Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình nhập khẩu tại Công ty TNHH Thanh Phong - Pdf 61

Luận văn tốt nghiệp
Mở đầu
Trong giai đoạn hiện nay, khi mà xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới
đang diễn ra hết sức sôi động, các quốc gia trong đó có Việt nam đang lỗ lực
hết mình để hội nhập với khu vực và thế giới thì hoạt động Thơng mại Quốc tế
có vai trò hết sức to lớn trong sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nớc và sự lớn
mạnh của các doanh nghiệp. Nhập khẩu cùng với xuất khẩu là hai mặt cấu
thành hoạt động thơng mại quốc tế. Nhập khẩu giúp: bổ xung nguyên vật liệu,
hàng hoá cho các doanh nghiệp; mở rộng khả năng tiêu dùng trong nớc bằng
việc cung cấp các hàng hoá mà trong thời điểm nhất định các doanh nghiệp
trong nớc cha sản xuất đợc, sản xuất không đủ đáp ứng nhu cầu, hoặc sản xuất
với chi phí cao; góp phần vào sự nghiệp Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nớc.
1. Lý do chọn đề tài
Là một sinh viên Chuyên ngành Thơng mại Quốc tế, đợc thực tập tại
Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thanh Phong- một công ty kinh doanh đa ngành
trong đó hoạt động nhập khẩu giữ vai trò chính, tuy nhiên hoạt động nhập khẩu
của Công ty còn có nhiều hạn chế. Chính vì vậy em đã mạnh dạn chọn đề tài
Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình nhập khẩu tại Công ty TNHH
Thanh Phong làm luận văn của mình. Em hi vọng rằng đề tài này sẽ góp
phần nâng cao hiệu quả kinh doanh cho Công ty, nhất là trong hoạt động nhập
khẩu.
2. Mục đích nghiên cứu
Sinh viên: Vũ Đắc Nghĩa, Lớp 37E5, Khoa Thơng mại Quốc tế 1
Luận văn tốt nghiệp
Tổng hợp, đánh giá những cơ sở luận về quy trình nhập khẩu để áp dụng
cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu hiện nay.
Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh của Công ty TNHH Thanh
phong, quy trình nhập khẩu tại Công ty. Từ đó, đề ra những giải pháp để hoàn
thiện quy trình nhập khẩu cho Công ty.
3. Đối tợng, phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu quy trình hoạt động nhập khẩu của các doanh nghiệp nói

nhiều trong quá trình thực tập tại Công ty và trong việc thu thập số liệu cho bài
luận văn này.
Sinh viên: Vũ Đắc Nghĩa, Lớp 37E5, Khoa Thơng mại Quốc tế 3
Luận văn tốt nghiệp
Chơng I
Lý luận chung về quy trình nhập khẩu
I.Vai trò của nhập khẩu với nền kinh tế quốc dân
1. Khái niệm
Nhập khẩu là hoạt động mua hàng hoá và dịch vụ từ nớc ngoài để phục vụ
cho nhu cầu trong nớc hoặc tái xuất khẩu nhằm mục đích thu lợi. Hoạt động
nhập khẩu có các đặc điểm sau:
Một là, thị trờng nhập khẩu rất đa dạng. Mỗi quốc gia có lợi thế về sản
xuất một số loại hàng hoá nhất định, do đó nhà nhập khẩu có thể lựa chọn nhập
khẩu hàng hoá từ những quốc gia đem lại lợi ích cao nhất cho hoạt động nhập
khẩu của mình.
Hai là, khách hàng đầu vào (nguồn cung ứng), đầu ra (khách hàng) của
doanh nghiệp rất đa dạng nó đợc thay đổi theo nhu cầu tiêu dùng trong nớc.
