VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LƯU THANH PHƯƠNG
QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT THEO
PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM
HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN THỊ XÃ QUẢNG YÊN
TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, NĂM 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LƯU THANH PHƯƠNG
QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT THEO
PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM
HIỆN NAY TỪ THỰC TIỄN THỊ XÃ QUẢNG YÊN
TỈNH QUẢNG NINH
Ngành: Luật Kinh Tế
Mã số: 8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG
HÀ NỘI, NĂM 2019
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Thiết bị và phương tiện thu gom....................................................................... 63
Bảng 3.1. Danh mục các loại chất thải rắn sinh hoạt cần phân loại......................73
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Các nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt..................................... 7
Hình 2.1. Sơ đồ quản lý chất thải rắn sinh hoạt thị xã Quảng Yên.................57
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế phát triển kinh tế xã hội, với tốc độ đô thị hoá ngày càng
tăng cùng với sự phát triển mạnh mẽ không ngừng của các ngành công
nghiệp, dịch vụ, du lịch... kéo theo mức sống của con người ngày càng cao đã
làm nảy sinh nhiều vấn đề và khó khăn hơn trong công tác bảo vệ môi trường
và sức khoẻ của con người. Lượng chất thải phát sinh từ những hoạt động
sinh hoạt của con người ngày một nhiều hơn, đa dạng hơn về thành phần và
độc hại hơn về tính chất. Bên cạnh những mặt tích cực do các hoạt động phát
triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống con người thì việc sử dụng quá mức tài
nguyên thiên nhiên, xả thải các chất độc hại vượt quá khả năng tự làm sạch
của môi trường đã gây ra ô nhiễm môi trường.
Ô nhiễm môi trường do nhiều nguyên nhân khác nhau song nguyên nhân
chủ yếu vẫn do hoạt động sống của con người. Chất thải rắn sinh hoạt phát
sinh trong quá trình sinh hoạt của con người như; ăn, ở, tiêu dùng, mức sống
của con người càng cao thì nhu cầu tiêu dùng cũng tăng lên, điều đó đồng
nghĩa với việc gia tăng chất thải sinh hoạt. Mặt khác, tỷ lệ thu gom chất thải
sinh hoạt cho đến nay mới chỉ đạt 60- 80%, phần còn lại được thải tự do vào
sinh hoạt; nghiên cứu các quy định pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh
hoạt, phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật để tìm ra những sai sót,
vướng mắc, những vấn đề phát sinh, các vi phạm pháp luật để từ đó đề xuất
phương hướng và các giải pháp hoàn thiện, cơ chế thực hiện pháp luật về
quản lý chất thải rắn sinh hoạt nói chung và tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng
Ninh nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Phạm vi nghiên cứu
Pháp luật về quản lý chất thải là một phạm trù nghiên cứu rộng, vì vậy
luân văn không thể nghiên cứu hoạt động quản lý của tất cả các loại chất thải
hiện nay, cũng không đi sâu nghiên cứu các lĩnh vực chuyên môn của quản lý
chất thải mà chủ yếu đề cấp đến các vấn đề pháp lý liên quan đến quản lý chất
thải rắn sinh hoạt.
2
Về không gian, luận văn đi sâu nghiên cứu thực tiễn quản lý chất thải rắn
sinh hoạt trên địa bàn thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Các văn bản pháp luật Việt Nam hiện hành về quản lý chất thải rắn sinh
hoạt.
Công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt theo pháp luật trên địa bàn thị xã
Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp: lịch sử, tổng hợp, so sánh, đánh giá,
phân tích, dẫn chiếu…để làm rõ các vấn đề mà đề tài đặt ra.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Bảng từ viết tắt, Danh mục tài liệu
tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 Chương, cụ thể là:
chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh
hoạt hoặc các hoạt động khác”.
Theo Điều 3, khoản 12, Luật BVMT 2014 định nghĩa: “Chất thải là vật
chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động
khác”.
Định nghĩa về chất thải qua các thời kỳ về cơ bản không có sự thay đổi
về nguồn gốc phát thải, đó là “vật chất thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch
4
vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác”. Luật Bảo vệ môi trường 1993 nhấn mạnh
về các dạng tồn tại của chất thải, hay theo tác giả Nguyễn Thị Anh Hoa nêu
khái niệm có đề cập đến các nguồn phát sinh chất thải rất cụ thể. Riêng Luật
BVMT 2014 không giới hạn dạng tồn tại của chất thải, không hạn chế ở các
dạng rắn, lỏng, khí mà gồm tất cả những vật chất ở tất cả các dạng được thải
ra từ các hoạt động của con người.
