TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
LƯƠNG THỊ MAI
TÍNH CHẤT ĐẠO LÝ
TRONG THƠ NGUYỄN BỈNH KHIÊM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
HÀ NỘI – 2016
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
LƯƠNG THỊ MAI
TÍNH CHẤT ĐẠO LÝ
TRONG THƠ NGUYỄN BỈNH KHIÊM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học
TS. NGUYỄN THỊ TÍNH
HÀ NỘI – 2016
LỜI CẢM ƠN
4. Nhiệm vụ nghiên cứu................................................................................. 4
5. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu........................................... 4
6. Phương pháp nghiên cứu ........................................................................... 4
7. Đóng góp của khóa luận ............................................................................ 5
8. Bố cục của khóa luận ................................................................................. 5
CHƯƠNG 1
GIỚI THUYẾT VỀ CẢM HỨNG ĐẠO LÝ VÀ TIỀN ĐỀ CỦA CẢM
HỨNG ĐẠO LÝ TRONG THƠ NGUYỄN BỈNH KHIÊM ............................ 6
1.1 Giới thuyết về cảm hứng đạo lý............................................................... 6
1.2 Tiền đề của cảm hứng đạo lý trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm................. 8
1.2.1 Hoàn cảnh lịch sử thế kỷ XVI............................................................... 8
1.2.1.1 Tình hình xã hội............................................................................. 8
1.2.1.2 Tình hình kinh tế............................................................................ 9
1.2.1.3 Tình hình văn hóa tưởng............................................................... 10
1.2.2 Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm ............................... 11
1.2.2.1 Cuộc đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm............................................... 11
1.2.2.2 Sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm ............................................. 14
CHƯƠNG 2
ĐẠO LÝ TRONG THƠ NGUYỄN BỈNH KHIÊM....................................... 16
2.1 Sự suy đồi đạo lý................................................................................... 16
2.1.1 Sự suy loạn của đạo lý theo tư tưởng Nho giáo.................................. 16
2.1.2 Sự suy loạn của đạo lý theo truyền thống dân tộc .............................. 25
2.2 Khát vọng giới thuyết và răn dạy đạo lý............................................... 29
2.3 Lý tưởng sống nhàn để giữ gìn phẩm giá .............................................. 34
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................
thơ văn của ông đã được các môn sinh của ông thực hiện ở ngay thế kỉ XVI,
thế kỷ XVIII thì có Vũ Khâm Lân, Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích. Đến thế kỷ
XIX, Phan Huy Chú đã ghi chép và chú giải công phu trong các công trình
khảo cứu của ông. Trải qua hàng trăm năm, công việc này vẫn được các thế
hệ đi sau tiếp tục và có những thành tựu nhất định. Qua tìm hiểu tôi thấy có
một số bài viết liên quan đến đề tài Nguyễn Bỉnh Khiêm nói chung và tính
chất đạo lý trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm nói riêng:
Năm 1945, Chu Thiên đã cho ra đời quyển cuốn sách Tuyết Giang phu
tử, đây được coi là tác phẩm đầu tiên nghiên cứu một cách công phu và khá tỉ
mỉ mọi mặt trong cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm như: hoàn
cảnh, xã hội, thân thế và đời sống của Trạng Trình, giá trị nội dung và nghệ
thuật trong sáng tác của ông, cũng như những giai thoại của nhà thơ.
Năm 1957, Lê Trọng Khánh và Lê Anh Trà đã cho ra đời 1 tập chuyên
luận có chiều sâu: Nguyễn Bỉnh Khiêm- Nhà thơ triết lý (nhà xuất bản Văn
hóa), đây là một công trình nghiên cứu dài hơi và có nhiều ý tưởng mới. Cuốn
sách đã đề cập một cách sâu sắc đến nhiều vấn đề cốt yếu trong tư tưởng và
nghệ thuật của Nguyễn Bỉnh Khiêm bằng một cái nhìn toàn diện và không bị
ràng buộc trong những quan điểm cứng nhắc mà các công trình khác thường
vấp phải.
Và một trong những chuyên gia hàng đầu về Nguyễn Bỉnh Khiêm, phải
kể đến Bùi Văn Nguyên ông là tác giả của những chương viết về Nguyễn
Bỉnh Khiêm trong các bộ giáo trình lịch sử văn học Việt Nam trung đại, bên
cạnh đó ông cũng công bố nhiều công trình riêng về tác giả này. Đặc biệt là
công trình: văn chương Nguyễn Bỉnh Khiêm, đó có thể xem là sự kết tinh của
người viết trong nhiều năm nghiền ngẫm về Nguyễn Bỉnh Khiêm- nhà thơ lớn
của dân tộc.