Nguồn cung ứng hoặc khách hàng đầu ra có thể ổn định hoặc biến đổi, tập trung
hoặc đa dạng phụ thuộc vào điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp, khả năng
thích nghi và đáp ứng nhu cầu thị trờng cũng nh những biến động của nguồn
cung ứng. Với đặc điểm này doanh nghiệp có thể có cơ hội lựa chọn các đối tác
kinh doanh phù hợp để đem lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp của mình.
Ba là, có nhiều phơng thức thanh toán. Có nhiều phơng thức thanh toán
trong kinh doanh nhập khẩu giữa các bên nh : phơng thức nhờ thu ( Collection),
phơng thức chuyển tiền ( Remitance), phơng thức tín dụng chứng
từ( Documentary credit), Việc sử dụng ph ơng thức thanh toán nào là do hai
bên tự thoả thuận và đợc quy định trong điều khoản của hợp đồng. Do
vậy, nhà nhập khẩu cần chú ý để lựa chọn phơng thức thanh toán phù hợp nhất
với điều kiện của mình.
Sinh viên: Vũ Đắc Nghĩa, Lớp 37E5, Khoa Thơng mại Quốc tế 4

Luận văn tốt nghiệp
thể đáp ứng đầy đủ cho tất cả các nhu cầu của nền kinh tế, chính vì vậy nhập
khẩu có vai trò rất quan trọng trong việc bổ xung những hàng hoá mà trong nớc
cha sản xuất đợc, sản xuất đợc nhng cha đủ đáp ứng nhu cầu, hoặc sản xuất với
chi phí quá cao. Nhập khẩu giúp cho cung cầu trở lên trùng khớp hơn, nâng cao
sự lựa chọn cho ngời dân. Mặt khác, việc nhập khẩu sẽ làm cho tính cạnh tranh
trong việc cung ứng hàng hoá dich vụ tăng lên, thúc đẩy các doanh nghiệp trong
nớc phải nâng cao hiệu quả sản xuất, nâng cao chất lợng và hạ giá thành sản
phẩm để nâng cao khả năng cạnh tranh, điều này làm tăng lợi ích cho ngời tiêu
dùng.
Thứ hai, nhập khẩu giúp chúng ta có thể chuyên môn hoá sản xuất, nâng
cao hiệu quả sản xuất, thay thế các máy móc thiết bị lạc hậu bằng các máy móc
thiết bị hiện đại, góp phần vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Trong điều kiện của nớc ta hiện nay, việc nhập khẩu máy móc thiết bị hiện đại,
nhập khẩu công nghệ là rất cần thiết. Bởi lẽ, nớc ta là một nớc chậm phát triển,
đang trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tham
gia vào quá trình phân công lao động quốc tế, chúng ta rất cần các máy móc
hiện đại, nguyên vật liệu, linh kiện để phục vụ cho quá trình sản xuất. Cùng với
việc nhập khẩu các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đơn thuần là việc nhập khẩu
công nghệ, chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm sản xuất.
Thứ ba, nhập khẩu giúp làm lạnh mạnh hoá thị trờng trong nớc, nâng cao
tính cạnh tranh, giảm độc quyền. Việt nam hiện nay vẫn đang trong quá trình
đổi mới, do đó vẫn còn khá nhiều tàn d mà thời bao cấp để lại nh là tình trạng
độc quyền của một số tổng công ty, doanh nghiệp nhà nớc, tác phong quản lý
mệnh lệnh tập trung và quan liêu, hiệu quả sản xuất thấp. Hoạt động nhập khẩu
sẽ giúp cho hàng hoá dịch vụ ở thị trờng trong nớc trở lên phong phú hơn, làm
cho các doanh nghiệp muốn tồn tại thì phải nâng cao khả năng cạnh tranh của
mình về chất lợng, giá cả, thái độ phục vụ khách hàng.
Cuối cùng, nhập khẩu giúp cân bằng cán cân thanh toán quốc tế, một quốc
gia không thể chỉ có xuất khẩu mà không nhập khẩu. Nhập khẩu là một trong

thác, còn bên nhận uỷ thác có trách nhiệm thực hiện đúng nh nội dung của hợp
đồng uỷ thác đã đợc ký kết giữa các bên.
Doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu nhận uỷ thác sẽ không phải bỏ vốn,
không phải xin hạn ngạch, không cần quan tâm nhiều đến thị trờng tiêu thụ cho
hàng hoá mà chỉ nhận đại diện cho bên uỷ thác tiến hành giao dịch, đàm phán,
ký kết hợp đồng, làm thủ tục nhập hàng cũng nh thay mặt bên uỷ thác khiếu
nại, đòi bồi thờng với đối tác nớc ngoài khi có tổn thất.
Khi tiến hành nhập khẩu uỷ thác, doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu
nhận uỷ thác sẽ phải lập hai hợp đồng là hợp đồng nhập khẩu ký với đối tác nớc
ngoài và một hợp đồng nhận uỷ thác nhập khẩu với bên uỷ thác.
3. Nhập khẩu liên doanh
Nhập khẩu liên doanh là hoạt động kinh doanh nhập khẩu hàng hoá trên
cơ sở liên kết kinh tế một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp trong đó có ít
nhất một bên là doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu trực tiếp nhằm phối hợp
các kĩ năng để cùng giao dịch và đề ra các chủ trơng, biện pháp có liên quan
đến hoạt động kinh doanh nhập khẩu, hớng hoạt động này sao cho có lợi nhất
cho tất cả các bên tham gia, cùng chia lợi nhuận và cùng chịu lỗ theo tỷ lệ vốn
góp trong liên doanh.
So với hình thức nhập khẩu trực tiếp thì doanh nghiệp sẽ bớt rủi ro vì mỗi
doanh nghiệp tham gia liên doanh nhập khẩu sẽ phải góp một phần vốn nhất định.
Quyền hạn và trách nhiệm của mỗi bên tỷ lệ theo vốn đóng góp. Việc phân chia chi
phí, nộp thuế hay chia lỗ lãi đều dự trên tỷ lệ vốn đóng góp đã đợc thoả thuận.
Doanh nghiệp kinh doanh nhập khẩu trực tiếp trong liên doanh phải ký hai
loại hợp đồng, một hợp đồng với đối tác bán hàng nớc ngoài và hợp đồng liên
doanh với các doanh nghiệp khác.
Sinh viên: Vũ Đắc Nghĩa, Lớp 37E5, Khoa Thơng mại Quốc tế 8
Luận văn tốt nghiệp

4. Nhập khẩu hàng đổi hàng
Nhập khẩu hàng đổi hàng cùng với trao đổi bù trừ là hai loại nghiệp vụ chủ

định rõ những mặt hàng nào thuộc diện: Cấm nhập, cấm xuất; nhập, xuất có
điều kiện.
-Phụ thuộc vào phơng thức và điều kiện thanh toán quốc tế : Mỗi phơng
thức thanh toán quốc tế đòi hỏi nhà nhập khẩu phải thực hiện các công việc
khác nhau vào các giai đoạn khác nhau để đảm bảo việc thanh toán đợc diễn ra
trôi chảy.
1. Nghiên cứu thị trờng
Nghiên cứu thị trờng là một khâu rất quan trọng trong quy trình nhập
khẩu. Nghiên cứu thị trờng sẽ là nền tảng, cơ sở để từ đó công ty có kế hoạch,
chiến lợc nhập khẩu hàng hóa.
Khi nghiên cứu thị trờng, nhà nhập khẩu phải trả lời đợc các câu hỏi sau:
- Nhập khẩu mặt hàng gì?
-Nhập vào thời điểm nào thì tốt nhất?
-Dung lợng của thị trờng , thị phần của Công ty là bao nhiêu?
Việc nghiên cứu thị trờng trong hoạt động nhập khẩu không những đòi hòi
phải nghiên cứu thị trờng trong nớc để xác định nhu cầu mà còn phải nghiên
cứu thị trờng ngoài nớc để từ đó lựa chọn nguồn cung ứng tốt nhất.
