1 số giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình nhập khẩu thiết bị toàn bộ tại Công ty XNK thiết bị toàn bộ và kỹ thuật - Pdf 60


Lời Nói Đầu
Trong thế giới hiện đại, trước xu thế toàn cầu hoá, khu vực hoá nền kinh tế
thế giới, mọi quốc gia, mọi khu vực đều không thể đứng ngoài xu thế này.
Với chính sách đổi mới của nền kinh tế, nước ta đã và đang nhanh chóng
hội nhập vào xu hướng chung của thế giới, tích cực tham gia vào các tổ chức kinh
tế trong khu vực và thế giới như AFTA, WTO, APEC v.v.. với quan điểm đó
chúng ta coi trọng vai trò của Thương mại Quốc tế, coi đây là chiếc cầu nối liền
giữa nền kinh tế nước ta với nền kinh tế thế giới, là chiếc đòn bẩy quan trọng
thúc đẩy sản xuất trong nước, thu hút đầu tư v.v.. và là phương tiện để thúc đẩy
sự phân công lao động quốc tế.
Tuy nhiên, chúng ta cũng sẽ khó có thề hoà nhập với công cuộc toàn cầu
hoá, khu vực hoá nếu không nhận ra những khó khăn của chính mình và không
đủ sức vượt qua những khó khăn đó. Một trong những khó khăn của Việt Nam
trên con đường hội nhập kinh tế thế giới đó là xuất phát điểm của Việt Nam thấp,
khoa học công nghệ lạc hậu, cơ sở vật chất kĩ thuật nghèo nàn v.v..
Hiểu được vấn đề này, trong những năm qua Đảng và Chính phủ ta đã cho
tiến hành công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Và con đường
nhanh nhất để thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá là cần nhanh chóng tiếp
cận những công nghệ và kĩ thuật tiên tiến của nước ngoài bằng cách nhập khẩu
máy móc thiết bị hiện đại phục vụ hiệu quả cho sự nghiệp phát triển kinh tế và
xây dựng đất nước. Nhưng nhập khẩu máy móc, vật tư thiết bị như thế nào để
phù hợp với điều kiện nền kinh tế của Việt Nam và đạt hiệu quả cao là vấn đề mà
các nhà doanh nghiệp nhập khẩu và các ngành các cấp có liên quan đang rất quan
tâm xem xét
Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của nhập khẩu thiết bị toàn
bộ trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước, trên cơ sở những kiến thức
về kinh tế và nghiệp vụ xuất nhập khẩu đã được truyền thụ tại nhà trường và
một số kinh nghiệm thực tế thu thập được trong quá trình thực tập tại công ty
1


tình hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo, tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành
bài luận văn này.

CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU THIẾT BỊ TOÀN BỘ
TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG
I. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU THIẾT BỊ TOÀN BỘ
1. Khái niệm và đặc điểm của thiết bị toàn bộ
 Khái niệm về thiết bị toàn bộ
Tại Việt Nam, cùng với sự phát triển và thay đổi cơ cấu của nền kinh tế ,
các khái niệm và định nghĩa về thiết bị toàn bộ cũng được bổ sung và phát triển.
Ngày 13/11/1992 Thủ tướng Chính Phủ đã ra quyết định số 91/TTg ban hành
”Quy định về quản lý nhập khẩu máy móc, thiết bị bằng nguồn vốn ngân sách
Nhà nước”, trong đó đưa ra định nghĩa Thiết bị toàn bộ như sau:
Thiết bị toàn bộ là tập hợp máy móc thiết bị, vật tư dùng riêng cho một dự
án có trang bị công nghệ cụ thể có các thông số kinh tế - kỹ thuật được mô tả và
qui định trong thiết kế của dự án.
Như vậy, nội dung của hàng hoá thiết bị toàn bộ bao gồm:
• Khảo sát kỹ thuật.
• Luận chứng kinh tế- kỹ thuật hoặc nghiên cứu khả thi công việc thiết
kế.
• Thiết bị , máy móc, vật tư cho xây dựng dự án.
• Các công tác xây dựng, lắp ráp, hiệu chỉnh, hướng dẫn vận hành.
• Các dịch vụ khác có liên quan đến dự án như chuyển giao công nghệ,
đào tạo v.v..
Thiết bị toàn bộ là nhà máy, cơ sở sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, cơ sở
khoa học hay thí nghiệm, bệnh viện, trường học, công trình kiến trúc, công trình
3

thủy lợi, giao thông, bưu điện v.v.. nhờ nước ngoài thiết kế hoặc giúp ta thiết kế,

