khách quan, đa chiều hơn về vấn đề nghiên
cứu, tác giả cũng tiến hành nghiên cứu thông qua sách báo, tạp chí và internet.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Đề tài nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung và phát triển lý luận về
giao kết hợp đồng tín dụng và tìm ra các giải pháp nhằm hạn chế tranh chấp trong
giao kết hợp đồng tín dụng.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có tính ứng dụng thực tiễn.
- Một là, nội dung của luận văn nhằm hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp
đồng tín dụng.
- Hai là, hạn chế các tranh chấp phát sinh trong quá trình giao kết hợp đồng
tín dụng.
5
- Ba là, bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của bên cho vay và bên vay, tạo môi
trường kinh doanh lành mạnh cho sự phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, kết
cấu của đề tài bao gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giao kết hợp đồng tín dụng
Chương 2: Thực trạng giao kết hợp đồng tín dụng qua thực tiễn Ngân hàng
OceanBank và giải pháp
Cuối cùng là Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo
6
định, với điều kiện có hoàn trả cả gốc lẫn lãi, dựa trên sự tín nhiệm” [23].
7
Hay: “Hợp đồng tín dụng ngân hàng là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa tổ
chức tín dụng (gọi là bên cho vay) và khách hàng vay vốn (gọi là bên đi vay), theo đó
bên cho vay cấp cho bên đi vay một khoản tiền nhất định để sử dụng trong một khoảng
thời gian nhất định và khi hết hạn đó, bên đi vay phải hoàn trả lại cả gốc và lãi” [22].
Từ các định nghĩa nêu trên, chúng ta có thể hiểu: hợp đồng tín dụng là sự
thoả thuận bằng văn bản giữa tổ chức tín dụng (bên cho vay) với khách hàng là tổ
chức, cá nhân (bên vay) nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ nhất định giữa các bên
theo quy định của pháp luật, theo đó tổ chức tín dụng (bên cho vay) giao hoặc cam
kết giao cho khách hàng (bên vay) một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác
định trong một thời gian nhất định với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Bản chất của hợp đồng bao giờ cũng là sự thỏa thuận, nếu không có thỏa
thuận thì không có hợp đồng. Nhưng chỉ được coi là hợp đồng tín dụng khi các bên
tham gia nhằm làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Mỗi
chủ thể tham gia giao kết hợp đồng tín dụng đều có mục đích, động cơ nhằm hướng
tới lợi ích nhất định. Vì vậy, khi giao kết hợp đồng tín dụng các bên có thể tự do bày
tỏ ý chí của mình theo nguyên tắc và trình tự nhất định, cùng thỏa thuận để đi đến
thống nhất thành ý chí chung và nếu ý chí chung đó phù hợp với quy định của pháp
luật thì hợp đồng đó được coi là có hiệu lực pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa
vụ của các bên.
Giao kết hợp đồng tín dụng là giai đoạn quyết định việc có tiến tới xác lập
hợp đồng hay không và liên quan tới thời điểm có hiệu lực của hợp đồng. Trước
tiên, là việc một bên biểu hiện ý chí của mình trước người khác bằng cách bày tỏ
cho phía bên kia biết ý muốn tham gia giao kết với người đó một HĐTD. Bên đề
nghị phải đưa ra những điều khoản của hợp đồng một cách cụ thể và rõ ràng. Việc
bên được đề nghị muốn sửa đổi hoặc thay đổi nội dung mà bên đề nghị đưa ra. Vì
vậy, họ sẽ trở thành bên đề nghị mới và bên đã đề nghị trước đó lại trở thành bên
được đề nghị. Bên đề nghị mới cũng chịu sự ràng buộc của mình về những nội dung
đã đề nghị. Sự hoán vị này có thể xảy ra nhiều lần cho đến khi nào các bên thống
nhất thỏa thuận được với nhau toàn bộ nội dung của hợp đồng thì sẽ đi đến giao kết
hợp đồng tín dụng.
Để thực hiện hoạt động cấp tín dụng, TCTD phải giao kết và tiến hành ký kết
hợp đồng nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Trong giao kết HĐTD,
TCTD luôn tham gia với tư cách là chủ thể cấp tín dụng nhằm phân phối lại nguồn
vốn đã huy động từ tổ chức và cá nhân khác trong xã hội. Với tư cách là chủ thể cấp
tín dụng, TCTD phải thẩm định được phương án vay vốn, tính hiệu quả của việc sử
9
dụng vốn vay. Điều này là vô cùng cần thiết vì nó có khả nẳng hoàn trả nợ vay của
bên vay.
