MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU.......................................................................................................4
Chương 1: Một số vấn đề chung về quy trình nhập khẩu..................................7
1. Giới thiệu quy trình nhập khẩu.............................................................................7
1.1. Khái niệm nhập khẩu.........................................................................................7
1.2. Quy trình nhập khẩu..........................................................................................7
1.3. Các bước tiến hành trong quy trình nhập khẩu...................................................8
1.3.1 Nghiên cứu thị trường.....................................................................................9
1.3.2 Công tác chuẩn bị ký kết hợp đồng................................................................14
1.3.3 Đàm phán ký kết hợp đồng............................................................................15
1.3.4 Ký kết hợp đồng............................................................................................18
1.3.5 Thực hiện hợp đồng......................................................................................25
2. Các yếu tố đánh giá quy trình nhập khẩu............................................................31
2.1. Bảo đảm thuận lợi cho hoạt động nhập khẩu...................................................31
2.2. Bảo đảm hiệu quả............................................................................................32
2.3. Yêu cầu gắn quy trình nhập khẩu với nhu cầu và đáp ứng kịp thời nhu cầu của
doanh nghiệp..........................................................................................................33
2.4. Tổng thời gian thực hiện quy trình..................................................................33
2.5. Phối hợp các bước trong quy trình...................................................................34
2.6. Mức độ hoàn thành mỗi bước trong quy trình..................................................35
3. Các yếu tố ảnh hưởng quy trình nhập khẩu.........................................................36
3.1. Ảnh hưởng của chính sách pháp luật và các cơ quan Nhà nước.......................36
3.2. Ảnh hưởng của hệ thống thông tin...................................................................37
3.3. Ảnh hưởng tổ chức quy trình làm việc............................................................37
3.4. Ảnh hưởng do mối quan hệ bạn hàng..............................................................38
3.5. Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái và tỷ suất ngoại tệ hàng nhập khẩu..................39
3.6. Ảnh hưởng từ sự biến động thị trường trong và ngoài nước............................39
Chương 2: Thực trạng quy trình nhập khẩu sách báo của công ty Xunhasaba
...............................................................................................................................40
1. Quá trình hình thành, phát triển và đặc điểm hoạt động kinh doanh của công ty
5.1. Các nhân tố văn hóa xã hội, thị hiếu tiêu dùng.................................................64
5.2. Các nhân tố về chính sách của Nhà nước và luật pháp.....................................65
5.3. Nhu cầu khách hàng và trình độ dân trí...........................................................66
5.4. Ảnh hưởng do mối quan hệ bạn hàng..............................................................67
5.5. Ảnh hưởng tổ chức quy trình làm việc............................................................68
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quy trình nhập khẩu sách báo của công ty
Xunhasaba...........................................................................................................69
1. Mục tiêu, phương hướng phát triển của Công ty Xunhasaba
trong những năm tới...............................................................................................69
1.1. Chiến lược kinh doanh của Công ty Xunhasaba...............................................70
1.2. Mở rộng kinh doanh phát triển thị trường........................................................70
1.3. Tổ chức quản lý và chuyên môn nghiệp vụ......................................................72
2. Một số giải pháp cơ bản hoàn thiện quy trình nhập khẩu sách báo của
Công ty Xunhasaba................................................................................................74
2.1. Cơ sở đưa ra giải pháp.....................................................................................74
2.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quy trình nhập khẩu tại Công ty
xuất nhập khẩu sách báo Xunhasaba......................................................................75
Kết luận...................................................................................................................86
Tài liệu tham khảo..................................................................................................87
3
PHẦN MỞ ĐẦU
Trong quá trình hội nhập nền kinh tế thế giới của chúng ta ngày nay, đất
nước ta đã thu được nhiều thành quả to lớn về chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn
hoá, xã hội. Đó là những cơ sở cho sự phát triển bền vững của đất nước ta để vững
bước trong một thiên niên kỷ mới.
Một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng của chúng ta là “ Từ nay đến
năm 2020 phải phấn đấu xây dựng nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp, khoa
học và công nghệ phải trở thành nền tảng và động lực cho công nghiệp hoá - hiện
đại hoá đất nước”. Xuất bản phẩm là một trong những công cụ góp phần thực hiện
khi tiến hành nghiên cứu đề tài này, em tin chắc rằng chuyên đề không thể tránh
khỏi những thiếu sót. Em rất mong được các thày cô giáo trong khoa Kinh tế và
Kinh doanh Quốc tế trường Đại học Kinh tế quốc dân cũng như các anh chị đồng
nghiệp trong công ty Xunhasaba chỉ bảo để bản chuyên đề được hoàn thiện hơn
nữa.
