VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN MẠNH
BỒİ THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁİ ĐỊNH CƯ KHİ NHÀ NƯỚC THU HỒİ
ĐẤT THEO PHÁP LUẬT Ở VİỆT NAM HİỆN NAY TỪ THỰC TİỄN
THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NİNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN MẠNH
BỒİ THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁİ ĐỊNH CƯ KHİ NHÀ NƯỚC THU HỒİ
ĐẤT THEO PHÁP LUẬT Ở VİỆT NAM HİỆN NAY TỪ THỰC TİỄN
THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NİNH
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN ĐỨC MINH
HÀ NỘI, năm 2019
sống.
Hà Nội, ngày ..... tháng … năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Mạnh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ,
TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT ..................................... 7
1.1. Khái niệm bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất . 7
1.2. Lý do thu hồi đất và ý nghĩa của bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất.................................................................................... 14
1.3. Đặc điểm cơ bản của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất.................................................................................... 21
1.4. Các yêu cầu điều chỉnh pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ... 23
Kết luận chương 1 .................................................................................... 25
Chương 2 ........................................................................................................ 26
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH
CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT QUA THỰC TIỄN THỰC HIỆN
Ở THỊ XÃ QUẢNG YÊN ............................................................................. 26
2.1.Thực trạng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất .................................................................................................... 26
2.2.Thực trạng thực hiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất qua thực tiễn của thị xã Quảng Yên ......................... 32
Kết luận chương 2 ........................................................................................ 51
Chương 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ
NƯỚC THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN CỦA THỊ XÃ QUẢNG YÊN 52
Người sử dụng đất
PCI:
Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ( viết tắt của Provincial
Competitiveness Index)
QĐ:
Quyết định
QSDĐ:
Quyền sử dụng đất
UBND:
Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Bảng phân biệt giữa bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất với bồi
thường khác trong quá trình sử dụng đất của người sử dụng đất
Bảng 2. Sự thay đổi về chính sách bồi thường, hỗ trợ tại tỉnh Quảng Ninh từ
năm 2014 cho đến nay
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Để nước ta nhanh chóng hòa nhập với tốc độ phát triển kinh tế của thế
Thông qua Báo cáo số 82/UBND-TM2 ngày 19 tháng 4 năm 2019 của
UBND tỉnh Quảng Ninh về kết quả triển khai thực hiện cải thiện môi trường
đầu tư kinh doanh theo Nghị quyết 19/NQ -CP và nâng cao năng lực cạnh tranh
PCI Quảng Ninh năm 2018, phương hướng và nhiệm vụ giải quyết năm 2019 có
nội dung “Tập trung tối đa nguồn lực ưu tiên cho đầu tư phát triển, đặc biệt là
đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng, giao thông, điện, phát triển đô thị, xây dựng
nông thôn mới, thiết chế sản phẩm du lịch đẳng cấp quốc tế. Quảng Ninh đã
mạnh dạn áp dụng các mô hình, phương thức trong thu hút đầu tư các dự án hạ
tầng giao thông trọng điểm như: Cầu Bạch Đăng, đường cao tốc Hạ Long - Hải
Phòng, đường cao tốc Hạ Long - Vân Đồn, Cảng hàng không quốc tế Vân
Đồn...” .Tuy nhiên, như đã nói, vấn đề bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi
đất để thực hiện các dự án đầu tư là vấn đề vô cùng phức tạp và nhạy cảm bởi
nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các chủ thể có liên quan và vấn đề xung
đột về lợi ích chắc chắn sẽ xảy ra. Bởi vậy, ở đâu có dự án thu hồi đất thì ở đó
có khiếu kiện, khiếu nại về việc thu hồi đất, về các chính sách bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư và các vấn đề về chính trị, xã hội khác. Đứng trước thực trạng
này, tác giả nhận thấy việc nghiên cứu đề tài “Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất theo pháp luật ở Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thị
xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh” là vô cùng cần thiết.