2
Bài viết: Nguyễn Bỉnh Khiêm- cây đại thụ văn hóa dân tộc thế kỷ XVI
- Đề tài cho thấy cái nhìn cụ thể về tính chất đạo lý trong thơ Nguyễn
Bỉnh Khiêm.
- Giúp cho người đọc tiếp cận dễ dàng hơn thơ của Nguyễn Bỉnh
Khiêm dưới góc độ đạo lý.
- Giúp cho việc nghiên cứu các tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm
trong nhà trường phổ thông trên tinh thần đạo lý có hiệu quả hơn.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, khóa luận phải giải quyết một số nhiệm vụ
cơ bản sau:
- Tìm hiểu chung về cảm hứng đạo lý, tiền đề của cảm hứng đạo lý
trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm
- Phân tích những khía cạnh xung quanh vấn đề đạolý (nỗi đau về sự
suy đồi đạo lý; khát vọng giới thuyết răn dạy đạo lý; lý tưởng sống nhàn để
giữ gìn phẩm giá) trong các bài thơ chữ Hán và chữ Nôm
- Phân tích được các tác phẩm của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong nhà trường phổ
thông trên tinh thần đạo lý.
5. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là các bài thơ ( cả chữ Nôm và chữ Hán) của
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được in đăng và thừa nhận có liên quan đến đề tài.
Phạm vi nghiên cứu: Chỉ nghiên cứu một mặt nội dung thơ văn Nguyễn
Bỉnh Khiêm đó là tính chất đạo lý (bao gồm nỗi đau về sự suy đồi đạo lý, khát
vọng giới thuyết răn dạy đạo lý và lý tưởng sống nhàn để giữ gìn phẩm giá).
6. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống
- Phương pháp so sánh
- Phân tích, đánh giá, tổng hợp
4
trống, hứng như chày và dùi. Hai thứ đó gõ, đánh vào chuông trống khiến
chúng phát ra tiếng ; hứng đến khiến người ta bật ra thơ cũng tương tự như
vậy”, [16;210].
Theo Dẫn luận nghiên cứu văn học của Pespelov:
Cảm hứng (nói chung) là sự lý giải đánh giá sâu sắc và chân thực- lịch
sử đối với các vấn đề được miêu tả được nảy sinh từ ý nghĩa khách quan của
các tính cách, vấn đề của cuộc sống (Pespelov)
Pospelov cũng chỉ rõ: Từ cảm hứng được dùng để chỉ trạng thái cao độ
của nhà văn do việc chiếm lĩnh được bản chất của cuộc sống mà họ miêu tả.
Tác giả còn chia cảm hứng ra thành nhiều loại: anh hùng, kịch tính, bi kịch,
châm biếm, hài hước, thương cảm, lãng mạn. Song ông còn nói thêm: cảm
hứng trong tác phẩm văn học cũng bộc lộ một số biến thể. Điều đó có nghĩa là
6
trong tác phẩm văn học có sự giao thoa và đan xen của một vài hoặc nhiều
cảm hứng khác nhau tạo nên giọng điệu riêng phong phú cho tác phẩm.
Như vậy cả hai quan niệm trên đều thống nhất ở chỗ: Cảm hứng là
trạng thái tâm lý đặc biệt của người nghệ sĩ khi sức chú ý được tập trung cao
độ để đánh giá sâu sắc và chân thực- lịch sử đối với các vấn đề hiện thực của
khách quan được miêu tả.
Cảm hứng là cái quan trọng quy định nhà văn trong việc tạo ra tác
phẩm. Hiện thực khách quan chỉ đi vào tác phẩm khi người nghệ sĩ nắm bắt
chính xác sâu sắc hiện thực và cảm hứng sáng tạo. Cảm hứng ở mỗi nhà văn
khác nhau. Ở cùng một tác phẩm loại cảm hứng này cũng bộc lộ sự không
giống nhau. Đó là những biến thể của cảm hứng chung này.
Cảm hứng có thể chia ra làm nhiều loại: cảm hứng yêu nước, cảm hứng
nhân đạo… Mỗi thời đại có một cảm hứng riêng. Nhưng có thể nói cảm hứng
đạo lý là cảm hứng mà thời đại lịch sử nào cũng có, nền văn học nào cũng có
từ văn học dân gian, văn học trung đại cho đến văn học hiện đại.
nước Lê Sơ ngày càng suy yếu và đi đến tan rã.