2.1. Đối tượng được phép nhập khẩu thiết bị toàn bộ
Kinh doanh nhập khẩu thiết bị toàn bộ là quá trình giao dịch, ký kết,thực
hiện hợp đồng nhập khẩu thiết bị toàn bộ và các dịch vụ có liên quan đến thiết bị
đó. Công trình thiết bị toàn bộ thường có tổng vốn đầu tư rất lớn, nguồn vốn sử
dụng để nhập khẩu thiết bị toàn bộ thường là vốn ngân sách nhà nước hoặc từ các
nguồn tài trợ của nước ngoài thông qua Chính Phủ hay các nguồn vay nước ngoài
có sự bảo lãnh của Nhà nước, các Ngân hàng thương mại Việt Nam v.v.. vì vậy
một doanh nghiệp chỉ có thể được phép nhập khẩu thiết bị toàn bộ sau khi đã
thực hiện đầy đủ các thủ tục có liên quan theo qui định cụ thể của pháp luật.
Trước kia, theo qui định của thông tư 04/TM- ĐT ngày 30/7/1993 của Bộ
thương mại, muốn kinh doanh xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ, doanh nghiệp phải
được Bộ thương mại cấp giấy phép kinh doanh phù hợp với Điều 5 Nghị định số
144/HĐBT ngày 7/7/1992 trong đó ở phần nhập khẩu có ghi ngành hàng thiết bị,
máy móc. Ngoài ra, doanh nghiệp cần phải đáp ứng các yêu cầu như:
-Doanh nghiệp có bộ máy tổ chức, đội ngũ cán bộ có đủ năng lực chuyên
môn kỹ thuật, nghiệp vụ ngoại thương, giá cả, pháp lý quốc tế trong kinh
doanh xuất nhập khẩu thiết bị toàn bộ.
-Doanh nghiệp đã kinh doanh nhập khẩu ngành hàng máy móc thiết bị lẻ
tối thiểu 5 năm và có mức doanh số nhập khẩu máy móc thiết bị trong năm
không dưới 5 triệu USD.
-Doanh nghiệp có vốn lưu động do nhà nước giao tự bổ sung bằng tiền Việt
nam và tiền nước ngoài tối thiểu tương đương với 500.000USD tại thời
điểm đăng ký kinh doanh nhập khẩu thiết bị.
Do đó, muốn nhập khẩu thiết bị toàn bộ, doanh nghiệp cần phải xin đăng
ký kinh doanh nhập khẩu thiết bị toàn bộ với Bộ thương mại bằng cách gửi bộ hồ
sơ đăng ký kinh doanh, bao gồm: đơn xin kinh doanh nhập khẩu thiết bị, giấy
phép kinh doanh xuất nhập khẩu, hồ sơ hợp lệ xác nhận vốn lưu động (bao gồm
vốn Nhà nước giao và vốn tự bổ sung), bảng tổng kết tài sản 5 năm cuối cùng
5