- Chất thải rắn: Là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.
- Chất thải rắn sinh hoạt: Là chất thải ở trạng thái rắn phát sinh trong các
hoạt động sinh hoạt hằng ngày của con người từ các khu dân cư, làng mạc,
trường học… Chất thải sinh hoạt hay còn gọi là rác thải sinh hoạt cần được
phân loại và có biện pháp tái sử dụng, tái chế, xử lý hợp lí để thu hồi năng
lượng và bảo vệ môi trường.
Khoản 2,3, Điều 3, Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của
Chính phủ quy định về quản lý chất thải rắn đã nêu rất rõ:
Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Chất thải rắn bao
gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại.
Chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công
Các nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt chủ yếu từ các hoạt động:
- Hộ gia đình (nhà ở riêng, khu trung cư, khu tập thể): Chất thải phát sinh
từ nguồn này bao gồm các loại như thực phẩm thừa, thùng carton, hộp nhựa,
vỏ chai, lọ thủy tinh, … và các chất độc hại được sử dụng trong gia đình như:
dược phẩm bị thải bỏ, ăc quy.
- Cơ quan, trường học, khu hành chính, chất thải rắn thường là giấy, túi
nilong, vỏ lon, hộp nhựa, . . .
- Nông nghiệp sử lý rác thải, thu hoạch vụ mùa, khu chăn nuôi: các chất
thải rắn thường là vỏ bao, lọ thuốc bảo vệ thực vật …
6
- Du lịch giải trí như các khu công viên, tượng đài, chất thải rắn là rác
cành cây, túi nilong và đồ hộp, …
- Bệnh viện cơ sở y tế chất thải rắn thường là túi nilong, kim tiêm, ống
nhựa, thùng cartong, …
- Giao thông xây dựng, di rời, sửa chữa nhà cửa, đương xá, công trình,
… các chất thải rắn thường là gạch ngói vỡ vụn, bê tông, sắt thép, …
Giao thông
xây dựng
Nhà dân khu
Dịch vụ
thương mại
Chất thải rắn
sinh hoạt
(CTRSH)
của trường học bệnh viện, ký túc xá, chợ... Loại chất thải này mang bản chất
dễ bị phân huỷ sinh học, trong quá trình phân huỷ tạo ra mùi gây khó chịu,
ảnh hưởng tới sức khoẻ con người, đặc biệt trong điều kiện thời tiết nóng ẩm.
- Chất thải trực tiếp của động vật chủ yếu là phân, bao gồm phân người
và phân của các loại động vật khác.
- Chất thải lỏng chủ yếu là bùn ga, cống rãnh, là các chất thải ra từ các
khu vực sinh hoạt của dân cư.
- Tro và các chất dư thừa thải bỏ khác bao gồm: Các vật chất còn lại
trong quá trình đốt củi, than, rơm rạ, lá cây... ở các gia đình, công sở, nhà
hàng, nhà máy, xí nghiệp [7, tr31-33].
- Các chất thải rắn từ đường phố như lá cây, củi, nilon, vỏ bao gói...
* Chất thải rắn công nghiệp
Chất thải rắn công nghiệp là chất thải rắn được phát sinh từ các hoạt động
sản xuất công nghiệp. Các nguồn phát sinh chất thải công nghiệp bao gồm:
- Các phế thải từ vật liệu trong quá trình sản xuất công nghiệp, tro, xỉ
trong các nhà máy nhiệt điện.
- Các phế thải từ nhiên liệu phục vụ cho sản xuất.
Các phế thải trong quá trình công nghệ sản xuất.
- Bao bì đóng gói sản phẩm.
* Chất thải xây dựng
Chất thải xây dựng là các phế thải như đất, đá, gạch ngói, bê tông vỡ do
các hoạt động phá dỡ, xây dựng công trình... Chất thải xây dựng bao gồm:
- Vật liệu xây dựng trong quá trình dỡ bỏ công trình xây dựng.
- Đất đá do việc đảo móng trong xây dựng.
- Các vật liệu như kim loại, chất dẻo [4, tr18-25].
8
giảm đáng kể. Bên cạnh đó, thành phố cũng sẽ giảm được gánh nặng chi phí
trong việc xử lý nước rỉ rác cũng như xử lý mùi [10, tr45-53].
