BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
---------------------------------------------
NGUYỄN VĂN CƯƠNG
QUẢN LÝ THU THUẾ
THÔNG QUA MỐI QUAN HỆ GIỮA
KẾ TOÁN TÀI CHÍNH VÀ KẾ TOÁN THUẾ
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh - Năm 2018
Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học Kinh tế TP.HCM
Người hướng dẫn khoa học: NGND.GS.TS.NGUYỄN THANH TUYỀN
Phản biện 1 : ........................................................................................
Phản biện 2 : ........................................................................................
Phản biện 3 : ........................................................................................
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp trường họp
tại: ........................................................................................................
Vào hồi giờ
ngày tháng năm
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện
1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Câu hỏi 1: Các yếu tố nào đã tạo ra sự chênh lệch giữa lợi nhuận
kế toán trước thuế và thu nhập chịu thuế xuất phát từ sự khác biệt giữa
KTTC và KTT gây ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý thu thuế?
Câu hỏi 2: Để giảm gánh nặng thuế và ngăn ngừa các hành vi
điều chỉnh lợi nhuận với mục đích gây thất thu hoặc thất thoát thuế đối
với doanh nghiệp, đồng thời, nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế đối với
cơ quan thuế từ mối quan hệ giữa KTTC và KTT thì cần khuyến nghị
các chính sách cùng những giải pháp nào?
1.3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Các yếu tố tạo sự phát sinh chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán
trước thuế và thu nhập chịu thuế từ sự khác biệt giữa kế toán tài chính
và kế toán thuế ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý thu thuế đối với doanh
nghiệp và cơ quan thuế.
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
Mối quan hệ giữa KTTC và KTT ảnh hưởng đến công tác quản lý
thu thuế tại Việt Nam. Về mối quan hệ giữa KTTC và KTT, trong nội
dung KTT, đề tài chỉ nghiên cứu KTT đối với Doanh nghiệp chịu sự tác
động của các qui định trong hệ thống thuế hiện hành. Về thuế, đề tài
chủ yếu nghiên cứu tập trung nghiên cứu về thuế thu nhập doanh nghiệp
1.4. Phương pháp nghiên cứu: hỗn hợp khám phá
Phương pháp nghiên cứu định tính: thực hiện theo phương
pháp tình huống có kết hợp với phương pháp phân tích thống kê và
phương pháp thống kê mô tả.
3
Phương pháp nghiên cứu định lượng: Phân tích hồi quy bằng
phương pháp Phân tích phương sai ANOVA để xác định chiều hướng
tác động cũng như ngưỡng tác động đối với việc điều chỉnh thu nhập
2.1.1.1. Khái niệm về thuế
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các thể nhân và pháp
nhân, được nhà nước qui định thông qua hệ thống pháp luật. Sự ra đời
của thuế gắn liền với sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng
và sự xuất hiện của nhà nước (Nguyễn Thanh Tuyền và Nguyễn Ngọc
Thanh, 2001).
Xét về mặt lý thuyết, pháp luật thuế bao gồm: pháp luật nội dung
và pháp luật hình thức. Trong đó pháp luật nội dung ghi nhận, phản ánh
chính sách thuế, còn pháp luật hình thức quy định các vấn đề về quản lý
thuế. (Nguyễn Vũ Việt, 2012).
2.1.1.2. Chính sách thuế
Chính sách thuế được hiểu là những các quan điểm, đường lối
của Nhà nước liên quan đến sử dụng công cụ thuế trong hệ thống các
chính sách của mình. Thuật ngữ chính sách thuế và thuật ngữ pháp luật
thuế vì vậy có những điểm đồng nhất với nhau (Ngô Văn Khương,
2016).
2.1.1.3. Quản lý thuế
Quản lý thuế (QLT) là việc quản lý các loại thuế, các khoản thu
khác thuộc ngân sách nhà nước do cơ quan quản lý thuế quản lý thu
theo quy định của pháp luật, liên quan trực tiếp đến bốn nhóm đối tượng
là: (1) người nộp thuế; (2) cơ quan quản lý thuế; (3) công chức thuế; và
5
(4) Cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực
hiện pháp luật về thuế (Văn phòng Quốc hội, 2016).