 Nhập khẩu uỷ thác : là hoạt động nhập khẩu được hình thành giữa một
doanh nghiệp trong nước có vốn ngoại tệ riêng, có nhu cầu nhập khẩu
thiết bị toàn bộ, uỷ thác cho một doanh nghiệp có chức năng xuất nhập
khẩu trực tiếp giao dịch ngoại thương tiến hành nhập thiết bị toàn bộ
theo yêu cầu của mình. Bên nhận uỷ thác phải tiến hành với nước ngoài
để làm thủ tục nhập khẩu hàng hoá theo yêu cầu của bên uỷ thác và
được nhận một khoản thù lao gọi là phí uỷ thác.
Đặc điểm: trong hoạt động nhập khẩu này doanh nghiệp nhập khẩu uỷ thác
không phải bỏ vốn, không xin hạn ngạch (nếu có) không phải nghiên cứu thị
trường tiêu thụ. Không phải lo tiêu thụ hàng nhập khẩu mà chỉ đứng ra thay mặt
bên uỷ thác tìm và giao dịch với nước ngoài, ký kết hợp đồng và làm thủ tục hải
quan, thủ tục xuất nhập khẩu hàng hoá cũng như thay mặt bên uỷ thác tiến hành
đòi bồi thường bên nước ngoài khi có tổn thất. Khi tiến hành xuất nhập khẩu uỷ
thác thì doanh nghiệp xuất nhập khẩu chỉ tính kim ngạch xuất nhập khẩu chứ
không tính vào doanh số.
 Nhập khẩu tự doanh : hoạt động nhập khẩu tự doanh chính là hoạt động
nhập khẩu độc lập của một doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu
trên cơ sở nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước, tính toán đầy đủ
chi phí để đảm bảo kinh doanh xuất nhập khẩu có lãi đúng phương
hướng, chính sách, luật pháp của quốc gia cũng như quốc tế.
Đặc điểm: doanh nghiệp phải tiến hành hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn
bộ, tự chịu trách nhiệm về mọi mặt kinh doanh của mình liên quan đến quá trình
nhập khẩu. Đây là hoạt động mà doanh nghiệp phải xem xét kỹ càng, từ bước
nghiên cứu thị trường đến việc ký kết hợp đồng- bởi vì doanh nghiệp phải tự bỏ
vốn mình ra, chịu mọi chi phi giao dịch thị trường, giao nhận ở kho tới chi phí
vận chuyển và giao nhận hàng hoá, chịu thuế VAT. Khi nhập khẩu tự doanh thì
doanh nghiệp phải tính kim ngạch xuất nhập khẩu và khi tiêu thụ hàng thì sẽ tính
vào doanh số, do đó phải chịu thuế.
7

8

Ngoài ra, theo quyết định 91/TTg thì Bộ thương mại giữ vai trò chính thay
nhà nước quản lý việc nhập khẩu, Bộ thương mại có quyền cấp giấy phép kinh
doanh nhập khẩu thiết bị cho các doanh nghiệp; quy định cụ thể trình tự và văn
bản cần thiết để phê duyệt hợp đồng nhập khẩu thiết bị toàn bộ; quy định rõ các
tiêu chuẩn của doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu thiết bị toàn bộ, thiết bị lẻ;
cùng các ngành quản lý hữu quan và chủ đầu tư xử lý cụ thể khi phải nhập khẩu
thiết bị đã qua sử dụng v.v..
+ Để sử dụng hiệu quả các nguồn vốn của nhà nước được huy động để
nhập khẩu máy móc, thiết bị đồng thời đảm bảo quy hoạch xây dựng, áp dụng
hiệu quả công nghệ và kỹ thuật tiên tiến trên thế giới, chính phủ Việt Nam đã ban
hành quy chế quản lý đầu tư và xây dựng (Nghị định 52/1999/NĐ-CP ngày
8/7/1999) và các nghị định sửa đổi, bổ xung một số điều của quy chế như nghị
định 12/2000/NĐ-CP ngày 5/5/2000 và Nghị định 07/2003/NĐ-CP ngày
30/1/2003 của Chính Phủ
+ Ngoài ra, hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ cho đến nay vẫn luôn gắn
liền với hoạt động đấu thầu vì khi lựa chọn nhà cung cấp nước ngoài, các doanh
nghiệp Việt Nam hầu hết là tổ chức đấu thầu để lựa chọn đối tác thích hợp. Điều
này dẫn đến việc Chính phủ ta luôn phải bổ xung thêm những nội dung cơ bản
của công tác đấu thầu và tổ chức đấu thầu, đưa ra những quy định cụ thể hơn, hệ
thống hơn, đặc biệt là công tác quản lý nhà nước về đấu thầu
Nghị định 88/1999/ NĐ-CP ngày 4/9/1999 ban hành Quy chế đấu thầu,
cùng với Nghị Định 14/2000/NĐ-CP ngày 05/5/2000 của Chính Phủ- sửa đổi, bổ
xung một số điều của Quy chế đấu thầu - ra đời nhằm mục đích thống nhất quản
lý các hoạt động đấu thầu tuyển chọn tư vấn, mua sắm hàng hoá, xây lắp và lựa
chọn đối tác để thực hiện dự án hoặc từng phần dự án trên lãnh thổ Việt nam.
+ Nhằm góp phần nâng cao hiệu quả nhập khẩu máy móc thiết bị, Bộ khoa
học công nghệ và môi trường đã ban hành một hệ thống những văn bản pháp luật
như :