Nhân cơ hội triều đình đang rối ren đối phó với các cuộc khởi nghĩa,
Mạc Đăng Dung – một võ quan nhà Lê lợi dụng leo lên chức tể tướng, đưa
dòng họ Mạc nắm giữ những chức vụ quan trọng. Cuối cùng, giết Lê Chiêu
Tông (1526), bắt hoàng đế nhường ngôi cho mình vào năm 1527, kết thúc 100
năm thống trị của nhà nước Lê Sơ.
Dưới thời nhà Mạc thống trị, các công thần của triều Lê Sơ không
ủng hộ. Nhiều nhà nho, sĩ phu khoa bảng cho rằng tôi trung không thờ hai
chúa (trung thần bất sự nhị quân). Họ phản đối nhà Mạc trong một thế chêng
vênh nên tìm cách hòa hoãn với nhà Minh bên Trung Quốc. Tuy nhiên, nhà
Mạc vẫn tiếp tục mở những khoa thi để đào tạo ra lớp quan lại cho mình. Mạc
Đăng Dung lên ngôi không được bao lâu, một tập đoàn phong kiến khác lấy
8
danh nghĩa là “phù Lê diệt Mạc” tập hợp lực lượng nổi dậy ở Thanh Hóa, lập
nên triều đình mới gọi là Lê Trung Hưng.
Một cuộc xung đột giữa các phe phái phong kiến xảy ra và hệ quả của
nó là đất nước nảy sinh hai chính quyền là “Bắc triều – chính quyền họ Mạc”
và “Nam triều – chính quyền họ Trịnh”. Trong khoảng gần 50 năm (15461592), hai bên Nam – Bắc triều đánh nhau 38 trận chiến lớn nhỏ. Cuối cùng
Nam triều đã thắng Bắc triều vào năm 1592.
Ngay khi cục diện Nam Bắc triều chưa chấm dứt thì một cục diện khác
quyết liệt hơn, lâu dài hơn đã xuất hiện ngay trong lòng Nam triều - Bắc triều:
cục diện Trịnh – Nguyễn phân tranh. Tuy nhiên, hai tập đoàn phong kiến
Trịnh, Nguyễn không thôn tính được nhau, phải đình chiến lấy sông Gianh
làm giới tuyến, phía bắc thuộc họ Trịnh gọi là Đàng Ngoài, phía nam thuộc họ
Nguyễn gọi là Đàng Trong.
Sự đứt gãy của các chính quyền phong kiến và sự phân chia phạm vi
thống trị của các tập đoàn Mạc, Trịnh, Nguyễn là nét nổi bật trong tình hình
chính trị. Nhưng các nhà nước phong kiến Đàng Ngoài và Đàng Trong đều
1.2.1.3 Tình hình văn hóa tưởng
Nho giáo vẫn là công cụ chính của các tập đoàn phong kiến sử dụng để
xây dựng chính quyền và củng cố trật tự xã hội. Các triều đại phong kiến nối
tiếp nhau liên tục mở những khoa thi nhằm tuyển mộ người tài phục vụ cho
cuộc chiến tranh giành quyền lực. Mặc dù càng về sau giai đoạn này, thi cử
càng trở nên hình thức. Nhưng trong số Nho sĩ vẫn có những người thực sự có
tài như: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phùng Khắc Khoan, Lê Quý Đôn, Lê Hữu Trác,
Ngô Thì Nhậm… với mong muốn dùng học vấn đưa xã hội thoát khỏi khủng
hoảng, mang đến cho nhân dân cuộc sống ấm no hạnh phúc. Đây là điều kiện
để cho các tính chất đạo lý trong Nho giáo phát triển và có những bước tiến
mới tiến bộ hơn.
10
Các nhà Nho thế kỷ XVI-XVII phải đối diện với một đất nước triền
miên trong loạn lạc, trong các cuộc đấu tranh huynh đệ tương tàn sự chia cắt
của non sông. Cục diện đó đã khiến cho suy tư của họ tập trung vào vấn đề
làm sao cho đất nước trở về một mối, làm sao cho xã hội được hòa bình, nhân
dân được an vui. Từ đó họ để tâm đi tìm cách giải thích nguồn gốc của loạn
lạc và đưa ra những chủ trương những đường lối trị nước của mình. Nhưng
trong hoàn cảnh triều đình đương thời vẫn củng cố quyền lực của họ bằng bất
cứ biện pháp nào nên chủ trương trị nước bằng nhân nghĩa của nhà Nho chỉ
dừng lại là những dự định, những tâm tư nguyện vọng và mong muốn chủ
quan của mỗi nhà Nho chứ không được thực hiện để trị nước.