1.1 Nghiên cứu thị trờng trong nớc
Nghiên cứu thị trờng trong nớc là bớc đầu tiên mà doanh nghiệp cần phải
làm trớc tiến hành hoạt động khẩu hàng hóa. Việc nghiên cứu thị trờng trong n-
Sinh viên: Vũ Đắc Nghĩa, Lớp 37E5, Khoa Thơng mại Quốc tế 10
Luận văn tốt nghiệp
ớc giúp cho doanh nghiệp xác định nhu cầu thị trờng, mặt hàng cần nhập khẩu
và giá cả, mức độ cạnh tranh trong việc cung ứng hàng hoá mà doanh nghiệp
muốn nhập khẩu.
Khi nghiên cứu thị trờng trong nớc, nhà nhập khẩu cần căn cứ vào: tình
hình tiêu thụ mặt hàng đó ở trong nớc; tình hình giá cả mặt hàng đó trong nớc;
tình hình sản xuất mặt hàng đó ở trong nớc; khả năng của doanh nghiệp trong
việc đáp ứng nhu cầu.
1.2 Nghiên cứu thị trờng nớc ngoài

càng trớc khi thực hiện các nghiệp vụ này, nó bao gồm các công việc chính sau:
2.1 Giao dịch
Giao dịch trong thơng mại quốc tế đợc hiểu là việc trao đổi thông tin về
các điều kiện thơng mại giữa các bên tham gia.
2.1.1 Các bớc giao dịch
Hỏi giá ( Inquiry )
Hỏi giá là việc ngời mua đề nghị ngời bán cho biết giá cả và các điều kiện
thơng mại cần thiết khác để mua hàng; việc hỏi giá không ràng buộc trách
nhiệm pháp lý nên ngời mua có thể gửi hỏi giá đến nhiều nơi khác nhau. Trên
cơ sở thông tin thu đợc, ngời mua sẽ quyết định lựa chọn ngời cung cấp.
Chào hàng, báo giá ( Offer )
Chào hàng là một đề nghị kí kết hợp đồng mua bán hàng hoá với nội dung
quy định về: Tên hàng, số lợng, chất lợng, giá cả, phơng thức thanh toán Chào
hàng có thể do ngời bán hoặc ngời mua đa ra, khi ngời bán đa ra thì gọi là chào
bán hàng, khi ngời mua đua ra thì gọi là chào mua hàng. Có hai loại chào hàng
là: chào hàng cố định ( Firm offer ), và chào hàng tự do ( Free offer ).
Sinh viên: Vũ Đắc Nghĩa, Lớp 37E5, Khoa Thơng mại Quốc tế 12
Luận văn tốt nghiệp
Trong th chào hàng cần giới thiệu về hoạt động của công ty mình, khả
năng buôn bán kinh doanh mặt hàng gì và uy tín của công ty để bên bán, bên
mua có sự hiểu biết nhất định về đối tác kinh doanh. Từ đó tạo đợc lòng tin và
mở ra khả năng giao dịch buôn bán cao hơn.
Th chào hàng cần xác định giá giao dịch hợp lý, bao gồm tất cả chi phí
phát sinh cùng các điều kiện khác trong giao dịch buôn bán.
Đặt hàng ( Order )
Đặt hàng là lời đề nghị kí kết hợp đồng thơng mại của ngời mua, về
nguyên tắc nó phải đảm bảo đầy đủ nội dung cần thiết cho việc kí kết hợp đồng.
Trên thực tế, ngời ta chỉ đặt hàng với các khách hàng có quan hệ thờng xuyên.
Do vậy, đặt hàng chỉ nêu: tên hàng, quy cách, phẩm chất, số lợng, thời gian giao
hàng. Những điều kiện khác, hai bên áp dụng điều kiện chung đã thỏa thuận

ng bày hàng hóa của mình và tiếp xúc với ngời mua để ký kết hợp đồng
mua bán.