hậu về trình độ phát triển kinh tế hàng chục năm so với một số nước trên thế giới,
10

chúng ta chỉ còn cách đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất
nước. Tuy nhiên, sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước không thể
chỉ đơn thuần dựa trên khoa học kỹ thuật công nghệ lạc hậu trong nước mà còn
đòi hỏi phải có nền công nghiệp hiện đại đủ sức trang thiết bị kỹ thuật và hàng
tiêu dùng cho xã hội . Với mức tích luỹ quá khiêm tốn của nền kinh tế quốc dân
như hiện nay thì việc vươn lên thoát khỏi sự lạc hậu đó đòi hỏi cả một khoảng
thời gian lâu dài, một khả năng tài chính lớn và sự nỗ lực huy động tiềm năng
chất xám, trong khi đó, trên bình diện quốc tế, khoa học công nghệ phát triển
mạnh mẽ và đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, đưa thế giới vào thời kỳ
phát triển mới " thời kỳ kinh tế tri thức và xã hội thông tin ".
Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước và phát triển kinh tế, lối thoát để có thể rút ngắn thời gian,
rút ngắn khoảng cách lại tiết kiệm được công sức cho những lĩnh vực mà mình có
thế mạnh và phù hợp với hoàn cảnh nền kinh tế Việt Nam hiện nay chính là nhập
khẩu thiết bị và công nghệ từ các nước tiên tiến. Có thể nói ngắn gọn những ưu
thế mà nền kinh tế Việt Nam nói chung và người nhập khẩu nói riêng tận dụng
được nhờ nhập khẩu thiết bị toàn bộ như sau:
- Nhập khẩu thiết bị toàn bộ cho phép người mua có thể làm chủ kỹ thuật
và công nghệ mới, làm chủ các công nghệ và vật liệu trong các lĩnh vực
của nền kinh tế quốc dân mà nước mình không có khả năng sản xuất
hoặc việc sản xuất rất tốn kém về thời gian và tiền của, từ đó tranh thủ
sử dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới và sẽ
dần dần xây dựng được một nền sản xuất hiện đại với chi phí hợp lý.
- Việc nhập khẩu thiết bị toàn bộ giúp cho người mua tiết kiệm được quỹ
thời gian và một phần không nhỏ chi phí cho việc xây dựng các cơ quan
nghiên cứu khoa học, các viện thiết kế, phòng thiết kế chuyên môn, đào
tạo chuyên gia v.v.. mà đôi khi không mang lại hiệu quả mong muốn.

Còn nội dung của nghiên cứu thị trường thiết bị toàn bộ cũng giống như
nội dung nghiên cứu thị trường của một số loại hàng hoá nhập khẩu khác cụ thể
như sau :
12