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Thời gian gần đây các vấn đề xoay quanh chủ đề thu hồi đất, bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư đã nhận được sự quan tâm của rất nhiều chủ thể và thường
xuyên được cập nhật trên các thông tin đại chúng, các phương thức truyền tin
điện tử...và cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả khác
nhau về đề tài liên quan đến vấn đề thu hồi đất như:
Hoàng Thị Nga “Pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt
bằng ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và giải pháp”, Luận văn Thạc sĩ năm
2
Nhà nước thu hồi đất theo pháp luật ở Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thị xã
Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài nhằm phân tích, đánh giá thực trạng quy định
pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo
pháp luật ở Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.
Qua đó cho thấy những bất cập và nguyên nhân, làm rõ những vấn đề lý luận và
thực tiễn đang đặt ra.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ cơ sở pháp lý của bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất theo Điều 74 và Điều 83 LĐĐ năm 2013;
- Phân tích, đánh giá và luận giải thực trạng pháp luật về bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật đất đai năm
2013 và Quyết định số 3000/2017/QĐ-UBND ngày 02/8/2017 của UBND Tỉnh
Quảng Ninh về việc ban hành Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thị xã Quảng Yên từ đó, chỉ ra những yếu
kém, khó khăn, bất cập.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ
trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của LĐĐ năm 2013 và
từ thực tiễn thị xã Quảng Yên.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Tập trung nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật thực định về bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Tuy nhiên, không thể bỏ
qua các quy định về các trường hợp Nhà nước thu hồi đất. Trong đó, nghiên
cứu, đánh giá, phân tích thực trạng về pháp luật bồi thường, hỗ trợ và tái định
- Đề tài rút ra những vấn đề còn tồn tại trong thực tiễn khi thực hiện
chính sách bồi thường GPMB để từ đó hạn chế tối đa được những sai sót tương
tự ở những dự án được thực hiện trong tương lai đồng thời góp phần vào việc
5
hoàn thiện các chính sách về bồi thường GPMB khi Nhà nước thu hồi đất trên
địa bàn thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh mà vẫn đảm bảo các quy định của
pháp luật.
- Căn cứ từ thực tiễn thị xã Quảng Yên, góp phần xây dựng luận cứ khoa
học để tỉnh Quảng Ninh đưa ra những quyết sách đảm bảo cho pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được thực hiện đầy đủ,
nghiêm chỉnh.
- Ngoài ra, thông qua thực trạng tại thị xã Quảng Yên được thể hiện bằng
những số liệu thực tế và giải pháp mà tác giả đã đề xuất mang lại ý nghĩa thiết thực
góp phần giúp các cơ quan chức năng nhận thấy những bất cập và đưa ra định
hướng trong việc sửa đổi, bổ sung LĐĐ trong bối cảnh LĐĐ năm 2013 cho phù
hợp với yêu cầu thực tiễn của đất nước.
7. Cơ cấu của Luận văn
Tác giả bố cục luận văn gồm các phần sau: Mục lục; Danh mục các chữ
viết tắt; Danh mục các bảng biểu; Mở đầu; chương 1; chương 2; chương 3; kết
luận; Danh mục tài liệu tham khảo.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất qua thực tiễn thực hiện tại thị xã Quảng Yên.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn thực hiện tại
Thị xã Quảng Yên.