Việc đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng được thực hiện bằng những hình
thức khác nhau: văn bản viết, lời nói hoặc phương tiện khác. Việc trả lời do hai bên
thỏa thuận: trả lời ngay hoặc một thời hạn do hai bên ấn định. Khi bên đề nghị giao
kết có thời hạn ấn định trả lời thì việc chấp nhận giao kết hợp đồng chỉ có giá trị khi
được thực hiện trong thời hạn đó. Nếu sự chấp nhận diễn ra sau thời hạn đó thì được
xem như là một đề nghị giao kết hợp đồng mới. Bên đề nghị giao kết có thể thay đổi
hoặc rút lại đề nghị trong trường hợp: khi bên được đề nghị giao kết chưa nhận
được lời đề nghị hoặc bên đề nghị giao kết nêu rõ điều kiện được thay đổi hoặc rút
lại lời đề nghị.
1.2. Cơ sở pháp lý và nội dung pháp luật điều chỉnh giao kết hợp đồng
tín dụng
1.2.1. Cơ sở pháp lý
Trong hệ thống các tổ chức tín dụng, ngân hàng được coi là một trong những
đơn vị có vị trí quan trọng nhất, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, đất nước đang là
khách hàng thông qua một giao dịch hợp đồng, theo đó tổ chức tín dụng thỏa thuận
để khách hàng sử dụng một khoản tiền trong một thời hạn nhất định có hoàn trả cả
gốc và lãi. Việc cho vay được thể hiện dưới hình thức pháp lý là hoạt động giao kết
hợp đồng, hay nói cách khác, việc cho vay phải được thông qua hoạt động giao kết
hợp đồng tín dụng, giao kết hợp đồng tín dụng chính là hình thức pháp lý của quan
hệ tín dụng ngân hàng, bởi lẽ nó phản ánh sự thỏa thuận trực tiếp của các bên trong
việc xác lập một quan hệ tín dụng, xác lập các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể của
các bên trong việc vay vốn và hoàn trả vốn vay.
Xuất phát từ vai trò của tín dụng trong nền kinh tế cũng như nhằm đảm bảo
sự an toàn của hoạt động ngân hàng và an toàn của hệ thống các tổ chức tín dụng
nên các nước đều coi trọng việc xây dựng một chế định về giao kết hợp đồng tín
dụng chặt chẽ và chuẩn mực.
Thứ hai, trình tự giao kết hợp đồng tín dụng là một quá trình mà trong đó các
bên chủ thể bày tỏ ý chí với nhau bằng cách trao đổi ý kiến rồi đi đến thỏa thuận
trong việc cùng nhau xác lập các quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, xác định từng nội
dung cụ thể của hợp đồng. Khi một bên muốn thiết lập một HĐTD thì ý muốn đó
phải được thể hiện ra bên ngoài thông qua một hành vi nhất định. Chỉ như vậy, bên
còn lại mới có thể nhận biết được ý muốn từ họ và từ đó đi đến việc giao kết hợp
đồng.
11
Theo Khoản 1 Điều 386 BLDS 2015 thì: “Đề nghị giao kết hợp đồng là việc
thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên
đề nghị đối với bên đã được xác định hoặc tới công chúng (sau đây gọi chung là
bên được đề nghị)”. Theo đó, đề nghị giao kết HĐTD là một bên biểu hiện ý chí,
nguyện vọng của mình trước một người khác bằng cách bày tỏ cho phía bên kia biết
được ý muốn tham gia giao kết với người đó một HĐTD. HĐTD mà Bên đề nghị
đưa ra phải có những nội dung phù hợp và các điều khoản phải rõ ràng, cụ thể.
Còn chấp nhận đề nghị giao kết HĐTD là việc bên được đề nghị nhận lời đề
bên. Trong HĐTD cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối ứng. Cụ thể là, TCTD
có nghĩa vụ giải ngân theo đúng thỏa thuận, được quyền giám sát việc sử dụng vốn
vay của khách hàng, quyền yêu cầu khách hàng trả tiền đúng thời hạn… Bên khách
hàng có quyền yêu cầu TCTD giải ngân như đã cam kết, có nghĩa vụ sử dụng vốn
đúng mục đích, hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn.