* Lợi ích môi trường
Ngoài lợi ích kinh tế có thể tính toán được, việc phân loại chất thải rắn
tại nguồn còn mang lại nhiều lợi ích đối với môi trường. Khi giảm được khối
lượng chất thải rắn sinh hoạt phải chôn lấp, khối lượng nước rỉ rác sẽ giảm.
Nhờ đó, các tác động tiêu cực đến môi trường cũng sẽ giảm đáng kể như:
giảm rủi ro trong quá trình xử lý nước rỉ rác, giảm ô nhiễm nguồn nước ngầm,
nước mặt... Diện tích bãi chôn lấp thu hẹp sẽ góp phần hạn chế hiệu ứng nhà
kính do khí của bãi chôn lấp. Ở các bãi chôn lấp, các khí chính gây nên hiệu
ứng nhà kính gồm CH4, CO2, NH3. Việc tận dụng các chất thải rắn có thể tái
sinh tái chế giúp bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên. Thay vì khai thác tài
nguyên để sử dụng, chúng ta có thể sử dụng các sản phẩm tái sinh tái chế này
như một nguồn nguyên liệu thứ cấp [10, tr54-57].
* Lợi ích xã hội
Phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn góp phần nâng cao nhận thức
của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường. Để công tác phân loại này đạt
được hiệu quả như mong đợi, các ngành các cấp phải triệt để thực hiện công
tác tuyên truyền hướng dẫn cho cộng đồng. Lâu dần, mỗi người dân sẽ hiểu
được tầm quan trọng của việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt cũng như tác
động của nó đối với môi trường sống. Lợi ích xã hội lớn nhất do hoạt động
phân loại chất thải rắn tại nguồn mang lại chính là việc hình thành ở mỗi cá
nhân nhận thức bảo vệ môi trường sống [10, tr.60].
1.2.2.3. Khó khăn trong phân loại chất thải rắn sinh hoạt
Công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt lạc hậu, chủ yếu là chôn lấp; việc
phân loại, tái chế, tái sử dụng chất thải rắn sinh hoạt còn nhiều hạn chế; phí
thu gom, xử lý rác thải thấp... Vì vậy chưa có nhiều tổ chức, doanh nghiệp
11
- Độ ẩm cao, nhiệt trị thấp (900kcal/kg) [1, tr 29-32].
1.3. Những tác động của chất thải rắn sinh hoạt đến môi trường
1.3.1. Làm ô nhiễm môi trường đất
Các chất hữu cơ còn phân hủy được trong môi trường đất tương đối
nhanh chóng trong điều kiện yếm khí và háo khí, khi có độ ẩm thích hợp qua
hàng loạt sản phẩm trung gian cuối cùng tạo ra các khoang chất đơn giản như
nước, khí cacbonic. Nếu trong điều kiện yếm khí thì sản phẩm cuối cùng chủ
yếu là CH4, H2O, CO2 gây ngộ độc cho môi trường đất.
Khi thải ra môi trường một lượng chất thải rắn sinh hoạt quá nhiều làm
cho môi trường đất quá tải, không kịp làm sạch và tiêu hủy hết các chất thải sẽ
gây ra tình trạng ô nhiễm, sự ô nhiễm này sẽ cùng với ô nhiễm kim loại nặng,
chất độc hại theo nước trong đất chảy xuống mạch nước ngầm, làm ô nhiễm
nguồn nước ngầm và nước mặt trong đất [13, tr 47-48].
1.3.2. Làm ô nhiễm môi trường nước
Các loại chất thải rắn sinh hoạt nếu là rác hữu cơ, trong môi trường nước
sẽ được phân hủy một cách nhanh chóng. Phần nổi trên mặt nước sẽ có quá
trình khoáng hóa chất hữu cơ để tạo ra các sản phẩm trung gian, sau đó là
những sản phẩm cuối cùng là chất khoáng và nước.
Phần chìm trong nước sẽ có quá trình phân giải yếm khí để tạo ra các
hợp chất trung gian và sau đó là những sản phẩm cuối cùng như CH 4, H2S,
H2O, CO2. Tất cả các chất trung gian đều gây mùi thối và là độc nhất. Bên
cạnh đó còn có bao nhiêu là vi trùng và siêu vi trùng làm ô nhiễm nguồn
nước.