 Nghiên cứu thị trường trong nước: gồm các bước sau
- Nghiên cứu mặt hàng nhập khẩu: khảo sát, phân tích và nghiên cứu về
mặt hàng, quy cách, phẩm chất, kiểu dáng, bao bì, nhãn hiệu, tỷ suất
ngoại tệ hàng nhập khẩu v.v..
- Nghiên cứu dung lượng thị trường và nhân tố ảnh hưởng đến dung
lượng thị trường:
+ Nghiên cứu dung lượng thị trường cần phải xác định khả năng cung cấp
của doanh nghiệp nhập khẩu cũng như nhu cầu thật sự của khách hàng. Biết được
dung lượng thị trường sẽ giúp doanh nghiệp có thể định hướng cho hoạt động
nhập khẩu hàng hoá của mình
+ Nhân tố ảnh hưởng đến dung lượng thị trường: cần phải đánh giá đúng
mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố, xác định nhân tố nào có ý nghĩa quyết định
đến xu hướng vận động của thị trường từ đó xác định chính xác nhu cầu nhập
khẩu mặt hàng đã lựa chọn.
Có 3 nhóm nhân tố ảnh hưởng chính đến dung lượng thị trường đó là
các nhóm nhân tố làm cho dung lượng thị trường biến đổi theo chu kỳ (như đặc
điểm của sản xuất, lưu thông và phân phối sản phẩm của từng thị trường đối với
mỗi loại hàng hoá, sự vận động của tư bản v.v..), các nhóm nhân tố làm cho dung
lượng thị trường biến đổi lâu dài (như thị hiếu, tập quán của người tiêu dùng, ảnh
hưởng của hàng hoá thay thế, các chính sách, biện pháp của chính phủ, sự tiến bộ
cuả khoa học kỹ thuật và công nghệ), các nhóm nhân tố làm dung lượng thị
trường biến đổi tạm thời (như thiên tai, hạn hán, lũ lụt hoặc các hiện tượng gây ra
đột biến về cung cầu)
- Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh: tức là việc nghiên cứu tình hình hoạt
động, thị phần, chiến lược kinh doanh và khả năng thay đổi chiến lược

+ Tình hình sản xuất kinh doanh, phạm vi hoạt động, lĩnh vực kinh doanh,
uy tin, chất lượng, giá cả, khả năng về tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật của đối
tác
14

+ Xem xét đến môi trường chính trị của nước đối tác, vị trí địa lý có cho
phép ta đánh giá được các ưu thế về địa lý của phía đối tác để giảm thiểu chi phí
vận tải, bảo hiểm
- Sau khi đã lựa chọn được đối tác giao dịch, doanh nghiệp tùy vào điều
kiện của mình để lựa chọn hình thức giao dịch phù hợp. Có 2 hình thức
giao dịch là giao dịch trực tiếp với người bán và giao dịch gián tiếp với
người bán qua các văn phòng đại diên, các công ty trung gian
- Sau đó, doanh nghiệp sẽ lập dự án (báo cáo) tiền khả thi. Báo cáo tiền
khả thi là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền thẩm định và ra quyết
định đầu tư và cấp giấy phép đầu tư.
Sau khi thẩm định báo cáo tiền khả thi, người ta sẽ tiến hành lập luận
chứng kinh tế kỹ thuật hay dự án (báo cáo) khả thi.Về cơ bản, nội dung của báo
cáo khả thi tương tự như báo cáo tiền khả thi nhưng mức độ chi tiết cao hơn
nhiều. Đây thực chất là sự cụ thể hoá báo cáo tiền khả thi.
Đối với các dự án thông thường thì chỉ cần lập báo cáo khả thi là đủ. Đối
với các công trình phức tạp và quan trọng thì người ta có thể lập cả báo cáo tiền
khả thi và báo cáo khả thi. Nếu việc lập báo cáo tiền khả thi cho thấy việc đầu tư
xây dựng công trình này là hoàn toàn hợp lý thì sẽ bắt đầu lập báo cáo khả thi. Sở
dĩ như vậy vì một khi báo cáo khả thi đã được thẩm định và thông qua thì sẽ bắt
đầu tiến hành công việc thiết kế.
Mặc dù có khác nhau về tên gọi và cách phân định các phần cụ thể bên
trong nhưng luật chứng kinh tế kỹ thuật và báo cáo khả thi có thể coi tương tự
như nhau. Đây chỉ là cách gọi khác nhau cho công việc tìm hiểu tính hợp lý và
các giải pháp của việc xây dựng một công trình thiết bị toàn bộ.
3. Đàm phán, ký kết hợp đồng nhập khẩu hàng hoá

đồng phải được xuất phát từ những đặc điểm của thiết bị toàn bộ, từ những điều
kiện của hoàn cảnh tự nhiên, xã hội và quan hệ giữa hai bên. Trong hợp đồng
không có những điều khoản trái với luật lệ hiện hành của nước người bán hoặc
nước người mua, người đứng ra ký kết phải là người đúng thẩm quyền. Ngôn từ
để xây dựng nên hợp đồng là thứ ngôn ngữ mà cả hai bên cùng thông thạo.
16