Nhân đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới thầy giáo TS Mai Thế
Cường cũng như các cán bộ công ty Xunhasaba đã nhiệt tình giúp đỡ động viên em
để hoàn thành bản chuyên đề này.
Mục đích nghiên cứu đề tài:Từ thực trạng quy trình nhập khẩu sách báo
của công ty Xunhasaba, phân tích, đánh giá, tìm ra các yếu tố ảnh hưởng tác động
lên quy trình nhập khẩu từ đó đề xuất các giải pháp cải thiện quy trình nhập khẩu
của công ty.
Đối tượng nghiên cứu: Chuyên đề này tập trung nghiên cứu hoàn thiện quy
trình nhập khẩu sách báo của Xunhasaba.
5
Phạm vi nghiên cứu:
Thời gian: Nghiên cứu quy trình nhập khẩu sách báo công ty Xunhasaba từ 2002
đến nay.
Không gian: Thị trường nhập khẩu xuất bản phẩm Việt Nam
Nội dung: Các vấn đề liên quan đến quy trình nhập khẩu sách báo.
Phương pháp nghiên cứu:
Các phương pháp nghiên cứu tôi đã sử dụng để thực hiện chuyên đề này:
+Thông tin, số liệu được thu thập từ các tài liệu sẵn có trong công ty, các nguồn tài
liệu về công ty và các vấn đề liên quan từ các nguồn trên Internet, các website có uy
tín, các bài báo và tài liệu đã được xuất bản liên quan đến công ty. Các tư liệu này
được phân loại vào các nhóm đề mục đã nêu ra trong chuyên đề.
+Các buổi phỏng vấn các khách hàng lẻ, các đơn vị mua sách từ công ty, các cán bộ
nhập khẩu trong công ty và các cán bộ liên quan khác. Tôi đã ghi chép lại các thông
tin liên quan và phân loại thông tin theo các đề mục như trên để tiện cho việc thống
kê và rút ra kết luận kết hợp với phân tích và tổng hợp báo cáo tài chính của công
động trực tiếp và quyết định tới sản xuất, đời sống của mỗi Quốc gia. Nhập khẩu
cho phép khai thác tiềm năng thế mạnh của các nước trên thế giới, bổ sung những
hàng hoá mà trong nước không sản xuất được, sản xuất không đáp ứng được nhu
cầu hoặc thay thế hàng hoá mà trong nước có thể sản xuất được nhưng không hiệu
quả, làm cho thị trường hàng hoá trong nước phong phú về chủng loại, quy cách và
đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng của xã hội. Với tính bổ sung và thay thế, nếu
nhập khẩu được thực hiện tốt sẽ tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế trong
nước.
Nhập khẩu là chiếc cầu nối thông suốt nền kinh tế trong nước với nền kinh
tế thế giới, tạo điều kiện cho phân công lao động và hợp tác quốc tế, phát huy lợi
7
thế so sánh của mỗi quốc gia trên cơ sở chuyên môn hoá sản xuất. Nhập khẩu tạo
điều kiện mở mang dân trí, tiếp cận nền công nghiệp hiện đại của các nước phát
triển, tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ trên thế giới và áp dụng nó vào
sản xuất nhằm hiện đại hoá nền kinh tế đất nước, tạo ra một năng lực sản xuất mới,
tiết kiệm được chi phí sản xuất và thời gian lao động.
Thông qua nhập khẩu, khả năng sản xuất và tiêu dùng của đất nước được
nâng lên, nhu cầu thị trường trong nước được đáp ứng. Đồng thời nhập khẩu tạo ra
một động lực cho sản xuất trong nước phát triển bằng sự cạnh tranh giữa hàng nội
và hàng ngoại. Để tồn tại các nhà sản xuất trong nước phải vươn lên, nâng cao chất
lượng sản phẩm và dịch vụ phục vụ khách hàng. Sự cạnh tranh sẽ loại bỏ các đơn
vị kinh doanh kém hiệu quả, đưa sản xuất trong nước đi lên vững vàng.