dụng thuật ngữ “ Bồi thường” vì đền bù chỉ dừng ở việc bù lại những giá trị thực tế
7
bị mất đi của người bị thu hồi đất như giá trị quyền sử dụng đất, giá trị tài sản gắn
liền trên đất trong khi đó hậu quả của việc thu hồi đất không chỉ dừng lại ở những
thiệt hại như đền bù mà nó còn bao gồm các thiệt hại phi vật chất như tổn thất về
tinh thần, thiệt hại do mất công việc ổn định, thiệt hại do giảm, hoặc mất thu nhập,
thiệt hại do phải di chuyển chỗ ở. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất của người
bị thu hồi đất thì Nhà nước cần phải tính đến những thiệt hại này để bồi thường
cho người bị thu hồi đất. Trong pháp luật dân sự, bồi thường thiệt hại do vi phạm
hợp đồng hay bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có nhiều điểm khác nhau cơ bản
so với bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất: Nhà nước thu hồi đất mặc dù có gây
thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp cho người bị thu hồi đất nhưng những thiệt hại
những hành vi thu hồi đất này lại được pháp luật cho phép, hầu hết những thiệt hại
do thu hồi đất có thể nhìn thấy trước và được tính toán theo công thức nhất định.
Còn bồi thường thiệt hại trong dân sự bắt buộc phải đảm bảo các yếu tố sau: Có lỗi
của bên gây thiệt hại, lỗi này được coi là hành vi vi phạm pháp luật, không được
pháp luật cho phép, có thiệt hại thực tế xảy ra, thiệt hại có mối quan hệ nhân quả
với hành vi có lỗi. Có thể hiểu, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là trường hợp
bồi thường đặc biệt, và khi pháp luật sử dụng thuật ngữ “Bồi thường” thay cho
thuật ngữ “ Đền bù” còn nhằm mục đích tính đến các khoản hỗ trợ khác cho người
bị thu hồi đất.
Phân biệt giữa bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất với bồi thường
khác trong quá trình sử dụng đất của người sử dụng đất.
Theo khoản 12 Điều 3 LĐĐ năm 2013 quy định về bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện
tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất. Như vậy, giải thích trên chỉ rõ khi
Nhà nước thu hồi đất thì Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất (gọi là bồi
thường) cho người bị thu hồi đất thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất, nhưng
Bộ luật Dân sự năm 2015 và các văn
bản hướng dẫn thi hành.
Chủ thế - Nhà nước , chủ đầu tư
Nhà nước , chủ đầu tư, cá nhân, tổ
chịu
+ Nhà nước bồi thường khi chức khác
trách
Nhà nước chính là chủ đầu Nhà nước có trách nhiệm bồi thường
nhiệm
tư
bồi
+ Chủ đầu tư khác là người hợp người thi hành công vụ gây ra:
thường
bồi thường khi chủ đầu tư ví dụ: trường hợp cấp GCN sai đối
cho người bị thiệt hại trong trường
thực hiện những dự án tượng, hay trong quá trình thi công
được bồi chức cá nhân khác có liên tổ chức... bị thiệt hại trong quá trình
thường
quan đến việc bồi thường sử dụng đất.
khi Nhà nước thu hồi đất.
Xác định Nhà nước, chủ đầu tư Phải có yếu tố lỗi trong việc gây ra
yếu tố lỗi không có lỗi gây ra thiệt thiệt hại của người có trách nhiệm
bồi thường, lỗi được pháp luật quy
hại.
định hoặc thỏa thuận giữa các bên
(nếu có).
Xác định Thiệt hại xác định được cụ Phải có thiệt hại thực tế xảy ra, được
thiệt hại
thể và thiệt hại không xác xác định cụ, thiệt hại phải do lỗi
định được cụ thể.
(hành vi vi phạm pháp luật của một
Chẳng hạn trường hợp bồi trong các bên), có mối quan hệ nhân
thường chi phí đầu tư vào quả giữa hành vi vi phạm pháp luật
đất còn lại nếu không có và thiệt hại.
giấy tờ chứng minh, thì
được bồi thường 30% giá trị
đất.
10
11
Theo tác giả, hai khoản hỗ trợ này lẽ ra phải được coi là khoản bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất bởi nó là thiệt hại có thể thấy được, có thể xảy ra thực tế
do việc thu hồi đất của Nhà nước.