Thứ tư, tổ chức giao kết hợp đồng tín dụng là chủ thể chủ yếu của pháp luật
về giao kết hợp đồng tín dụng.
Tại Khoản 2 Điều 2 Thông tư 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động
cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng
thì các tổ chức tín dụng được phép thực hiện nghiệp vụ cho vay là tổ chức tín dụng
được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng. Trước
hết, theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 thì: “Tổ chức
tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân
hàng”. Như vậy, xét về bản chất, tổ chức tín dụng là một doanh nghiệp nhưng nó có
những đặc điểm riêng để phân biệt với các doanh nghiệp khác, chẳng hạn:
- Việc cho vay của tổ chức tín dụng là hoạt động nghề nghiệp kinh doanh mang
tính chức năng. Điều này được thể hiện rõ tại Khoản 7 Điều 161 Luật các TCTD 2010:
“7. Kể từ thời điểm Luật này có hiệu lực thi hành, các tổ chức không phải là tổ chức tín
dụng đang thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng phải chấm dứt ngay các
hoạt động ngân hàng, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này”.
- Hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng không chỉ là một ngành nghề kinh
doanh mà hơn nữa còn là một ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Điều này thể
hiện ở việc hoạt động cho vay của TCTD phải thỏa mãn một số điều kiện nhất định
như phải có vốn pháp định; phải được NHNN cấp phép hoạt động ngân hàng trước
khi tiến hành đăng ký kinh doanh theo luật định.
Thứ năm, hình thức giao kết hợp đồng tín dụng.
Xuất phát từ đặc thù của quan hệ tín dụng luôn tiềm ẩn độ rủi ro cao. Rủi ro
trong hợp đồng tín dụng không chỉ ảnh hưởng đến tổ chức tín dụng mà còn ảnh
13
việc bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thời hạn, thực
hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ và
bên có nghĩa vụ phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền. Tương tự như
14
vậy, chung ta có thể hiểu vi phạm nghĩa vụ giao kết là các bên không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng những thỏa thuận đã quy định trong hợp đồng. Đối với hợp
đồng tín dụng thì chủ thể vi phạm có thể là TCTD, có thể là khách hàng, mà cũng có
thể đồng thời các TCTD và khách hàng.
Theo đó, trong HĐTD không có một điều khoản riêng ghi nhận thỏa thuận
giữa các bên về việc xử lý các vi phạm hợp đồng. Việc quy định về các vi phạm của
các bên và phương thức xử lý, áp dụng chế tài thường được nêu trong các điều
khoản về quyền và nghĩa vụ của các bên. Những thỏa thuận đối với nội dung này
cũng phải tuân theo nguyên tắc quyền tự do định đoạt bị giới hạn bởi pháp luật, tức
là dựa trên những quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên trong
hợp đồng, về trách nhiệm tài sản do vi phạm hợp đồng….
Theo nguyên tắc xác định các trường hợp vi phạm HĐTD chủ yếu dựa trên
cơ sở những thỏa thuận về nghĩa vụ của các bên, cụ thể:
-
Đối với tổ chức tín dụng, các vi phạm có thể là: không giải ngân và
thu nợ theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng khi khách hàng cung cấp đầy đủ hồ sơ,
tài liệu; làm lộ thông tin của khách hàng đã cung cấp cho TCTD; vi phạm những
thỏa thuận khác trong hợp đồng…
-
Đối với khách hàng, các vi phạm có thể là: không cung cấp đầy đủ,
án vì tranh chấp có thể bị chuyển sang khởi tố hình sự. Tình trạng này một phần
xuất phát từ việc cơ quan tư pháp thường quy kết trách nhiệm cho các bộ tín dụng,
cho TCTD mà coi nhẹ trách nhiệm của khách hàng. Vi vậy, để giải quyết các vướng
mắc của việc giải quyết tranh chấp trong quá trình giao kết HĐTD, cần có những
quy định về thời hiệu khởi kiện vụ kinh tế áp dụng cho ngành ngân hàng đồng thời
bổ sung những quy định rõ ràng và cụ thể về quyền của TCTD trong việc xử lý các