Hoạt động nhập khẩu được khẳng định cùng với sự phát triển của nền kinh
tế. Đặc biệt trong xu thế quốc tế hoá và toàn cầu hoá hiện nay, vai trò của nhập khẩu
đối với nền kinh tế nước ta được thể hiện ở các khía cạnh sau.
- Nhập khẩu thúc đẩy quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Nhập khẩu bổ sung kịp thời những mất cân đối của nền kinh tế, đảm bảo một sự
phát triển cân đối và ổn định, khai thác tối đa tiềm năng và khả năng của nền
kinh tế vào vòng quay kinh tế.
hay một nhóm hàng hoá cụ thể và phương pháp thực hiện mục tiêu đó. Nghiên cứu
thị trường trong kinh doanh thương mại Quốc tế bao gồm một loạt các thủ tục và kỹ
thuật được đưa ra nhằm giúp cho các nhà kinh doanh có đầy đủ thông tin cần thiết
để đưa ra những quyết định chính xác về marketing. Đó là cả một quá trình tìm
kiếm khách quan có hệ thống và sự phân tích thông tin. Ngoài việc nắm vững tình
hình trong nước và đường lối chính sách luật pháp của các quốc gia có liên quan
9
đến hoạt động ngoại thương, doanh nghiệp còn phải nhận biết mặt hàng nhập khẩu
và nắm vững thị trường ngoài nước.
10
a. Nghiên cứu thị trường trong nước
Nghiên cứu thị trường trong nước nhằm chọn mặt hàng kinh doanh có lợi
nhất, kết hợp với việc nghiên cứu thị trường ngoài nước nó sẽ giúp các nhà kinh
doanh XNK trả lời hai câu hỏi chính: Nhập khẩu mặt hàng gì và xuất khẩu mặt hàng
gì là có lợi nhất. Muốn thực hiện được thì các nhà XNK phải làm rõ các câu hỏi sau:
- Nhu cầu hàng hoá trong nước; mặt hàng gì là cần nhất và có xu hướng là sẽ có
một lượng cầu lớn nhất? Nếu kỹ hơn thì cả về quy cách, chủng loại, mẫu mã,
bao bì ... Càng có nhiều thông tin chi tiết về các yêu cầu này thì càng có lợi cho
các nhà kinh doanh xác định đúng chiến lược kinh doanh của mình. Tình hình
mặt hàng đó như thế nào? Mặt hàng đó đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống?
Có những mặt hàng có những thói quen và tập quán tiêu dùng riêng, nó thể hiện
ở thời gian tiêu dùng ... do đó nó sẽ ảnh hưởng đến quan hệ cung cầu về mặt
hàng đó trên thị trường. Mặt khác mỗi sản phẩm đều có vòng đời của nó, thể
hiện qua các pha triển khai, tăng trưởng, chín muồi, bão hoà và suy thoái. Một
nhà kinh doanh XNK nhất thiết phải nắm được những điều này vì đây là những
điều rất cơ bản trong kinh doanh. Qua việc nắm bắt những điều này mỗi nhà
kinh doanh sẽ hình thành được những định hướng kinh doanh của mình.
- Tình hình sản xuất mặt hàng đó như thế nào? Khả năng sản xuất và tốc độ sản
xuất các mặt hàng đó ra làm sao?
- Tỷ suất ngoại tệ ảnh hưởng tới mặt hàng đó như thế nào? Có lợi cho việc xuất
vào thời gian chúng ảnh hưởng đến thị trường, các nhân tố ảnh hưởng tới dung
lượng thị trường có thể chia thành 3 nhóm.
Nhóm nhân tố thứ nhất: Là nhóm các nhân tố làm cho dung lượng thị
trường biến đổi có tính chất chu kỳ. Trong nhóm này có thể kể ra các nhân tố quan
trọng như:
- Sự vận động của tình hình kinh tế của các nước trên thế giới đặc biệt là các nước
có ảnh hưởng tới việc buôn bán XNK loại hàng hoá đó, tính chất thời vụ trong
quá trình sản xuất, phân phối và lưu thông hàng hoá.