Các loại chất thải rắn sinh hoạt phân hủy tạo ra các yếu tố độc hại ngấm
dần vào trong đất và chảy xuống mạch nước ngầm, làm ô nhiễm nguồn nước
quan trọng này.
13
1.3.5. Chất thải rắn sinh hoạt làm giảm mỹ quan đô thị
Chất thải rắn sinh hoạt nếu không được thu gom, vận chuyển đến nơi xử
lý hoặc thu gom không hết, vận chuyển rơi vãi dọc đường, tồn tại các bãi rác
nhỏ lộ thiên… gây mất vệ sinh môi trường và làm ảnh hưởng đến vẻ mỹ quan
đường phố, thôn xóm.
Một nguyên nhân nữa làm giảm mỹ quan đô thị là do ý thức của người
dân chưa cao. Tình trạng người dân đổ rác bừa bãi ra lòng lề đường và mương
rãnh vẫn còn rất phổ biến, đặc biệt là ở khu vực nông thôn nơi mà công tác
quản lý và thu gom vẫn chưa được tiến hành chặt chẽ [6, tr 22].
1.4. Khái quát về quản lý chất thải
Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch quản
lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu
gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm
ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ
con người.
Tại khoản 13, Điều 3, Luật Bảo vệ Môi trường 2014 định nghĩa: Quản lý
chất thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom,
vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải.
Hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị là một cơ cấu tổ chức quản lý
chuyên trách về chất thải rắn sinh hoạt đô thị có vai trò kiểm soát các vấn đề
có liên quan đến chất thải rắn sinh hoạt liên quan đến vấn đề về quản lý hành
chính, tài chính, luật lệ, quy hoạch và kỹ thuật.
1.4.1. Các hoạt động quản lý chất thải rắn
Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm nhiều bước và các nội dung
công việc khác nhau, từ phân loại chất thải rắn, thu gom, lưu giữ, vận chuyển
và đem đi xử lý. Tất cả các công đoạn này đòi hỏi phải được tiến hành một
các yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh.
[16, tr 9 -10].
15
1.4.2. Nguyên tắc quản lý chất thải rắn sinh hoạt
Công tác quản lý chất thải rắn cần được thực hiện dựa trên những
nguyên tắc cơ bản như: Tổ chức, cá nhân xả thải hoặc có hoạt động làm phát
sinh chất thải rắn phải nộp phí cho việc thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải.
chất thải rắn sinh hoạt phải được phân loại tại nguồn phát sinh, được tái chế,
tái sử dụng, xử lý và thu hồi các thành phần có ích làm nguyên liệu và sản
xuất năng lượng. Đặc biệt, Nhà nước khuyến khích việc xã hội hoá công tác
thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt .
Việc quản lý chất thải phải tuân theo nguyên tắc chung về quản lý chất
thải được quy định tại Điều 4, Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của
Chính phủ quy định về quản lý chất thải và phế liệu. Cụ thể:
“1. Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tăng cường áp dụng các biện pháp
về tiết kiệm tài nguyên và năng lượng; sử dụng tài nguyên, năng lượng tái tạo
và sản phẩm, nguyên liệu, năng lượng sạch thân thiện với môi trường; sản
xuất sạch hơn; kiểm toán môi trường đối với chất thải và các biện pháp khác
để phòng ngừa, giảm thiểu phát sinh chất thải.
2. Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm phân loại chất thải tại nguồn nhằm mục
đích tăng cường tái sử dụng, tái chế, đồng xử lý, xử lý và thu hồi năng lượng.
3. Việc đầu tư xây dựng cơ sở xử lý chất thải phải tuân thủ theo quy định
pháp luật về xây dựng và pháp luật bảo vệ môi trường có liên quan.
4. Nước thải phải được thu gom, xử lý, tái sử dụng hoặc chuyển giao
cho đơn vị có chức năng-phù hợp để tái sử dụng hoặc xử lý đạt quy chuẩn kỹ
nước về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bố
chất ô nhiễm trong môi trường. Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể gồm các
đánh giá môi trường, giám sát môi trường, xử lý chất thải, tái chế và tái sử
dụng chất thải. Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể được thực hiện thành công
trong bất kỳ nền kinh tế phát triển như thế nào.
1.5. Pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt
1.5.1. Khái niệm pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt.
Biện pháp pháp lý là một trong những biện pháp quan trọng nhất trong
bảo vệ môi trường. Nó đảm bảo cho các hành vi, các mối quan hệ trong xã hội
phải tuân thủ pháp luật về môi trường và bảo vệ môi trường và
17
đảm bảo cho các quyền và nghĩa vụ của con người khi có quan hệ pháp luật
môi trường.