Gia công quốc tế: là phơng thức giao dịch mà trong đó bên đặt gia công
ở nớc ngoài cung cấp máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu hoặc bán
thành phẩm để bên nhận gia công trong nớc tổ chức quá trình sản xuất
thành sản phẩm theo yêu cầu của bên đặt gia công. Toàn bộ sản phẩm
làm ra bên nhận gia công sẽ giao lại cho bên đặt gia công để nhận về
một khoản thù lao ( gọi là phí gia công ) theo thoả thuận.
2.2 Đàm phán
2.2.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại, nguyên tắc cơ bản trong đàm
phán.
Khái niệm:
Sinh viên: Vũ Đắc Nghĩa, Lớp 37E5, Khoa Thơng mại Quốc tế 14
Luận văn tốt nghiệp
Đàm phán là quá trình đối thoại giữa ngời mua và ngời bán nhằm thống
nhất những mối quan tâm chung và giải quyết bất đồng dựa trên các yếu tố thiết
yếu của một hợp đồng thơng mại.
Đặc điểm:
Một là, đàm phán ngoại thơng là quá trình không ngừng tự điều chỉnh các
nhu cầu, lợi ích của các bên đàm phán nhằm mục đích cuối cùng là đi đến kí kết
hợp đồng với những điều khoản có lợi cho cả đôi bên.
Hai là, đàm phán hợp đồng ngoại thơng là quá trình thống nhất các lợi ích
trong khi vẫn giữ đợc mối quan hệ tốt đẹp giữa đôi bên trong hợp đồng.
Ba là, đàm phán hợp đồng ngoại thơng là một môn khoa học, đồng thời
cũng là một nghệ thuật.
Phân loại:
Dựa vào hình thức đàm phán, ta có thể chia đàm phán thành các loại: đàm
phán qua th tín, đàm phán qua điện thoại, gặp mặt trực tiếp để đàm phán.
Nguyên tắc cơ bản:
Thứ nhất, lợi ích chung của các bên trong hợp đồng ngoại thơng phải đợc

tin của nhà nớc về danh mục hàng hoá cấm nhập, nhập khẩu có điều kiện để
từ đó xem xét xem hàng hoá mình định nhập khẩu có thuộc diện phải xin giấy
phép nhập khẩu hay không. Doanh nghiệp có thể tham khảo danh mục hàng hoá
cấm nhập, nhập có điều kiện tại Quyết định số 46/2001/QĐ-TTg của Thủ tớng
chính phủ về về xuất nhập khẩu hàng hoá. Nếu hàng nhập khẩu thuộc danh mục
hàng hoá phải xin phép nhập khẩu thì Công ty phải xin giấy phép nhập khẩu từ
cơ quan nhà nớc có thẩm quyền.
4. Thuê phơng tiện vận tải
Sinh viên: Vũ Đắc Nghĩa, Lớp 37E5, Khoa Thơng mại Quốc tế 16
Luận văn tốt nghiệp
Có nhiều phơng thức vận tải quốc tế khác nhau nh: Vận tải đa phơng thức,
vận tải bằng đờng không, vận tải bằng đờng biển. ứng với các phơng thức vận
tải khác nhau là các phơng tiện vận tải khác nhau. Việc thuê phơng tiện vận tải
nào là tuỳ vào điều kiện cơ sở giao hàng và sự tính toán của bên có nghĩa vụ
thuê phơng tiện vận tải.
Nghiệp vụ thuê tàu:
Doanh nghiệp nhập khẩu đa phần là ngời có hàng nhng lại không có phơng
tiện vận tải để chuyên chở. Vì vậy, khi có nghĩa vụ chuyên trở trong việc thực
hiện hợp đồng nhập khẩu, ngời nhập khẩu phải đi thuê tàu của các tổ chức vận
tải biển để chuyên chở hàng hóa.