12
- Sự vận động của tình hình kinh tế trên thế giới đặc biệt là các nước phát triển là
nhân tố quan trọng nhất có ảnh hưởng tới tất cả các thị trường hàng hoá. Sở dĩ
như vậy là vì đây là những trung tâm kinh tế lớn, vừa là một người cung ứng
chủ chốt đối với những trang thiết bị máy móc hiện đại vừa là một khách hàng
đầy tiềm năng. Sự ảnh hưởng này có thể được nghiên cứu chỉ trong một phạm vi
khu vực. Qua sự nghiên cứu chung đó cần đi tới nghiên cứu sự vận động của các
nước giữ vai trò chủ yếu trong việc XNK những hàng hoá mà doanh nghiệp kinh
doanh đang quan tâm. Những nhân tố này rất quan trọng vì nó có khả năng ảnh
hưởng rất lớn tới xu hướng XNK hàng hoá.
- Một nhân tố khác cũng làm cho dung lượng thị trường hàng hoá biến đổi có tính
chất chu kỳ đó là thời vụ. Nhân tố này ảnh hưởng mạnh mẽ đến thị trường hàng
hoá trong cả 3 khâu sản xuất, lưu thông và tiêu dùng. Tuy nhiên do đặc điểm của
sản xuất lưu thông và tiêu dùng các loại hàng hoá rất khác nhau nên sự ảnh
hưởng của nhân tố này đối với thị trường hàng hoá cụ thể cũng rất đa dạng về
phạm vi và mức độ.
Nhóm nhân tố thứ hai: Là nhóm các nhân tố ảnh hưởng lâu dài đến sự biến
đổi của dung lượng thị trường. Các nhân tố trong nhóm này rất đa dạng, chúng ảnh
hưởng đến sự biến đổi của dung lượng thị trường hàng hoá trong một thời gian
tương đối dài như tiến bộ KHKT, các biện pháp chế độ chính sách của nhà nước, thị
trường và tập quán của người tiêu dùng, ảnh hưởng của các hàng hoá thay thế ...
Nhóm nhân tố thứ ba: Là nhóm các nhân tố ảnh hưởng tạm thời đối với
- Nhân tố chu kỳ: Sự vận động có tính quy luật của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa
và tính thời vụ của một số hàng hoá là hai nhân tố có tính chất chu kỳ tác động
tới sự thay đổi giá cả của hàng hoá nền kinh tế biến động theo chu kỳ hết hưng
thịnh lại đến suy thoái, các chu kỳ đó cứ lặp đi lặp lại. Khi nền kinh tế hưng
thịnh thì giá cả ổn định, cung cầu đều tăng. Cung giảm cầu giảm là biểu hiện của
14
nền kinh tế suy thoái. Đối với một số loại hàng hoá khi vào thời vụ chính thì
cung tăng do đó giá có xu hướng giảm.
- Nhân tố lũng đoạn: Đây là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hình thành giá
cả của hàng hoá trên thị trường quốc tế. Lũng đoạn làm xuất hiện nhiều mức giá
khác nhau, thậm chí cho cùng một loại hàng hoá. Khi cung vượt cầu thì tổ chức
lũng đoạn khống chế cả sản xuất và tiêu dùng, họ không giảm giá mà thi hành
biện pháp thu hẹp sản xuất để giảm cung.
- Nhân tố cung cầu: Là những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến lượng cung cấp
hoặc khối lượng tiêu thụ của hàng hoá trên thị trường do vậy ảnh hưởng lớn tới
giá cả.
- Nhân tố cạnh tranh: Cạnh tranh bao gồm cạnh tranh giữa người bán với người
bán, người mua với người mua. Trong thực tế, cạnh tranh thường làm cho giá cả
hàng hoá rẻ hơn.
- Nhân tố lạm phát: Trong nền kinh tế hiện đại, lạm phát là căn bệnh mãn tính của
tất cả các quốc gia. Sự xuất hiện của lạm phát làm cho đồng tiền mất giá dẫn đến
giá cả tăng và biến động rất lớn.
Ngoài những nhân tố chủ yếu trên, giá cả của hàng hoá còn chịu tác động
của các nhân tố khác như: chính sách của chính phủ, tình hình an ninh chính trị của
các quốc gia.
Việc nghiên cứu và tính toán một cách chính xác giá cả của hàng hoá nhập
khẩu là một công việc khó khăn đòi hỏi phải được xem xét trên nhiều khía cạnh,
nhưng đó lại là một nhân tố quan trọng quyết định hiệu quả của hợp đồng kinh
doanh trong thương mại Quốc tế.