2.1.1.4. Quản lý thu thuế
Quản lý thu thuế là một phần trong nội dung trong công tác quản
lý thuế, bao gồm một số nội dung như: (1) Đăng ký thuế, khai thuế, nộp
thuế, ấn định thuế; (2) Kiểm tra thuế, thanh tra thuế; và (3) Xử lý vi
(phân chia tài sản, lợi nhuận, căn cứ tính thuế thu nhập, giám sát và chế
tài hoạt động của doanh nghiệp; (3) Giúp cho việc đưa ra quyết định (vi
mô); (4) Đánh giá tình trạng kinh tế, tài chính của doanh nghiệp; (5)
Cung cấp số liệu cho thống kê và kế toán quốc gia (vĩ mô); và (6) Tạo
niềm tin và hỗ trợ cho việc đánh giá xã hội (Nguyễn Công Phương,
2010).
2.2.2. Mối quan hệ giữa KTTC và KTT
Mối quan hệ giữa KTTC và KTT được thể hiện qua các nội dung
sau: (1) Sự thống nhất giữa thuế và kế toán ; (2) Sự độc lập tương đối
giữa thuế và kế toán: ; (3) Chính sách thuế hướng đến mục tiêu điều tiết
kinh tế vĩ mô và đảm bảo nguồn thu của ngân sách nhà nước trong từng
thời kỳ, phù hợp với mục tiêu phát triển và các chính sách kinh tế khác;
(4) Hệ thống kế toán được xây dựng nhằm cung cấp thông tin tài chính
thích hợp và tin cậy cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin,
nhằm giúp chủ thể ra các quyết định kinh tế phù hợp; và (5) Về phương
diện quản lý nhà nước sự khác biệt giữa kế toán và thuế cũng gây ra
những khó khăn, phức tạp nhất định đối với công tác quản lý, kiểm tra
việc chấp hành nghĩa vụ thuế của các đơn vị (Mai Ngọc Anh, 2011)
7
2.3. Tổng quan lý thuyết nghiên cứu
2.3.1. Các nghiên cứu lý thuyết trên thế giới
Tổng hợp các nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn trên thế giới bao
gồm 04 nhóm lý thuyết về: Mối quan hệ giữa KTTC và KTT; Quản lý
thuế hiệu quả; Giá trị hợp lý; Điều chỉnh thu nhập
2.3.2. Các nghiên cứu lý thuyết tại Việt Nam
Tổng hợp các nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn ở trong nước bao
gồm 05 nhóm lý thuyết về: Mối quan hệ giữa kế toán với thuế; Chính
sách thuế và chuẩn mực - chế độ kế toán; Giá trị hợp lý; Điều chỉnh lợi
trái chiều; (iii) Việc sử dụng giá trị hợp lý (GTHL) để hướng đến việc
liên kết giữa kế toán tài chính và kế toán thuế chưa được đề cập.
2.4. Phân tích mối quan hệ giữa KTTC và KTT
2.4.1. Sự tương đồng giữa KTTC và KTT
2.4.2. Sự khác biệt giữa KTTC và KTT
2.4.3. Các yếu tố tạo ra sự khác biệt giữa kế toán tài chính và kế
toán thuế
2.4.4. Phân tích sự khác biệt giữa KTTC và KTT
2.4.4.1. Phân tích theo từng nhóm tác động
2.4.4.2. Phân tích theo tính chất khác biệt giữa KTTC và KTT
2.4.4.3. Phân tích theo mức độ khác biệt giữa KTTC và KTT
2.4.5. Phân tích các yếu tố tạo ra chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán
trước thuế và thu nhập chịu thuế
9
2.4.5.1. Các yếu tố tạo ra chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán trước thuế
và thu nhập chịu thuế.
2.4.5.2. Các yếu tố tạo ra chênh lệch giữa thu nhập chịu thuế và thu
nhập tính thuế.