1.2.2 Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm
1.2.2.1 Cuộc đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), ngoài tên Nguyễn Bỉnh Khiêm còn
có tên là Nguyễn Văn Đạt, tên tự là Hanh Phủ, hiệu là Bạch Vân cư sĩ, người
làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, Hải Dương (nay là xã Lý Học, huyện Vĩnh
Bảo, tỉnh Hải Phòng). Nguyễn Bỉnh Khiêm được các môn sinh tôn là Tuyết
dòng họ nội và dòng họ ngoại.
Đến tuổi trưởng thành ông theo học bảng nhãn Lương Đắc Bằng và nổi
tiếng học giỏi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã cất công vào tận xứ Thanh để tầm sư
học đạo. Lương Đắc Bằng từng là một đại thần giữ chức Thượng dưới triều
Lê Sơ nhưng sau khi những kế hoạch của ông đưa ra nhằm ổn định triều chính
không được vua Lê Sơ cho thi hành, Lương Đắc Bằng đã cáo quan về quê
sống đời dạy học (1509). Nguyễn Bỉnh Khiêm vốn sáng dạ thông minh lại
chăm chỉ học hành nên chẳng bao lâu trở thành học trò xuất sắc nhất của
Lương Đắc Bằng. Bởi vậy mà trước khi qua đời, Bảng nhãn Lương Đắc Bằng
đã trao lại cho Nguyễn Bỉnh Khiêm bộ sách quý về Dịch học (Chu Dịch) là
12
Thái Ất thần kinh đồng thời ủy thác người con trai Lương Hữu Khánh của
mình cho Nguyễn Bỉnh Khiêm dạy dỗ.
Có thể căn cứ vào các mốc lịch sử và những hoạt động, có thể chia
cuộc đời của Nguyễn Bỉnh Khiêm ra thành ba chặng:
Chặng thứ nhất, tính từ thời niên thiếu đến năm 1534. Thời thơ ấu,
Nguyễn Bỉnh Khiêm được mẹ nuôi dạy, chăm sóc cẩn thận. Đến tuổi trưởng
thành, ông được học với quan hưu trí Hộ bộ Thượng thư Dương Đức Nhan và
trở thành con rể của ông. Đây là khoảng thời gian mà từ trong triều đến ngoài
xã hội có nhiều biến động: Nội chiến phi nghĩa làm cho hao người, tốn của,
sưu cao thuế nặng, cướp bóc, giết người…
Trong khoảng thời gian 1523 và 1526, triều đình Lê Tương Dực có mở
khoa thi nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn mai danh ẩn tích, không ra ứng thí.
Khi Mạc Đăng Dung đoạt ngôi nhà Lê, nhà Mạc đã có một số chính sách mới
nhằm ổn định trật tự xã hội và nhằm thúc đẩy phát triển đất nước về mọi mặt.
Do đó uy tín nhà Mạc chẳng những được củng cố dần dần mà còn được một
số quan lại nhà Lê cũ phò trợ đắc lực. Và tuy nhà Mạc có tổ chức các khoa thi
dân tộc. Sáng tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm phong phú gồm cả chữ Hán và chữ
Nôm.
Nguyễn Bỉnh khiêm là một nhà thơ lớn, không chỉ của thế kỉ XVI. Tác
phẩm của ông có ảnh hưởng sâu rộng, tác động tích cực vào đời sống tinh
thần của nhân dân và góp phần thúc đẩy sự phát triển của tiến trình văn học
dân tộc. Về thơ chữ Hán, ông có tập Bạch Vân am thi tập, theo ông cho biết
có khoảng một nghìn bài, nay còn lại khoảng 800 bài. Về thơ chữ Nôm, ông
có Bạch Vân quốc ngữ thi tập (còn gọi là Trình quốc công Bạch Vân quốc
ngữ thi tập), chính ông ghi rõ sáng tác từ khi về nghỉ ở quê nhà nhưng không
cho biết có bao nhiêu bài, hiện còn lại khoảng 180 bài. Thơ Nôm Nguyễn
Bỉnh Khiêm làm theo thể Đường luật và Đường luật xen lục ngôn nhưng ông
14
thường không đặt tiêu đề cụ thể cho từng bài và việc đó được thực hiện bởi
những nhà biên soạn sau này. Theo Phả ký (Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn Công
Văn Đạt phả ký) của Vũ Khâm Lân Nguyễn Bỉnh Khiêm còn có bài phú
nhưng nay đã bị thất lạc.