1.3.2 Công tác chuẩn bị ký kết hợp đồng:
tiếp xúc ban đầu và ngay cả khi hai bên đã có điều kiện gặp gỡ trực tiếp thì việc duy
trì quan hệ cũng vẫn phải qua thư tín thương mại. So với gặp gỡ trực tiếp thì việc
duy trì quan hệ qua thư tín tiết kiệm được nhiều chi phí, trong cùng một lúc có thể
giao dịch với nhiều khách hàng ở nhiều nước khác nhau. Giao dịch bằng thư tín đức
tính kiên nhẫn là cần thiết. Kiên nhẫn trả lời khách hàng về mọi vấn đề. Kiên nhẫn
16
theo đuổi khách hàng bằng nhiều thư liên tiếp và quan hệ trong thời gian dài. Kinh
nghiệm cho thấy rằng, khi lựa chọn những khách hàng quen biết, có giao dịch thư từ
trước đó, được ưu tiên hơn những khách hàng mới xuất hiện lần đầu. Tuy nhiên
việc đàm phám bằng thư tín vẫn là lịch sự và trang trọng nhất.
b. Đàm phán qua điện thoại
Việc trao đổi qua điện thoại nhanh chóng, giúp người giao dịch tiến hành
đàm phán một cách khẩn trương, đúng vào thời cơ cần thiết. Nhưng phí tổn điện
thoại giữa các nước rất cao, các cuộc trao đổi bằng điện thoại thường phải hạn chế
về mặt thời gian, các bên không thể trình bày chi tiết, mặt khác trao đổi qua điện
thoại là trao đổi bằng miệng, không có gì làm bằng chứng cho những thoả thuận,
quyết định trong trao đổi bởi vậy điện thoại chỉ được dùng trong những trường hợp
cần thiết, thật khẩn trương, sợ lỡ thời cơ, hoặc trong những trường hợp mà mọi điều
kiện đã thảo luận xong, chỉ còn chờ xác nhận một vài chi tiết … Khi phải sử dụng
điện thoại, cần chuẩn bị thật chu đáo để có thể trả lời ngay mọi vấn đề được nêu lên
một cách chính xác. sau khi trao đổi bằng điện thoại, cần có thư xác nhận nội dung
đã đàm phán thoả thuận.
c. Đàm phán bằng cách gặp gỡ trực tiếp
Việc gặp gỡ trực tiếp giữa hai bên để trao đổi mọi điều kiện buôn bán là một
hình thức đặc biệt quan trọng. Hình thức này đẩy nhanh tốc độ giải quyết mọi vấn
đề giữa hai bên và nhiều khi là lối thoát cho những đàm phán bằng thư tín, điện
thoại ... đã kéo dài quá lâu mà không có kết quả. Hình thức đàm phán này thường
được dùng khi có nhiều điều cần phải giải thích cặn kẽ để thuyết phục nhanh, hoặc
về những hợp đồng lớn phức tạp. Đàm phán trực tiếp đòi hỏi người tiến hành đàm
phán phải chắc chắn về nghiệp vụ, tự chủ, phản ứng nhanh nhạy ... để có thể tỉnh
nhận hoàn toàn với chào hàng (hoặc đặt hàng) đó, người ta đưa ra một đề nghị
mới thì đề nghị này gọi là hoàn giá. Khi có hoàn giá, chào hàng trước đó coi như
18
huỷ bỏ. Trong buôn bán quốc tế, mỗi lần giao dịch thường trải qua nhiều lần
hoàn giá mới đi đến kết thúc.
- Chấp nhận: Chấp nhận là sự đồng ý vô điều kiện của chào hàng (hoặc đặt hàng)
của người bán hoặc người mua mà bên kia đưa ra. Điều đó có nghĩa là người
nhận giá đồng ý hoàn toàn vô điều kiện mọi nội dung của chào hàng (đặt hàng)
trong thời hạn hiệu lực của chúng và sự đồng ý vô điều kiện này được truyền đạt
tới người phát ra đề nghị. Khi đó, một hợp đồng sẽ được xác lập.
- Xác nhận: Xác nhận là một văn kiện ghi lại mọi điều đã thoả thuận thống nhất
giữa người mua và người bán. Thông thường nó được thành lập hai bản, bên xác
nhận ký trước rồi chuyển cho bên kia, bên kia ký xong giữ lại một bản và gửi trả
lại một bản. Sau khi nhận được thư chào hàng hay đặt hàng và có sự trả lời từ
phía bên kia, hai bên tổ chức thương lượng để đi đến một thoả thuận chung về
điều kiện mua bán. Đàm phán là việc bàn bạc trao đổi với nhau các điều kiện
mua bán giữa các nhà kinh doanh để đi đến thống nhất ký kết hợp đồng.