tài sản bảo đảm tiền vay để thu hồi nợ…
1.3. Hình thức và chủ thể giao kết hợp đồng tín dụng
1.3.1. Hình thức giao kết hợp đồng tín dụng
Việc đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng được thực hiện bằng những hình
thức khác nhau: văn bản viết, lời nói hoặc phương tiện khác. Tuy nhiên, hiện nay,
quan hệ tín dụng luôn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Rủi ro không chỉ ảnh hưởng đến các
tổ chức tín dụng mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế nước nhà. Do đó,
hầu hết pháp luật các nước trên thế giới đều yêu cầu các bên khi tham gia giao kết
hợp đồng tín dụng phải thể hiện dưới hình thức văn bản. Ở Việt Nam, pháp luật
không quy định cụ thể về hình thức giao kết hợp đồng tín dụng, theo Khoản 4 Điều
400 BLDS 2015 thì: “Thời điểm giao kết hợp đồng bằng văn bản là thời điểm bên
sau cùng ký vào văn bản hay bằng hình thức chấp nhận khác được thể hiện trên văn
16
bản”. Theo quy định này có thể hiểu, đối với những hợp đồng giao kết bằng văn
bản thường phải có chữ ký của bên sau cùng ký vào văn bản hoặc hình thức chấp
nhận khác được thể hiện trên văn bản; đối với chủ thể tham gia giao kết là tổ chức,
pháp nhân thì giao kết hợp đồng thường có chữ kí, có đóng dấu.
Việc giao kết hợp đồng tín dụng bằng văn bản có những ưu điểm:
- Hợp đồng tín dụng được giao kết bằng văn bản sẽ tạo ra bằng chứng cụ
thể cho việc thực hiện hợp đồng và giải quyết các tranh chấp pháp sinh từ hợp đồng
tín dụng.
- Việc giao kết hợp đồng tín dụng bằng văn bản thực chất là một sự công bố
Nhà nước cho phép hoạt động ngân hàng, được thành lập và hoạt động theo Luật
các TCTD 2010 và các pháp luật liên quan, có chức năng hoạt động, kinh doanh tín
dụng, thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội.
Bên nhận đề nghị giao kết HĐTD có quyền yêu cầu khách hàng cung cấp các
tài liệu, hồ sơ chứng minh dự án, phương án vay vốn khả thi, mục đích sử dụng vốn
phù hợp và người bảo lãnh trước khi cho vay; từ chối yêu cầu vay vốn của khách
hàng trong trường hợp khách hàng không đủ điều kiện vay vốn, phương án vay vốn
không hiệu quả, mục đích sử dụng vốn không phù hợp hoặc ngân hàng không đủ
nguồn vốn để cho vay; kiểm tra, giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả
nợ của khách hàng. Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước
hạn theo nội dung đã thỏa thuận khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự
thật, vi phạm quy định trong thỏa thuận cho vay và/hoặc hợp đồng bảo đảm tiền
vay; khởi kiện khách hàng vi phạm HĐTD hoặc khởi kiện bên thứ ba cầm cố, thế
chấp, bảo lãnh theo quy định của pháp luật; trường hợp khách hàng không trả được
nợ đến hạn thì TCTD có thể áp dụng các biện pháp thu hồi nợ theo thỏa thuận cho
vay, hợp đồng bảo đảm và quy định của pháp luật có liên quan hoặc yêu cầu người
thứ ba thực hiện nghĩa vụ cầm cố, thế chấp, bảo lãnh cho khách hàng vay vốn; quyết
định miễn, giảm lãi tiền vay, phí cho khách hàng theo quy định nội bộ của TCTD.
Bên nhận đề nghị giao kết HĐTD có nghĩa vụ giải ngân cho bên vay theo
đúng thoả thuận trong HĐTD đồng thời thực hiện đúng các thoả thuận đã quy định
trong HĐTD; lưu giữ hồ sơ tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật có liên
quan. Trong số các nghĩa vụ nêu trên, thì nghĩa vụ giải ngân là quan trọng nhất. Nếu
nghĩa vụ này không được thực hiện, thì sẽ không phát sinh quyền và nghĩa vụ khác
của hai bên.
Theo Khoản 1 Điều 4 Luật các TCTD 2010 thì: “Tổ chức tín dụng là doanh
nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín
18
dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô
Pháp nhân Việt Nam: cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân,
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức kinh tế (doanh nghiệp nhà nước,
19