2.4.5.3. Các yếu tố tạo ra chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán trước thuế
và lợi nhuận kế toán sau thuế TNDN
2.4.5.4. Các yếu tố tạo ra chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán trước thuế
và thu nhập tính thuế TNDN
2.5. Sự khác biệt giữa kế toán tài chính và kế toán thuế ảnh hưởng
đến hiệu quả quản lý thu thuế
2.5.1. Hiệu quả quản lý thu thuế
Hiệu quả quản lý thu thuế bao gồm hiệu quả đối với NNT và cơ
quan thuế
2.5.2. Sự khác biệt giữa kế toán tài chính và kế toán thuế ảnh
4.2. Những kết quả trong quản lý thu thuế thông qua quan hệ giữa
KTTC và KTT
Việc sửa đổi các chỉ tiêu kê khai thuế giá trị gia tăng, phấn đấu
giảm 156 giờ. Việc khắc phục sự khác biệt giữa doanh thu kế toán và
doanh thu tính thuế thu nhập DN sẽ giảm được khoảng 35 giờ và khắc
phục khác biệt sự ghi nhận giữa chi phí kế toán với chi phí tính thuế
giảm được khoảng 10 giờ.
11
4.3. Những ảnh hưởng trong quản lý thu thuế bởi tồn tại sự khác
biệt giữa KTTC và KTT
4.3.1. Những rủi ro bắt nguồn từ sự khác biệt giữa KTTC và KTT
Mức độ tuân thủ pháp luật của người nộp thuế; Chi phí quản lý
thu của cơ quan thuế; Gia tăng hành vi vi phạm hành chính về thuế liên
quan đến kế toán khi xác định nghĩa vụ thuế
4.3.2. Ảnh hưởng của sự khác biệt giữa KTTC và KTT đến hiệu
quả quản lý thu thuế
4.3.2.1. Về phía người nộp thuế
4.3.2.2. Về phía cơ quan thuế
4.3.2.3. Gia tăng hành vi vi phạm hành chính về thuế liên quan đến kế
toán khi xác định nghĩa vụ thuế
4.3.2.4. Gây ra những sự ngộ nhận khi sử dụng các thông tin thuế trong
báo cáo tài chính
4.3.3. Nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt giữa KTTC và KTT
4.3.3.1. Nguyên nhân khách quan :
Do mục tiêu hướng đến của mỗi hệ thống
4.3.3.2. Nguyên nhân chủ quan
(1) Do xu hướng sử dụng thông tin; (2) Do nguyên tắc cơ sở dồn
tích và nguyên tắc thận trọng trong kế toán có sự đối lập với nguyên tắc
5.1.6. Nhận xét chung về kết quả nghiên cứu định tính
13
5.2. Kết quả nghiên cứu theo phương pháp định lượng
5.2.1. Kết quả phân tích phương sai ANOVA: theo loại hình công
việc; theo khu vực làm việc; theo kinh nghiệm làm việc
5.2.2. Kết quả mô hình Probit và Logit
Kết quả ước lượng từ các mô hình probit và logit trong nghiên
cứu đều thể hiện tính ổn định và bền vững. Cụ thể, các giá trị hợp lý cực
đại (log likelihood) của các ước lượng bao gồm đầy đủ các yếu tố được
tác giả đưa ra trong mô hình nghiên cứu đều cao hơn so với giá trị hợp
lý cực đại khi loại bỏ các yếu tố này ra khỏi mô hình. Bên cạnh đó, các
giá trị thống kê wald chi2 ở các mô hình logit và probit đều có ý nghĩa
thống kê với mức nghĩa ý nghĩa 1%. Vì vậy, tác giả có đủ bằng chứng
về mặt thống kê để bác bỏ giả thiết các hệ số ước lượng đồng thời bằng
không. Từ đó, các mô hình được sử dụng trong nghiên cứu thể hiện tính
phù hợp nhất định.
5.3. Đánh giá chung về kết quả khảo sát
Phần lớn các cuộc thanh tra, kiểm tra của cơ quan thuế có kết quả
truy thu thuế đều có liên quan đến việc xuất toán chi phí không được trừ
khi xác định thu nhập chịu thuế do mục đích giữa kế toán và thuế còn
quá nhiều khác biệt khi xác định chi phí được trừ theo thuế và chi phí
được hạch toán theo kế toán. Dạng khác biệt ảnh hưởng rất nhiều và
nhiều phổ biến như: (1) Qui định của thuế về chi phí không được trừ;
(2) Về thời điểm và cách xác định doanh thu tính thuế và chi phí được
trừ.