1.3.4 Ký kết hợp đồng:
Việc giao dịch đàm phán nếu có kết quả sẽ dẫn tới việc ký kết hợp đồng
xuất nhập khẩu. Hợp đồng xuất nhập khẩu là hợp đồng kinh tế đặc biệt mà người
bán có nghĩa vụ chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá cho người mua và người mua
có nghĩa vụ trả một khoản tiền theo trị giá hợp đồng cho người bán.
Hình thức hợp đồng bằng văn bản là một hình thức bắt buộc đối với các
đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu ở nước ta. Các điều khoản trong hợp đồng do bên
mua và bên bán tự nguyện thoả thuận một cách chi tiết. Mặc dù trước đó đã có đơn
hàng hoặc chào hàng, nhưng hai bên vẫn phải thiết lập một văn bản hợp đồng tạo cơ
sở pháp lý cụ thể cho việc trao đổi hàng hoá từ quốc gia này sang quốc gia khác và
làm căn cứ cho việc xác định lỗi khi có tranh chấp xảy ra.
19
Hợp đồng kinh doanh xuất nhập khẩu là bằng chứng bảo vệ quyền lợi, ràng
Tên hàng là một điều khoản quan trọng của hợp đồng kinh doanh xuất nhập
khẩu. Nó nói lên chính xác đối tượng mua bán trao đổi. Vì vậy người ta luôn tìm
cách diễn đạt chính xác tên hàng.
Có nhiều cách để ghi tên hàng, thông thường người ta ghi tên của hàng hoá
và kèm theo nó một hoặc một số đặc tính. Các đặc tính đó có thể là: Tên thông
thường, tên khoa học, tên thương mại, địa phương sản xuất, hãng sản xuất, quy cách
chính của hàng hoá, nhãn hiệu của hàng hoá, công dụng của hàng hoá, số hiệu hạng
mục của hàng hoá trong danh mục hàng hoá thống nhất.
(2) Số lượng và cách xác định
Đây là điều khoản nói nên mặt lượng của hàng hoá giao dịch. Điều khoản
này bao gồm các vấn đề về đơn vị tính số lượng, phương pháp quy định trọng lượng
và phương pháp xác định trọng lượng.
Về đơn vị tính số lượng (trọng lượng): Hàng hoá phải được quy định thống
nhất ở một đơn vị đo cụ thể, bởi vì trong buôn bán quốc tế, ngoài hệ đo lường mét,
người ta áp dụng nhiều hệ thống đo lường khác mà nhiều đơn vị có cùng tên gọi
nhưng ở mỗi nước lại có nội dung khác nhau.
Về phương pháp quy định số lượng: Hai bên có thể quy định chính xác số
lượng hàng hoá giao dịch (đối với hàng hoá có thể) hoặc quy định phỏng chừng số
lượng hàng hoá (đối với hàng hoá có khối lượng lớn, khó cân đong, đo đếm chính
xác được)
(3) Quy cách phẩm chất và cách xác định
Phẩm chất là điều khoản nói lên mặt chất của hàng hoá mua bán, nghĩa là
tính năng, quy cách, kích thước, công dụng của hàng hoá. Xác định cụ thể phẩm
chất của hàng hoá là cơ sở để xác định giá cả và mua được hàng hoá phù hợp với
nhu cầu.
Để xác định chính xác phẩm chất thì trong điều khoản này phải nêu rõ những
tiêu chuẩn mà hàng hoá đạt được và phương pháp để xác định các tiêu chuẩn đó.
Đối với mỗi loại hàng hoá khác nhau, thường có những phương pháp xác định khác
21
nhau (như dựa vào mẫu hàng, phẩm cấp tiêu chuẩn, quy cách, hàm lượng chất chủ
kiện cơ sở giao hàng khác nhau cho từng nhóm hàng khác nhau. Có khi thiết bị
được giao theo điều kiện FOB (cảng bên bán) còn phụ tùng vật liệu được giao theo
điều kiện CIF (cảng bên mua), cũng có khi cả đối tượng mua và bán đều được giao
theo một điều kiện cơ sở giao hàng.
Ở Việt nam, do đội tàu chưa phát triển, chưa đáp ứng được nhu cầu về vận
chuyển, do vậy phía ta thường nhường quyền thuê tàu cho bên bán và nhập khẩu
theo điều kiện CIF.