Nội dung của hợp đồng nhập khẩu bao gồm:
- Phần mở đầu : tên và số hiệu của hợp đồng, ngày và nơi ký kết hợp
đồng, tên và địa chỉ của các bên ký kết (Tên đơn vị, địa chỉ thư, tên điện
tín, số điện thoại, số Fax, tên và chức vụ của người ký hợp đồng), cam
kết ký hợp đồng.
- Các điều khoản của hợp đồng : tên hàng; chất lượng, quy cách, phẩm
chất và cách xác định; số lượng và cách xác định; đóng gói, bao bì, ký
hiệu, mã hiệu; giá cả, giá trị, điều kiện giao hàng; thời hạn, phương tiên
và địa điểm giao hàng; phương thức thanh toán và chứng từ thanh toán;
bảo hiểm, bảo hành, khiếu nại; phạt và bồi thường thiệt hại; tranh chấp
và giải quyết tranh chấp; kiểm tra và giám định hàng hoá nhập khẩu;
trường hợp bất khả kháng
- Phần ký kết: hợp đồng được làm thành mấy bản, mỗi bên giữ mấy bản,
có hiệu lực pháp lý như nhau; hiệu lực của hợp đồng từ lúc nào; bên bán, bên
mua ký.
Trong thương mại quốc tế hợp đồng có thể là một văn bản hoặc nhiều văn
bản như những điện báo, thư từ giao dịch v.v.. Do đặc điểm của thiết bị toàn bộ
nên hợp đồng nhập khẩu thiết bị toàn bộ thường gồm nhiều văn bản chẳng hạn
như đơn chào hàng cố định của người bán và chấp nhận của người mua hoặc đơn
đặt hàng của người mua và chấp nhận của người bán.
4. Tổ chức thực hiện hợp đồng
Sau khi hợp đồng xuất nhập khẩu được ký kết, đơn vị kinh doanh sẽ tổ
chức thực hiện hợp đồng đó. Để thực hiện một hợp đồng nhập khẩu, doanh

hàng không. Khi vận chuyển thì hàng hoá thường gặp mất mát, hư hỏng và tổn
thất. Do vậy, nếu các nhà kinh doanh muốn tránh rủi ro nên mua bảo hiểm hàng
hoá. Hiện nay, vận chuyển hàng hoá bằng đường biển là loại hình vận chuyển
thông dụng nhất nên bảo hiểm đường biển cũng là loại hình bảo hiểm phổ biến
nhất. Các đơn vị kinh doanh muốn hàng hoá của mình được bảo hiểm thì cần phải
mua bảo hiểm bằng cách ký với công ty bảo hiểm một hợp đồng bảo hiểm. Hợp
đồng bảo hiểm có thể được ký điều kiện A, B hoặc C. Điều quan trọng nhất ở
18

đây là doanh nghiệp cần phải lựa chọn điều kiện bảo hiểm nào cho hợp lí nhất với
giá thấp nhất nhưng lại đạt lợi ích cao nhất trong từng trường hợp cụ thể. Ngoài
ra, tùy thuộc vào đặc điểm và tính chất của hàng hoá, điều kiện vận chuyển mà ta
nên mua bảo hiểm chuyến hay bảo hiểm bao ( một khoảng thời gian nhất định ).
4.5. Thủ tục hải quan
Hàng hoá vận chuyển qua biên giới quốc gia để nhập khẩu hay xuất khẩu
đều phải làm thủ tục hải quan. Về nguyên tắc, trình tự các bước làm thủ tục hải
quan đối với hàng hoá nhập khẩu mậu dịch phải được tiến hành theo ba bước sau:
*Làm thủ tục nhập khẩu về mặt giấy tờ tại cơ quan hải quan: chủ hàng nhập
khẩu phải nộp hồ sơ hải quan tại trụ sở Chi cục hải quan và phải chịu trách nhiệm
trước pháp luật về tính hợp pháp của hồ sơ hải quan và tính chính xác của các nội
dung kê khai trong tờ khai hải quan
*Bước kê khai tại kho hàng, chủ hàng phải xắp xếp hàng hoá trặt tự, thuận
tiện cho kiểm tra. Hải quan phải đối chiếu hàng hoá khai trên giấy tờ với thực tế.
*Quyết định xử lý của hải quan: sau khi kiểm tra, đối chiếu, cán bộ hải
quan sẽ quyết định cho hàng hoá đi hoặc không cho hàng hoá đi. Nếu đồng ý cho
hàng hoá qua, hải quan sẽ kiểm tra xác định số thuế phải nộp của lô hàng dựa trên
kết quả tự tính thuế của người khai hải quan và kết quả kiểm tra thực tế hàng hoá
(nếu có), ra thông báo thuế hoặc viết biên lai thu thuế (nếu có), viết biên lai lệ phí
hải quan .v.v..
Công ty phải hoàn toàn tuân theo quy định của hải quan. Nếu vi phạm các