14
Giả thuyết 2: Liên kết giữa kế toán và thuế là chủ yếu, có kết
hợp kế toán dựa vào thuế (Trong trường hợp điều chỉnh giá trị, thay đổi
chính sách kế toán, sự lựa chọn các phương thức định giá hàng tồn kho
và các phương thức hạch toán các khoản chi phí được khấu trừ từng
phần hoặc không được khấu trừ) hoặc thuế dựa vào kế toán (trường hợp
ghi nhận chi phí phát sinh tài sản dài hạn, khấu hao, đánh giá lại, các
khoản dự phòng). Tỷ lệ khảo sát chấp nhận: 82% (= 61% + 2% + 19%)
Giả thuyết 3: Liên kết giữa kế toán và thuế là chủ yếu, nhưng
cần có sự độc lập tương đối giữa KTTC và KTT ở một số dạng khác
biệt nhất định để đảm bảo được mục tiêu riêng có của từng hệ thống. Có
kết hợp kế toán dựa vào thuế (Trong trường hợp điều chỉnh giá trị, thay
đổi chính sách kế toán, sự lựa chọn các phương thức định giá hàng tồn
kho và các phương thức hạch toán các khoản chi phí được khấu trừ từng
phần hoặc không được khấu trừ) hoặc thuế dựa vào kế toán (trường hợp
ghi nhận chi phí phát sinh tài sản dài hạn, khấu hao, đánh giá lại, các
khoản dự phòng). Tỷ lệ khảo sát chấp nhận là 88% (61% + 6% + 2% +
19%).
6.1.4. Một số gợi ý về mặt chính sách
Giả thuyết 3 có tỷ lệ khảo sát được chấp nhận là 88%. Giả thuyết
này có ưu điểm là: “Hạn chế được sự khác biệt giữa KTTC và KTT
nhưng vẫn đảm bảo hầu hết các mục tiêu của thuế và kế toán. Khắc
phục được những giới hạn các trường hợp tương đồng giữa kế toán và
thuế”. Giới hạn của giả thuyết: “Phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các
cơ quan soạn thảo và hoạch định pháp luật thuế và kế toán, cần tăng
16
cường trao đổi, hội thảo để xác định và từng bước thu hẹp khoảng cách
khác biệt giữa hai hệ thống một cách hợp lý. Tăng cường các kênh phản
biện, góp ý chính sách của các nhà nghiên cứu có sự tham gia của các
cơ sở để đề xuất các giải pháp liên kết hai hệ thống phù hợp với thực tiễn
của các nước đang phát triển và có điều kiện kinh tế tương đồng như ở Việt
Nam;
- Góp phần bổ sung, củng cố và hoàn thiện lý thuyết quản lý rủi ro
trong quản lý thuế và Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp phục vụ
hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế.
- Xây dựng một số gợi ý về mặt chính sách theo hướng: “Hạn chế
sự khác biệt giữa kế toán tài chính và kế toán thuế nhưng vẫn đảm bảo
được mục tiêu riêng có của từng hệ thống, hướng đến công tác quản lý
thu thuế đạt được hiệu quả tốt nhất”.
- Minh định được nguyên nhân khách quan và chủ quan tạo ra sự
khác biệt giữa kế toán tài chính và kế toán thuế do mục tiêu hướng đến
của mỗi hệ thống. Trong đó, chỉ tiêu doanh thu và chi phí của kế toán
và thuế thường có xu hướng ghi nhận trái chiều nhau.
- Lấp đầy được phần nào lỗ hổng trong các nghiên cứu trước đây
thông qua việc đề xuất các giải pháp liên kết giữa kế toán tài chính và
kế toán thuế nhưng vẫn đảm bảo thực hiện đồng thời các mục tiêu riêng
có của từng hệ thống;
- Sử dụng giá trị hợp lý (GTHL) để hướng đến việc liên kết giữa kế
toán tài chính và kế toán thuế, xem như là một giải pháp liên kết gián
tiếp để thu hẹp chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế
18
6.1.5.2. Những đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Nhận diện được sự khác biệt giữa kế toán tài chính và kế toán thuế
theo từng nhóm tác động: theo nội dung kinh tế, theo thời điểm xác định
doanh thu và chi phí, theo thời gian
- Đánh giá được mức độ của sự khác biệt giữa kế toán tài chính và
kế toán thuế làm phát sinh chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán trước thuế