(6) Giá cả
Giá cả là một điều kiện quan trọng, quyết định tính hiệu quả của hoạt động
nhập khẩu. Điều khoản này cần xác định được đồng tiền tính giá, mức giá, phương
pháp xác định giá cả, cơ sở của giá và việc giảm giá.
Giá cả hàng hoá trong thương mại quốc tế có thể được tính bằng đồng tiền
của nước xuất khẩu, nước nhập khẩu hoặc một nước thứ ba. Việc lựa chọn đồng
tiền tính giá thường tuân theo tập quán buôn bán hiện hành. Song quan trọng hơn là
thị trường thuộc về ai và người đó muốn dùng đồng tiền nào để tính giá. Người xuất
khẩu thì muốn chọn đồng tiền tương đối ổn định, còn người nhập khẩu thì lại muốn
chọn đồng tiền đang có xu hướng mất giá. Tuy vậy đồng tiền tính giá phải là đồng
tiền mạnh có khả năng chuyển đổi.
Giá cả trong hợp đồng là giá quốc tế, việc xuất khẩu thấp hơn hoặc nhập
khẩu cao hơn giá này đều làm tổn hại tới tài sản quốc gia. Vì vậy trước khi ký hợp
đồng, các bên phải tuân theo những nguyên tắc xác định giá Quốc tế.
Ngoài ra, trong điều này còn quy định đến các điều kiện để giảm giá như
giảm giá do mua với số lượng lớn, do trả tiền sớm, do đổi hàng cũ để mua hàng
mới. Cách tính giảm giá có thể lựa chọn là giảm giá đơn hay giảm giá kép, giảm giá
luỹ tiến hay giảm giá tăng thưởng. Cũng trong điều khoản này, người ta còn xác
23
định rõ điều kiện cơ sở giao hàng có liên quan đến giá cả và bao giờ cũng ghi bên
cạnh giá một điều kiện cơ sở giao hàng nhất định.
(7) Giao hàng
Nội dung cơ bản của điều khoản giao hàng là sự xác định thời hạn, địa
đổi hai đồng tiền đó. Do vậy, phải lựa chọn tỷ giá của công cụ thanh toán (bằng
điện hay bằng thư) tỷ giá của thị trường tiền tệ (nước xuất khẩu, nước nhập khẩu,
hay nước thứ ba) và đó là tỷ giá mua vào hay bán ra.
Thời hạn thanh toán có thể được quy định là trả ngay, trả trước, trả sau hay
có thể kết hợp các hình thức đó với nhau trong cùng một hợp đồng.
Việc lựa chọn phương thức thanh toán cũng cần phải thể hiện trong hợp
đồng. Hai bên có thể chọn phương thức nhờ thu, tín dụng chứng từ, chuyển tiền hay
chuyển tài khoản, ghi sổ … Đặc biệt nếu thanh toán bằng L/C cần phải chỉ định rõ
ngân hàng mở L/C và ngân hàng thanh toán.
Để việc thanh toán được diễn ra suôn sẻ, cần phải có một điều kiện bảo đảm
hối đoái để tránh tổn thất xảy ra do sự biến động của các đồng tiền trên thế giới. Đó
có thể là điều kiện đảm bảo vàng hoặc điều kiện đảm bảo ngoại hối.
(9) Khiếu nại (nếu có)
Khiếu nại là việc một bên yêu cầu bên kia phải giải quyết những tổn thất,
hoặc thiệt hại mà bên kia đã gây ra, hoặc về sự vi phạm điều đã được cam kết giữa
hai bên. Nội dung cơ bản của điều khoản khiếu nại bao gồm các vấn đề: Thể thức
khiếu nại, cách thức giải quyết khiếu nại. Trong đó:
- Thể thức khiếu nại yêu cầu phải được thể hiện bằng văn bản, được gửi bằng thư
bảo đảm kèm theo các bằng chứng cho việc khiếu nại được dẫn chiếu từ số hiệu
hợp đồng và số hiệu các chứng từ vận tải có liên quan tới bên kia.
- Thời hạn khiếu nại được quy định phụ thuộc vào sự so sánh lực lượng giữa các
bên giao dịch, vào tính chất của hàng hoá và tính chất của việc khiếu nại. Nếu
bên khiếu nại để quá thời hạn khiếu nại đã được thoả thuận, đơn khiếu nại có thể
bị từ chối.
25