Đối với phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, nhà nhập khẩu phải
tiến hành mở L/C theo đúng hợp đồng đã ký kết với nhà xuất khẩu, cần cân nhắc
thời gian mở L/C có lợi nhất. Khi bộ chứng từ thanh toán gốc từ nước ngoài về
đến ngân hàng mở L/C thì nhà nhập khẩu phải cẩn thận kiểm tra bộ chứng từ,
nếu thấy hợp lệ thì mới thông báo đồng ý trả tiền cho ngân hàng và lấy bộ chứng
từ đi nhận hàng.
4.9. Giải quyết khiếu nại và tranh chấp ( nếu có )
Nếu có tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng thì việc
giải quyết theo đúng điều khoản trọng tài và luật quy định trong hợp đồng
20

III. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU
THIẾT BỊ TOÀN BỘ
1. Yếu tố chính trị - luật pháp
- Tình hình chính trị bất ổn định có ảnh hưởng đến hoạt động nhập khẩu
nói chung và nhập khẩu thiết bị toàn bộ nói riêng. Nó dẫn đến chiến
tranh, đình công, bạo động gây ách tắc, trở ngại cho hàng hoá khi hàng
đang trên đường từ nước xuất khẩu tới nước nhập khẩu. Không những
nó làm chậm tiến độ giao hàng mà còn có thể gây tổn thất, mất mát cho
hàng hoá. Ngoài ra, nếu bị bao vây, cấm vận kinh tế, nước bị cấm vận
sẽ không thể nhập khẩu được những máy móc, thiết bị có trình độ kỹ
thuật, công nghệ cao từ nước ngoài để phục vụ sản xuất trong nước
- Yếu tố luật pháp: hoạt động nhập khẩu nói chung và nhập khẩu thiết bị
toàn bộ nói riêng được tiến hành giữa các chủ thể ở các Quốc gia khác
nhau bởi vậy nó chịu sự tác động của chính sách thương Mại và các
quốc gia đó.
Đối với các quốc gia cần nhập khẩu thiết bị toàn bộ để hiện đại hoá cơ sở
vật chất kỹ thuật, chính sách thương Mại của họ luôn khuyến khích thực hiện
hoạt động nhập khẩu thiết bị toàn bộ. Nhưng đôi khi các nước này lại ban hành
quá nhiều các văn bản, quy định có liên quan tới việc đầu tư, tiếp cận công nghệ,

không sử dụng được, nhiều liên doanh đã bị biến thành một nơi tiêu thụ hàng hoá
tồn kho ứ đọng của các máy móc thiết bị cũ đã qua sử dụng hoặc đã lạc hậu của
phía nước ngoài. Ngoài ra, trong khi xây dựng nhà máy, nhiều nhà đầu tư do trình
độ kém, không hiểu biết và quan tâm tới lợi ích xã hội nên đã cố tình cắt giảm
nhiều hạng mục xử lý chất thải, máy móc thiết bị bảo vệ người lao động và môi
trường. Các yếu tố có hại trong môi trường lao động không chỉ gây ô nhiễm tại
nơi làm việc mà còn ảnh hưởng xấu đến cả môi trường sống của dân cư xung
quanh.
Nhập khẩu công nghệ nói chung và máy móc thiết bị nói riêng là lợi thế
của nước công nghiệp hoá muộn trong việc tận dụng thành tựu khoa học công
nghệ. Tuy nhiên nếu không cẩn thận trong việc tiếp nhận và quản lý công nghệ
22