Pháp luật quy định phương thức thực hiện các khoản hỗ trợ này như sau:
Đối với hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất được hỗ trợ bằng tiền hoặc bằng
gạo, đối với hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm được thực
hiện bằng tiền và bằng cách Nhà nước có trách nhiệm đào tạo công việc mới
phù hợp cho người bị thu hồi đất. Tuy nhiên, trên thực tế, chủ yếu áp dụng
phương thức hỗ trợ bằng tiền, xét ở khía cạnh nào đó, không phải mọi trường
hợp hỗ trợ bằng tiền cho người bị thu hồi đất đều mang lại lợi ích cho người bị
thu hồi đất, như đối với với hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc
làm. Mục đích của chính sách hỗ trợ này nhằm đảm bảo tính ổn định của cuộc
sống sau thu hồi đất của người bị thu hồi, bởi người bị thu hồi đất được đào tạo,
được chuyển đổi nghề hoặc tự tìm kiếm việc làm phù hợp, tạo thu nhập thường
xuyên. Nhưng hiện nay, hầu hết ở các địa phương, sau khi tính giá trị các khoản
hỗ trợ được quy ra số tiền tương ứng và trả cho người bị thu hồi đất, còn sau đó
các vấn đề về công việc, về ổn định nghề nghiệp của người bị thu hồi đất không
được quan tâm, do đó ý nghĩa thực tế của chính sách hỗ trợ không đạt được.
So sánh bồi thường với hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất:
Mặc dù đều là chính sách áp dụng của Nhà nước đối với trường hợp Nhà
nước thu hồi đất nhưng giữa bồi thường và hỗ trợ có sự khác nhau: Bồi thường
là khái niệm xuất phát từ ngành luật dân sự mang tính tương xứng với các
nguyên tắc: chủ thể nào gây thiệt hại, chủ thể đó phải bồi thường; thiệt hại đến
đâu, bồi thường đến đó. Trong khi đó, khái niệm hỗ trợ là chính sách “giúp đỡ”,
của Nhà nước đối với người bị thu hồi đất nhưng giữa bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất với hỗ trợ thu hồi đất có quan hệ mật thiết với nhau.
gồm: bằng nhà ở, bằng đất ở hoặc bằng tiền.
Do đó, ta có thể hiểu về tái định cư như sau: tái định cư là trách nhiệm
của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc lập và thực hiện các dự án
mới về nhà ở, đất ở với điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi cũ cho người
bị thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở, đồng thời giúp người bị thu hồi đất nhanh
13
chóng ổn định đời sống và sản xuất. Gần như các điều kiện về tái định cư của
thị xã quảng yên cũng như các địa phương khác đều không đảm bảo được
những điều kiện theo quy định của pháp luật, việc tái định cư không chỉ là đưa
người dân đến nơi ở mới, mà về bản chất tái định cư phải đảm bảo những điều
kiện sống tốt nhất hoặc ít nhất cũng bằng nơi ở cũ cho người bị thu hồi đất. Tái
định cư việc người bị thu hồi đất di chuyển khỏi nơi ở cũ đến nơi ở mới, như
vậy từ “Tái” tức là trả lại cho người bị thu hồi đất những điều kiện tương tự như
nơi ở cũ, cụm từ “ Định cư” tức là nơi ở nơi ở cố định. Chẳng hạn, nơi ở cũ của
người dân có điều kiện thuận lợi về giao thông, gần các trung tâm thương mai,
gần các địa điểm như chợ, trường, trạm, trung tâm y tế và thuận lơi cho công
việc kinh doanh, gần nơi làm việc thì nơi ở mới hay nơi tái định cư cũng phải
đảm bảo những yếu tố tương tự như nơi ở cũ. Nhưng trên thực tế, gần như
không có khu tái định cư nào đảm bảo các yêu cầu do pháp luật quy định, bởi
những nơi như vậy thì không còn quỹ đất để quy hoạch tái định cư hoặc nếu còn
thì chi phí tái định cư cũng không rẻ (trên thực tế ở địa phương khi triển khai
một dự án nào đó, thì việc bố trí khu đất tái định cư là rất khó khăn). Người bị
thu hồi đất, do không có nhu cầu hoặc do nhận thức còn hạn chế nên thường
chọn cách nhận hỗ trợ tái định cư bằng tiền và điều này cũng được Nhà nước
khuyến khích. Đó chỉ mang lại lợi ích trước mắt nhưng về lâu dài nó sẽ ảnh
hưởng đến tình hình ổn định xã hội do người bị thu hồi đất không tìm kiếm
được nơi tái định cư phù hợp, giá đất tăng cao không đủ khả năng mua hoặc do
sử dụng hết số tiền bồi thường, hỗ trợ và dẫn đến tình cảnh không có nhà để ở.
