VỊ TRÍ, VAI TRÒ, NHIỆM VỤ VÀ QUYỀN HẠN CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
THEO HIẾN PHÁP 2013 VÀ LUẬT TỔ CHỨC QUỐC HỘI
1. Vị trí của đại biểu quốc hội:
Theo điều 79 HP 2013 và điều 21 luật tổ chức QH, Ðại biểu Quốc hội là người
được nhân dân trực tiếp bầu ra, là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân
dân, thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước trong Quốc hội, đồng thời là đại
biểu cấu thành cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Đại biểu quốc hội không chỉ đại
diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử cho mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước.
Có thể thấy, đại biểu quốc hội là cầu nối quan trọng giữa chính quyền nhà nước với
nhân dân. Vị trí pháp lý của đại biểu Quốc hội được bắt đầu sau khi Quốc hội đã xác
nhận tư cách đại biểu tại phiên họp đầu tiên của kỳ thứ nhất mỗi khóa Quốc hội. Trong
số các đại biểu Quốc hội có những đại biểu làm việc theo chế độ chuyên trách và có
những đại biểu làm việc theo chế độ không chuyên trách.
2. Vai trò của đại biểu quốc hội:
Đại biểu QH là chủ thể đóng vai trò trung tâm, hạt nhân trong tổ chức và hoạt
động của QH cũng như các cơ quan của QH. Thiếu đại biểu QH thì sẽ không có QH
cũng như các cơ quan của QH. Bất kể các hoạt động của Quốc hội và các cơ quan của
QH dưới hình thức nào, dưới danh nghĩa chủ thể nào thì cũng đều do các đại biểu QH
tiến hành. Chỉ khi các đại biểu QH mạnh thì QH và các cơ quan của QH mới vững
mạnh. Hay nói cách khác, chất lượng hiệu quả hoạt động của các đại biểu QH chi phối
và quyết định chất lượng hoạt động của Qh và các cơ quan QH. Từ vai trò của QH,
chúng ta có thể nhận rõ vai trò của các đại biểu QH.
Đại biểu QH là những người “đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân”
trong QH, vừa giữa vai trò “cầu nối” giữa nhân dân và QH của Đại biểu QH, vừa giữa
vai trò “đại biểu”-người tiêu biểu. Họ không chỉ là người phản ánh chó ý chí, nguyện
vọng của nhân dân mà còn là hiện thân tiêu biểu cho ý chí và nguyện vọng ấy. Từ đó
mà thể hiện một cách chân thực và tâm huyết nhất ý chí và nguyện vọng của nhân dân
đơn vị bẩu cử ra mình nói riêng, nhân dân cả nước nói chung, luôn phải đứng trên lợi
ích chung của nhân dân cả nước để quyết định một vấn đề nào đó thuộc nhiệm vụ và
Thứ ba, đại biểu QH có chức năng giám sát thể hiện thông qua các hoạt động
chất vấn trong những chương trình kì họp của quốc hội, giám sát hoạt động của các cơ
quan nhà nước bằng cách gặp gỡ hoặc yêu cầu các cơ quan đó phải cung cấp tình hình
và những tài liệu cần thiết liên quan đến hoạt động của địa biểu, tham dự các kì họp
của hội đồng nhân dân nhằm mục đích nắm tình hình và tìm hiểu nguyện vọng của
nhân dân địa phương…
Ba chức năng cơ bản của đại biểu quốc hội có mối liên hệ chặt chẽ với nhau.
Thứ nhất, Chức năng giám sát của ĐB Quốc hội có quan hệ với chức năng lập
pháp của đại biểu quốc hội vì cùng một xuất phát điểm là địa vị pháp lý của đại biểu
Quốc hội. Mục đích của hoạt động giám sát suy cho cùng, chính là để khẳng định tính
hợp lý, khả thi của hoạt động lập pháp, phát hiện những bất cập trong điều chỉnh pháp
luật để từ đó, làm tốt hơn chức năng lập pháp. Như vậy, có thể thấy, chức năng lập
pháp là cơ sở, tiền đề để ĐB Quốc hội thực hiện chức năng giám sát và hiệu quả của
hoạt động giám sát của ĐB Quốc hội tác động trực tiếp đến hiệu quả và tính khả thi
của các đạo luật do Quốc hội ban hành.