thì lợi thế sẽ trở thành yếu thế, thậm chí biến đất nước thành bãi rác thải công
nghệ của các nước phát triển.
- Trình độ quản lý : với mọi hoạt động, mọi ngành nghề khả năng quản lý
của con người luôn là yếu tố quan trọng đặc biệt là trong điều kiện hiện
nay. Cạnh tranh ngày càng gay gắt đòi hỏi một trình độ chuyên môn
cao, khả năng lãnh đạo cùng với sự nhạy bén, và nhìn xa trông rộng ở
người quản lý để có thể điều khiển đội ngũ cán bộ công nhân viên trực
tiếp thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu. Nếu ngược lại, có một người
lãnh đạo kém cùng với đội ngũ cán bộ công nhân viên làm việc không
nhiệt tình và năng động thì việc thực hiện một quy trình nhập khẩu sẽ
không thành công
3. Tỷ giá hối đoái
Đối với các doanh nghiệp tham gia hoạt động thương mại quốc tế, sự thay
đổi của tỷ giá hối đoái tác động trực tiếp tới hoạt động nhập khẩu và có thể gây
sự biến đổi lớn trong tỷ trọng xuất khẩu và nhập khẩu. Khác với thuế quan và hạn
ngạch là những công cụ mà Chính Phủ có thể điều chỉnh trực tiếp, tỷ giá hối đoái
lại chủ yếu hình thành từ thị trường, nhà nước chỉ tác động có tính chất điều

không thể thiếu trong các hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của các
doanh nghiệp không phân biệt đó là doanh nghiệp lớn hay nhỏ, doanh
nghiệp nhà nước, tư nhân hay doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Dựa trên các mối quan hệ, uy tín và nghiệp vụ của mình, các ngân hàng
đảm bảo được lợi ích của các nhà kinh doanh tham gia vào hoạt động
thương mại quốc tế. Ngoài ra, hệ thống các ngân hàng còn giúp các
doanh nghiệp trong việc cung cấp vốn, thanh toán một cách nhanh
chóng, chính xác và tiện lợi. Đồng thời, các ngân hàng cũng có thể
đứng ra bảo lãnh hay cho các doanh nghiệp vay tiền với khối lượng lớn,
tạo điều kiện kịp thời cho doanh nghiệp nắm bắt và tận dụng thời cơ, cơ
hội trong kinh doanh.
 Ảnh hưởng của hệ thống thông tin liên lạc và giao thông vận tải : như
chúng ta đã biết việc thực hiện hoạt động nhập khẩu luôn gắn liền với
24

vận chuyển và thông tin liên lạc. Việc nghiên cứu và áp dụng các công
nghệ tiên tiến vào lĩnh vực thông tin liên lạc và giao thông vận tải là
một yếu tố quan trọng để thúc đẩy hoạt động nhập khẩu.
+ Hệ thống thông tin liên lạc hiện đại như Fax, Telex, dịch vụ chuyển phát
nhanh DHL v.v.. sẽ giúp cho các chủ thể kinh doanh ở các quốc gia khác nhau có
thể liên lạc được với nhau để đàm phán, thoả thuận và tiến hành hoạt động nhập
khẩu một cách kịp thời.
+ Việc hiện đại hoá các phương tiện vận chuyển, nâng cao năng lực bốc
dỡ, bảo quản v.v.. cũng làm cho quá trình nhập khẩu được nhanh chóng, an toàn
và hiệu quả hơn.
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG VỀ VIỆC THỰC HIỆN QUY TRÌNH NHẬP KHẨU
THIẾT BỊ TOÀN BỘ TẠI TECHNOIMPORT
I. TÓM LƯỢC VỀ CÔNG TY
1. Sự hình thành và phát triển của công ty


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status