Thuê tàu là nghiệp vụ mà chủ hàng tự mình đứng ra hoặc thông qua ngời
thứ ba, ngời môi giới, liên hệ với chủ tàu hoặc ngời chuyên chở đờng biển thuê
một phần hay cả chiếc tàu để chuyên chở hàng hóa từ một hay nhiều cảng này
đến một hay nhiều cảng khác. Thông thờng, đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu
sẽ ủy thác việc thuê tàu cho một công ty giao nhận chuyên nghiệp. Các công ty
giao nhận lớn ở Việt nam hiện nay là: Hiệp hội kho vận giao nhận Việt nam
( VIFAS), Tổng công ty giao nhận và kho vận ngoại thơng ( Vietrans).
4.1 Thuê tàu chợ
Thuê tàu chợ còn gọi là lu cớc tàu chợ ( Bookings Shipping Space ) là ph-
ơng thức thuê tàu trong đó ngời chủ hàng trực tiếp hoặc thông qua môi giới yêu

-Xác định loại hình tàu để thuê: thuê một chuyến ( Single voyage ), thuê
khứ hồi ( Round voyage ), thuê nhiều chuyến liên tục ( Consecutive voyage ),
hay thuê bao cả tàu trong một thời gian ( Lumpsun ).
-Ngời thuê tàu ( Charterer ) trực tiếp hoặc uỷ thác cho công ty giao nhận
đàm phán kí kết hợp đồng thuê tàu ( Voyage charter party ) với hãng tàu
( Charter ).
-Yêu cầu bên bán tập kết hàng tại cảng để ta giao lên tàu.
Sinh viên: Vũ Đắc Nghĩa, Lớp 37E5, Khoa Thơng mại Quốc tế 18
Luận văn tốt nghiệp
- Nhận hàng tại tại đích và thanh toán tiền cho chủ tàu.
5. Mua bảo hiểm
Bảo hiểm chuyên chở hàng hoá xuất nhập khẩu là sự cam kết bồi thờng về
mặt kinh tế của công ty bảo hiểm cho ngời đợc bảo hiểm khi có rủi ro, tổn thất,
tai nạn xảy ra đối với hàng hoá trong quá trình chuyên chở. Ngời đợc bảo hiểm
phải đóng một khoản gọi là phí bảo hiểm cho công ty bảo hiểm.
Hoạt động thơng mại quốc tế nói chung và hoạt động nhập khẩu nói riêng
là những hoạt động mà hàng hoá đợc vận chuyển trên một quãng đờng dài, đi
qua biên giới một hay nhiều quốc gia. Do vậy, rủi ro tổn thất trong quá trình
vận chuyển là khá cao. Chính vì thế, việc mua bảo hiểm cho hàng hoá là hết sức
cần thiết. Tác dụng chính của việc mua bảo hiểm là: giảm bớt rủi ro cho hàng
hoá do có sự phối hợp kiểm tra và đề phòng tổn thất từ phía công ty bảo hiểm;
đợc bồi thờng khi có tổn thất, rủi ro.
Khi mua bảo hiểm, ngời nhập khẩu phải căn cứ vào các đặc điểm sau: tính
chất của hàng hóa, điều khoản của hợp đồng, vị trí xếp hàng, tình trạng của bao
bì, loại tàu chuyên chở, tình hình kinh tế xã hội. Hiện nay, ở Việt nam có các
công ty bảo hiểm lớn nh: Bảo Việt, Bảo Minh.
Thủ tục mua bảo hiểm:
-Đến công ty bảo hiểm làm giấy yêu cầu đợc bảo hiểm cho hàng hoá và kí
kết hợp đồng bảo hiểm.