thúc đẩy tính tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế
6.2. Tổng kết nghiên cứu và hướng xử lý các đề xuất đối với từng
nhóm khác biệt
6.2.1. Đánh giá các nghiên cứu về sự khác biệt giữa kế toán tài
chính và kế toán thuế
- Phân tích theo tính chất hoạt động
- Phân tích theo hình thức
- Phân tích theo nội dung
6.2.2. Các yếu tố tạo ra chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán trước
thuế và thu nhập chịu thuế hoặc thu nhập tính thuế
6.2.3. Các chỉ tiêu điển hình tạo ra chênh lệch giữa lợi nhuận kế
toán trước thuế và thu nhập chịu thuế
6.2.4. Tổng hợp các dạng khác biệt - Các trường hợp điển hình
6.2.5. Tổng hợp các nhóm yếu tố tạo ra chênh lệch giữa LNKTTT
và TNTT
20
6.2.6. Các hướng xử lý đề xuất
6.2.6.1. Các nhân tố tạo sự khác biệt giữa kế toán tài chính và kế toán
thuế
6.2.6.2. Hướng xử lý các dạng khác biệt theo nhóm nhân tố tác động
6.3. Giải pháp liên kết giữa KTTC và KTT
6.3.1. Giải pháp liên kết trực tiếp.
6.3.1.1. Sự liên kết giữa kế toán và thuế
Theo hướng tạo hành lang pháp lý an toàn cho doanh nghiệp.
Mức độ của sự liên kết được thể hiện theo thang đo từ không liên kết
đến liên kết đầy đủ.
6.3.1.2. Xây dựng hệ thống pháp luật thuế
Trên cơ sở tôn trọng các chế độ, chuẩn mực kế toán được thừa
ra theo thẩm quyền; (3) Phân công Lãnh đạo tập trung, thống nhất 03
đầu mối: Thuế, kế toán và tài chính doanh nghiệp;
6.5.3. Đối với các cơ quan quản lý thuế và các đơn vị khác
Các cơ quan quản lý thuế cần thực hiện: (1) Tham mưu với Bộ
Tài chính các nội dung nêu tại mục 6.5.2 ; (2) Tăng cường công tác
tuyên truyền hỗ trợ NNT để nắm rõ sự khác biệt giữa thuế và kế toán để
thực thi pháp luật thuế tốt nhất; (3) Đẩy mạnh công tác thanh tra đối với
các doanh nghiệp có hành vi điều chỉnh thu nhập nhằm mục đích gây
thất thu, thất thoát thuế.
22
6.6. Giới hạn nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo
Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu các yếu tố tạo ra sự chênh
lệch giữa lợi nhuận kế toán trước thuế và thu nhập chịu thuế xuất phát
từ sự khác biệt giữa KTTC và KTT gây ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý
thu thuế được giới hạn chủ yếu trong thuế TNDN. Trong khi đó, chênh
lệch về doanh thu thường liên quan đến căn cứ tính loại thuế tiêu dùng
hay thuế gián thu bao gồm các sắc thuế giá trị gia tăng, tiêu thụ đặc biệt,
thuế bảo vệ môi trường, thuế xuất khẩu. Chênh lệch về chi phí thường
liên quan đến căn cứ tính loại thuế trực thu hay thuế tài sản và thuế thu
nhập; Chênh lệch về doanh thu và chi phí giữa kế toán và thuế phát sinh
trong hiện tượng chuyển giá chỉ được giới thiệu những nội dung cơ bản.
Do đó, hướng nghiên cứu tiếp theo sẽ là Mối quan hệ giữa KTTC và
KTT ảnh hưởng đến hoạt động quản lý thu thuế đối với các loại thuế
gián thu và trong hoạt động giá chuyển nhượng giữa các bên có giao
dịch liên kết./.
23
Tạp chí Phát
triển & Hội
nhập số 35-36
(45-46), trang
129 – 143.
Chuyển giá và kiểm soát chuyển
giá ở các Doanh nghiệp FDI trên
địa bàn TPHCM.
1
(Tác giả: GS.TS. Võ Thanh Thu
& ThS. Nguyễn Văn Cương)
2
Sự khác biệt giữa kế toán tài
chính và kế toán thuế. Trường
hợp Việt Nam
(Tác giả: Nguyễn Văn Cương)
3
Quản lý thu thuế thông qua mối
quan hệ giữa kế toán tài chính và
kế toán thuế: Trường hợp Việt
Nam
(Tác giả: Nguyễn Văn Cương)