Thứ hai, chức năng giám sát của ĐBQH có quan hệ chặt chẽ với chức năng đại
diện của ĐBQH. Đại biểu Quốc hội không hoạt động nhân danh cá nhân, nhân danh cơ
quan, tổ chức nơi đại biểu Quốc hội đang công tác mà phải là nhân danh người cán bộ
dân cử - người đại diện cho toàn thể nhân dân. Cụ thể, vai trò đại diện của đại biểu
Quốc hội có quan hệ chặt chẽ với giám sát. Đại biểu Quốc hội căn cứ vào ý kiến của
cử tri thông qua các cuộc tiếp xúc cử tri, qua phương tiện thông tin đại chúng, qua các
đơn khiếu nại, tố cáo gửi đại biểu Quốc hội và các nguồn khác để tiến hành các hoạt
động chất vấn, xét báo cáo, giám sát văn bản, giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố
cáo, kiến nghị bỏ phiếu tín nhiệm, kiến nghị thành lập ủy ban lâm thời. đại biểu Quốc
hội không lấy ý kiến riêng của mình để chất vấn mà phải đưa những vấn đề cử tri bức
xúc và thực tiễn hoạt động của bộ máy nhà nước đang đặt ra vấn đề cần phải xác định
trách nhiệm của cơ quan hay người đứng đầu cơ quan đó. Việc xác định trách nhiệm
chính trị hay trách nhiệm pháp lý thông qua hoạt động giám sát lúc đó không còn là
yêu cầu của cá nhân một ai, lợi ích của một nhóm người mà phải là yêu cầu của đông
đảo nhân dân, cử tri mà các đại biểu Quốc hội đang thay họ thực đảm nhiệm chức
cử tri, tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý
kiến, kiến nghị của chử tri với Quốc hội và cơ quan nhà nước hữu quan; phải báo
cáo trước cử tri mỗi năm ít nhất một lần về việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu của
mình;
- Gương mẫu trong việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật, có cuộc sống lành mạnh
và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân, góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân;
- Có nhiệm vụ tuyên truyền , phổ biến pháp luật, động viên nhân dân chấp hành
pháp luật và tham gia quản lý nhà nước;
- Có nhiệm vụ tham gia các phiên họp toàn thể của Quốc hội, các cuộc họp của tổ
đại biểu Quốc hội, của Đoàn đại biểu Quốc hội; thảo luận và biểu quyết các vấn dề
thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội;
- Có quyền trình dự án luật, kiến nghị về luật ra trước Quốc hội, dự án pháp lệnh
ra trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội theo trình tự và thủ tục do Luật Ban hành
văn bản quy phạm pháp luật quy định;
- Có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và
các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện
trưởng Viện kiểm soát nhân dân tối cao. người bi chất vấn có trách nhiệm trả lời
về những vấn đề mà dại biểu Quốc hội chất vấn. Nếu đại biểu Quốc hội không
đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Chủ tịch Quốc hội đưa ra thảo
luận trước Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
- Có quyền kiến nghị với Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét trình Quốc hội việc
bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc
phê chuẩn;
- Có trách nhiệm tiếp công dân. Khi nhận được kiến nghị, khiếu nại tố cáo của
công dân, đại biểu Quốc hội có trách nhiệm nghiên cứu, kịp thời chuyển đến
người có thẩm quyền giải quyết và thông báo cho người kiến nghị, khiếu nại, tố
cáo biết; đôn đốc và theo dõi việc giải quyết. Người có thẩm quyền giải quyết
Quốc
hội
mà
mình
là
thành
viên;
- Đại biểu Quốc hội hoạt động không chuyên trách được dành ít nhất một phần ba thời
gian làm việc để thực hiện nhiệm vụ đại biểu. Cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi đại biểu
làm việc có trách nhiệm tạo điều kiện dể đại biểu thực hiện nhiệm vụ.
5. Quyền hạn
- Quyền trình dự án luật
Quốc hội có trình kiến nghị về luật, pháp lệnh; trình dự án luật, pháp lệnh theo
trình tự do pháp luật quy định.
- Quyền chất vấn
Ðại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ
tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối
cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Cơ quan và cá nhân bị chất vấn có
nghĩa vụ trả lời chất vấn.
Trong thời gian giữa hai kỳ họp, chất vấn được gửi đến Uỷ ban thường vụ Quốc
hội để chuyển đến cơ quan hoặc người bị chất vấn và quyết định thời hạn trả lời chất
vấn. Tuỳ theo nội dung và tính chất của chất vấn, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có thể
quyết định người bị chất vấn phải trả lời chất vấn trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
- Quyền bất khả xâm phạm
Ðại biểu Quốc hội được pháp luật bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể.
Những hành vi cản trở đại biểu Quốc hội thực hiện nhiệm vụ sẽ bị xử lý theo pháp
luật.
Ðại biểu Quốc hội không thể bị cơ quan, đơn vị nơi đại biểu làm việc cách chức,