-Thanh toán phí bảo hiểm cho công ty bảo hiểm và nhận đơn bảo hiểm

đúng thời hạn thỏa thuận. Việc chậm trễ của bên bán trong giao hàng sẽ ảnh h-
ởng đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp nhập khẩu. Bên bán thực hiện
việc giao hàng càng sớm càng tốt vì nó có lợi cho cả hai bên. Bên mua thờng
xuyên khuyến khích bên bán giao hàng sớm bằng hình thức thởng do hoàn
Sinh viên: Vũ Đắc Nghĩa, Lớp 37E5, Khoa Thơng mại Quốc tế 20
Luận văn tốt nghiệp
thành hợp đồng sớm, nếu chậm thì sẽ bị phạt. Bên mua phải thờng xuyên đôn
đốc nhắc nhở bên bán qua các hình thức nh gửi th, điện thoại, fax.
7. Làm thủ tục Hải quan nhập khẩu
Hàng hóa đi ngang qua biên giới quốc gia để xuất khẩu hoặc nhập khẩu
đều phải làm thủ tục Hải quan. Thủ tục Hải quan cho hàng nhập khẩu đợc quy
định tại Điều 16 Chơng 3 Luật Hải quan ngày 29 tháng 06 năm 2001 bao gồm:
-Khai và nộp tờ khai Hải quan; nộp, xuất trình chứng từ thuộc hồ sơ Hải
quan.
-Đa hàng hóa, phơng tiện vận tải đến địa điểm đợc quy định cho việc kiểm
tra thực tế hàng hoá, phơng tiện vận tải.
-Nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp
luật.
Cụ thể nội dung của từng khâu trong thủ tục Hải quan mà nhà nhập khẩu
phải thực hiện là:
Khai báo Hải quan, nộp hồ sơ Hải quan:
Theo Điều 18 Luật Hải quan thì nhà nhập khẩu phải khai báo và nộp tờ khai
Hải quan trong vòng 30 ngày kể từ ngày hàng hoá về đến cửa khẩu.
Tờ khai Hải quan là chứng từ có tính chất pháp lý. Nó là cơ sở để xác định
trách nhiệm của ngời khai trớc pháp luật về tên hàng, phẩm chất số lợng, trọng
lợng hàng, phơng tiện vận tải, đồng tiền và phơng thức thanh toán ... từ đó xác
định mức thuế Nhập khẩu, thuế Giá trị gia tăng hàng nhập khẩu đồng thời nó là
cơ sở để Hải quan giám sát khi hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua biên giới.
Khai báo, nộp hồ sơ Hải quan đợc Hải quan xác định là khâu thủ tục quan
trọng nhất trong ba khâu thủ tục Hải quan mà chủ hàng phải thực hiện. Vì vậy

Xuất trình hàng hóa:
Sinh viên: Vũ Đắc Nghĩa, Lớp 37E5, Khoa Thơng mại Quốc tế 22
Luận văn tốt nghiệp
Hàng hóa xuất nhập khẩu phải đợc sắp xếp trật tự, thuận tiện cho việc
kiểm soát. Nhà nhập khẩu phải chịu chi phí và nhân công về việc mở, đóng các
kiện hàng. Yêu cầu của việc xuất trình hàng hóa là sự trung thực của chủ hàng.
Thực hiện nghĩa vụ nộp thuế , lệ phí Hải quan và các nghĩa vụ khác:
Nhà nhập khẩu nộp thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng nh trong tờ
khai Hải quan dới sự kiểm tra của Hải quan. Đồng thời nhà nhập khẩu tiến hành
nộp lệ phí Hải quan.
Sau khi kiểm soát giấy tờ và hàng hóa, Hải quan sẽ ra những quyết định
nh: cho hàng đợc phép ngang qua biên giới, cho hàng đi qua một cách có điều
kiện (nh phải sửa chữa, phải bao bì lại...) nghĩa vụ của chủ hàng là phải nghiêm
chỉnh thực hiện các quyết định đó.
8. Nhận hàng từ phơng tiện vận tải
Theo Nghị định 2073/QĐ-GT và theo Nghị định 200/CP thì: Việc nhận
hàng hoá nhập khẩu tại cảng là do cảng tiến hành trên cơ sở hợp đồng uỷ thác
mà chủ hàng hoặc ngời đợc uỷ thác đã kí với cảng ( Nếu hàng không lu kho tại
cảng thì chủ hàng hoặc ngời nhận uỷ thác có thể giao nhận trực tiếp với tàu ).