Theo như PGS.TS. Trần Thị Băng Thanh đã đánh giá, Nguyễn Bỉnh
Khiêm là nhà thơ viết nhiều nhất trong năm thế kỷ của nền văn học viết Việt
Nam. Về số lượng mà xét thì Nguyễn Bỉnh Khiêm được coi là một nhà quán
quân. Tuy nhiên vấn đề không chỉ là số lượng. Nguyễn Bỉnh Khiêm được coi
là một người tiếp nối cho sự phát triển và hoàn thiện của nền thơ ca dân tộc kể
từ sau Nguyễn trãi, đồng thời bổ sung vào đó đậm đặc hơn chất triết lý, suy
tưởng và giáo huấn để thơ trở thành một công cụ hữu ích phục vụ con người,
phản ánh hiện thực đời sống và hiện thực tâm trạng một cách sâu sắc, với cái
nhìn khái quát của một triết gia trong đó có những chiêm nghiệm từng trải của
cá nhân ông.
Ngoài di sản văn học với hơn 800 bài thơ (cả chữ Hán và chữ Nôm) còn
lưu lại đến ngày nay, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng để lại nhiều văn bia nổi tiếng
giết nhau, chém giết những người vốn là họ hàng thân thích của mình. Ông
luôn tự đặt ra câu hỏi về nguyên nhân dẫn tới chiến tranh. Lý do cốt lõi là ở
đâu? Phải chăng tư tưởng trung quân không còn nữa, cương thường lỏng lẻo,
trật tự xã hội đảo điên.
Vì Vậy đọc thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm ta thấy thực tế làm tâm hồn nhà
thơ rung động nhiều nhất là cảnh loạn ly, chiến tranh tàn phá:
Sở quán sinh kinh cứ,
Cư ốc chiết vi tân.
Canh ngưu đồ nhi thực,
16
Nhương đoạt phi kỷ hóa,
Hiếp dụ phi kỷ sắc.
Kiến hãm trọng đồ thán,
(…)Tiều tụy tư vi thậm,
Ai tố mạc năng đắc.
(Thương loạn)
(Nhà ở đem bẻ làm củi,
Trâu cày đem mổ làm thịt ăn.
Cướp đoạt tài sản không phải là của mình,
Hiếp dỗ người không phải là vợ mình.
Mắt thấy nơi nơi đều lầm than,
Đi qua khắp chốn đều là sinh gai góc.
Tiều tụy đến như thế là khó lắm,
Thương xót van kêu đâu có được.)
Cảnh “chiến tranh liền năm, quân nhà vua mệt mỏi; bao đời xâu xé, của
nước kiệt quệ (Cảm hứng thi, bài 6) một vùng từ đông chí nam, ruộng lúa
không cấy hái (Thương loạn) làm cho người dân khốn đốn:
Lạc lạc can qua mãn mục tiền,
Tỉnh ấp biến tặc lũy.
(dân khốn quẫn, trộm cướp đầy rẫy,
Đời loạn lạc anh hùng nổi dậy.
Chốn chốn quạ hợp bầy,
Chi chit nhím lông trổ.
Đồng ruộng làm chiến trường,
Làng xóm thành lũy giặc.)
Xử sự thì lấy chuyện nhà Hán, nhà Đường bên Trung Quốc nhưng nó
cũng chính là hoàn cảnh của nước ta đầu thế kỷ XVI. Nguyễn Bỉnh Khiêm tin
tưởng ở cương thường làm người tức là đạo vua tôi, cha con, anh em, vợ
chồng, bạn bè là do thánh nhân bắt chước Trời mà đặt ra cho muôn đời. Xã
hội mà nhà thơ sống là một xã hội loạn lạc, chiến tranh xảy ra liên miên, xung
đột chiến tranh giữa hai lực lượng Trịnh- Nguyễn, ông lên án “bọn giặc hung
18
bạo” một cách căm giận. Nổi bật trong các bài thơ Tòng chinh và Cảm hứng
thể hiện lòng thương dân, mong mỏi thái bình, mong mỏi người cầm quân,
người cầm quyền có đạo lý nhân nghĩa giữa con người với con người.
Trong một xã hội điên đảo luôn luôn có sự đối lập giữa hai tầng lớp
thống trị và bị trị. Cương thường điên đảo như thế mà các nhà quyền quý sống
rất xa hoa, thức ăn là những thức lạ của hiếm, nhà ở, thức dùng sang trọng
đến phí phạm. Nhà cửa vẽ tranh chạm ngọc. Sự xa xỉ ở nơi bếp núc thì lấy sáp
thay củi, bùi béo ngọt ngon. Say rượu nồng, no chất tươi, mặc áo nhẹ, cưỡi
ngựa béo.
Viên trích ngọc thiềm thừ,
Khoái hưng kim tức lý.
Vu tiến hoàng tước canh,
Chở đăng giá cô xị.
Vạn tiền vô hạ trợ,