Luật môi trường là lĩnh vực pháp luật chuyên ngành bao gồm các quy
phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh các quan hệ phát sinh
giữa các chủ thể trong quá trình khai thác, sử dụng hoặc tác động đến một
hoặc một vài yếu tố của môi trường trên cơ sở kết hợp các phương pháp điều
chỉnh khác nhau nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả môi trường sống của con
người.
Khái niệm trên đây của luật môi trường cho thấy cần phải nhận thức rõ
một nguyên tắc cơ bản sau: Các quan hệ xã hội phát sinh thuộc phạm vi tác
động của luật môi trường phải gắn với việc bảo vệ môi trường sống của con
người. Điều này có nghĩa là không phải bất cứ sự tác động nào của các chủ
thể vào các yếu tố của môi trường cũng làm phát sinh quan hệ pháp luật môi
trường. Các vấn đề pháp luật môi trường chỉ nảy sinh khi nào sự tác động đó
gây tổn hại hoặc có nguy cơ gây tổn hạn đến môi trường.
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đô thị hoá ở nước ta đang diễn
điều chỉnh những mối quan hệ phát sinh trong các hoạt động quản lý chất
thải rắn sinh hoạt như: phân loại, thu gom, tái sử dụng trực tiếp, lưu giữ tạm
thời (đối với chất thải rắn sinh hoạt nguy hại), vận chuyển và xử lý chất thải
rắn sinh hoạt nhằm bảo vệ môi trường và sức khỏe con người.
1.5.2. Ý nghĩa và vai trò của pháp luật quản lý chất thải rắn sinh hoạt
Vai trò của pháp luật trong bảo vệ môi trường có vị trí đặc biệt quan
trọng. Môi trường bị hủy hoại chủ yếu do các hoạt động của con người trong
quá trình phát triển của chính mình. Do vậy, hơn bất kỳ biện pháp nào khác,
việc tác động, điều chỉnh các hành vi của con người sẽ là biện pháp có hiệu
quả nhất trong bảo vệ môi trường.
Ý nghĩa của pháp luật trong bảo vệ môi trường thể hiện qua những khía
cạnh sau:
19
- Pháp luật quy định các quy tắc xử sự mà con người phải thực hiện khi
khai thác và sử dụng các yếu tố của môi trường. Môi trường vừa là điều kiện
sống, vừa là đối tượng của sự tác động hàng ngày của con người. Sự tác động
của con người làm biến đổi rất nhiều tình trạng của môi trường theo chiều
hướng tiêu cực, làm suy thoái các yếu tố thành phần môi trường. Và trong một
mối quan hệ hữu cơ giữa con người và môi trường, con người sẽ phải chịu
những tác động bất lợi từ phía môi trường. Chính vì lý do đó, việc khai thác
có định hướng, có tính đến sự cân bằng của môi sinh có tác dụng rất lớn trong
bảo vệ môi trường.
- Pháp luật quy định các chế tài hình sự, hành chính, kinh tế để buộc các
cá nhân, tổ chức phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình với môi
trường. Việc đưa ra các tiêu chuẩn để định hướng các hành vi khai thác các
thành phần môi trường có ý nghĩa quan trọng.
- Pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức bảo
nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường, suy giảm chất lượng môi trường, đe
doạ tính mạng và sức khoẻ con người và sinh vật.
Điều 3, khoản 10, Luật Bảo vệ môi trường 2014 định nghĩa: Sự cố môi
trường là sự cố xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi
của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng.
Sự cố môi trường có thể xảy ra do:
- Bão, lũ lụt, hạn hán, nứt đất, động đất, trượt đất, sụt lở đất, núi lửa
phun, mưa axit, mưa đá, biến động khí hậu và thiên tai khác;
- Hỏa hoạn, cháy rừng, sự cố kỹ thuật gây nguy hại về môi trường của cơ
sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hoá, xã
hội, an ninh, quốc phòng;
- Sự cố trong tìm kiếm, thăm đò, khai thác và vận chuyển khoáng sản,
dầu khí, sập hầm lò, phụt dầu, tràn dầu, vỡ đường ống dẫn dầu, dẫn khí, đắm
tàu, sự cố tại cơ sở lọc hoá dầu và các cơ sở công nghiệp khác;
21