Do đó, khi tàu cập cảng, hãng tàu sẽ trực tiếp đứng ra giao nhận hàng với cảng
rồi đa hàng về vị trí an toàn: kho hoặc bãi. Đơn vị kinh doanh nhập khẩu phải
ký hợp đồng ủy thác cho cảng làm việc này đồng thời thanh toán mọi chi phí
liên quan đến việc nhận hàng cho cảng.
Nhà nhập khẩu xác nhận với cơ quan vận tải kế hoạch tiếp nhập hàng nhập
khẩu từng năm, từng quý, lịch tàu, cơ cấu mặt hàng, điều kiện kỹ thuật khi bốc
dỡ, vận chuyển, giao nhận.
Cung cấp các tài liệu cần thiết cho việc giao nhận hàng hóa nh vận đơn,
lệnh giao hàng nếu tàu biển không giao những tài liệu đó cho cơ quan vận tải.
Theo dõi việc giao nhận, đôn đốc cơ quan vận tải, cung cấp những biên
bản (nếu cần) về hàng hóa và giải quyết trong phạm vi của mình.

Luận văn tốt nghiệp
-Đến phòng điều độ của cảng nộp phí lu kho, phí xếp dỡ Container; nộp
biên lai thanh toán các phí này cùng với D/O để đổi lấy phiếu xuất kho cho
phép hàng ra khỏi cảng.
-Nộp hồ sơ xin đăng kí kiểm hoá Hải quan.
-Hoàn tất việc nhận hàng.
+ Trờng hợp sử dụng dịch vụ Door-to-door Service:
-Mọi công việc sẽ đợc bên giao nhận đảm nhiệm, nhà nhập khẩu chỉ cần
khai báo Hải quan và mời Hải quan về kho của công ty để kiểm hoá.
9. Kiểm tra, giám định hàng hoá
Khi nhận hàng, đơn vị nhập khẩu phải tiến hành kiểm tra, giám định nếu
phát hiện thiếu thụt, mất mát, tổn thất thì kịp thời có biện pháp xử lý.
Đối với hàng giao lẻ, nếu số lợng, trọng lợng hàng bị thừa thiếu thì cảng
(ga) phải lập Biên bản thừa thiếu với đơn vị nhập khẩu. Nếu hàng bị đổ vỡ,
phải lập Biên bản đổ vỡ h hỏng. Hàng chở bằng đờng biển mà bị thiếu hụt,
mất mát, phải có Biên bản kết toán nhận hàng với tàu.
Doanh nghiệp nhập khẩu, với t cách là một bên đứng tên trên vận đơn, phải
lập Th dự kháng ( Letter of revervation, Notice of Claim ) nếu nghi ngờ hoặc
thực sự thấy hàng có tổn thất, sau đó phải yêu cầu công ty Bảo hiểm lập biên
bản giám định nếu tổn thất xảy ra bởi những rủi ro đã đợc mua bảo hiểm. Trong
những trờng hợp khác phải yêu cầu công ty giám định tiến hành kiểm tra hàng
hóa và lập chứng th giám định. Tại Việt nam, các doanh nghiệp thờng nhờ
Vinacontrol tiến hành giám định. Trong trờng hợp này, nhà nhập khẩu cần gửi
cho Vinacontrol các giấy tờ sau:
-Hợp đồng bảo hiểm.
-Hợp đồng vận tải hoặc vận đơn đờng biển.
-Biên bản kết toán nhận hàng với tàu ( nếu có ).
-Tờ khai chi tiết hàng hoá, các giấy tờ khác có liên quan.
Sinh viên: Vũ Đắc Nghĩa, Lớp 37E5, Khoa Thơng mại Quốc tế 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status