sự ổn định về mọi mặt của một quốc gia, như tại Venezuela đây là quốc gia mà
ngành công nghiệp dầu mỏ được coi là huyết mạch khi khủng khoảng dầu mỏ
xảy ra đã khiến tình trạng kinh tế quốc gia này bị trì trệ theo đó đã dẫn đến một
loạt các hậu quả như bất ổn về chính trị, liên tiếp có các cuộc đảo chính, kinh tế
bị khủng hoảng nghiêm trọng.
Nhà nước luôn có những biện pháp phát triển kinh tế phù hợp với từng
giai đoạn phát triển. Việc thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội mang đến
1
Điều 61 Luật Đâí đai năm 2013
15
nhiều lợi ích cho quốc gia. Trước hết là thể hiện được quyền đại diện quyền sở
hữu đất đai, giúp Nhà nước thực hiện quy hoạch sử dụng đất nhằm làm tăng tối
đa hiệu quả sử dụng của từng loại đất. Bên cạnh đó tạo điều kiện cho nhà đầu tư
tham gia thực hiện các dự án có sử dụng đất, từ đó kích thích nền kinh tế phát
triển.
Để đảm bảo được việc thu hồi đất phục vụ cho mục đích phát triển kinh
tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Nhà nước giới hạn các trường hợp thu
hồi đất sau đây:
- Thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ
trương đầu tư mà phải thu hồi đất;
-Thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định
đầu tư mà phải thu hồi đất, bao gồm:
Dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu
kinh tế; khu đô thị mới, dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính
thức (ODA);
Dự án xây dựng trụ sở cơ quan Nhà nước , tổ chức chính trị, tổ chức
khoáng sản2.
Thứ ba, thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai điều này thể hiện rõ
quyền quản lý về đất đai của Nhà nước , Nhà nước có quyền giao, cho thuê thì
Nhà nước cũng có quyền thu hồi đất nếu người sử dụng đất vi phạm vào các
trường hợp bị thu hồi. Những hành vi vi phạm pháp luật về đất đai được Nhà
nước quy định cụ thể góp phần công khai, minh bạch quá trình quản lý đất đai
của Nhà nước, loại bỏ các trường hợp tùy nghi thu hồi đất, đồng thời mang ý
nghĩa tích cực để các chủ sử dụng đất một cách hiệu quả và tôn trọng pháp luật.
Để xác định trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai phải căn cứ vào văn bản,
quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm
pháp luật về đất đai. Trên thực tế, mặc dù nhiều trường hợp người sử dụng đất
có hành vi vi phạm nhưng hành vi này chỉ được xác định thuộc trường hợp bị
thu hồi đất khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
2
Điều 62 Luật Đâí đai năm 2013
17
Các trường hợp thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai bao gồm: Sử
dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận
quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất
không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm; NSDĐ cố ý hủy hoại đất; Đất được
giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền; Đất không
được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật này mà nhận chuyển
nhượng, nhận tặng cho; Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn,
chiếm; Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này
mà NSDĐ do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm; NSDĐ không thực hiện nghĩa