Tóm tắt luận án tiến sĩ kinh tế ảnh hưởng của thể chế tới tinh thần doanh nhân nghiên cứu tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa việt nam - Pdf 54

1

2

CHƯƠNG 1

DNNVV trong quá trình phát triển và hội nhập toàn cầu. Bởi các lý do trên, đề tài “
Ảnh hưởng của thể chế tới tinh thần doanh nhân: Nghiên cứu tại các doanh
nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam” được lựa chọn để thực hiện cho nghiên cứu này.

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Sự cần thiết của nghiên cứu

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Vai trò quan trọng của thể chế trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đã
được ghi nhận trong các nghiên cứu trước đây trên toàn thế giới và ở Việt Nam. Ở cấp
độ tổ chức, lý thuyết thể chế cho thấy các yếu tố thể chế ảnh hưởng đến các chiến lược
và quy trình của các tổ chức (Scott, 1995). Thể chế như là một phần của môi trường
kinh doanh ảnh hưởng đến sự phát triển của các doanh nghiệp bao gồm các DNNVV
đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các học giả. Tuy nhiên, các tài liệu hiện
có về thể chế chủ yếu tập trung vào thể chế chính thống, trong khi các tác động của thể
chế không chính thống ít được quan tâm (Roxas và Chadee, 2012).

Mục đích của nghiên cứu này là thăm dò và tìm hiểu ảnh hưởng của thể chế
chính thống và không chính thống tới từng khía cạnh tinh thần doanh nhân của các
DNNVV. Bên cạnh đó, tinh thần doanh nhân của các DNNVV trong bối cảnh của các
quốc gia đang phát triển cũng được quan tâm nghiên cứu. Qua đó, kết quả thu được
có thể đưa ra một số gợi ý để hoàn thiện thể chế, thúc đẩy tinh thần doanh nhân của
các DNNVV Việt Nam nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập.


1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Khách thể nghiên cứu: Các DNNVV Việt Nam theo định nghĩa chính thức trong
Nghị định số 56/2009/NĐ-CP, ngày 30 tháng 06 năm 2009 của Chính phủ. Không gian
nghiên cứu: Luận án thực hiện việc thu thập dữ liệu tại ba thành phố lớn gồm: Hà
Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian nghiên cứu: Các dữ liệu được
thu thập sử dụng phân tích trong luận án là dữ liệu của 5 năm, từ năm 2012 đến 2017.
1.3.2 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu về tinh thần doanh nhân; ảnh hưởng của thể chế chính
thống tới tinh thần doanh nhân; ảnh hưởng của thể chế không chính thống tới tinh
thần doanh nhân của các DNNVV Việt Nam.
1.4 Những đóng góp mới của luận án
Đóng góp về phương diện lý luận
Ảnh hưởng của thể chế chính thống (formal institution) và thể chế không chính
thống (informal institution) đến tinh thần doanh nhân (entrepreneurial orientation) ở
cấp độ công ty được ít các học giả quan tâm nghiên cứu. Cơ sở lý thuyết sử dụng cho
các nghiên cứu là chưa rõ ràng và chưa nhất quán. Thể chế không chính thống chỉ
được xem xét là các yếu tố văn hóa quốc gia mà bỏ qua vai trò quan trọng của các
yếu tố thể chế không chính thống theo định nghĩa của Helmke và Levitsky (2004).
Luận án này đã xem xét ảnh hưởng của thể chế đến từng khía cạnh của tinh thần
doanh nhân (đổi mới sáng tạo, chấp nhận rủi ro và chủ động tiên phong đi trước đối
thủ) của các DNNVV. Một số đóng góp cụ thể của nghiên cứu như sau:
1/ Để đo lường chất lượng thể chế chính thống về sự không phù hợp của hệ thống
chính sách, quy định của Nhà nước, các nghiên cứu cần bổ sung thêm hai chỉ báo đo
lường. Thứ nhất là sự chồng chéo và thiếu rõ ràng, thứ hai là sự thiếu ổn định và
thiếu nhất quán.


3


dung: Chương 1/Giới thiệu chung về nghiên cứu (8 trang); Chương 2/Tổng quan
nghiên cứu và cơ sở lý thuyết về ảnh hưởng của thể chế tới tinh thần doanh nhân của
các doanh nghiệp (33 trang); Chương 3/Phương pháp nghiên cứu (35 trang); Chương
4/Kết quả nghiên cứu (9 trang); Chương 5/Đánh giá kết quả nghiên cứu và một số
kiến nghị đề xuất (11 trang); Tổng số bảng biểu là 20; Tổng số hình vẽ là 05.

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Tổng quan về mối quan hệ giữa thể chế và tinh thần doanh nhân của các
DNNVV.
2.1.1 Tổng quan nghiên cứu và khoảng trống nghiên cứu
Mặc dù lĩnh vực tinh thần doanh nhân đã được các học giả nghiên cứu về thể
chế quan tâm và xem xét, nhưng các yếu tố thể chế không chính thống chủ yếu được
xem xét là văn hóa quốc gia hoặc các học giả chỉ chủ yếu quan tâm tới thể chế chính
thống. Tuy nhiên, thể chế không chính thống không nhất thiết phải là các yếu tố văn
hóa theo quan điểm của Helmke và Levitsky (2004). Một số nghiên cứu đã khẳng
định ảnh hưởng của thể chế không chính thống đến sự lựa chọn chiến lược của các
doanh nghiệp là độc lập (Peng, 2002). Trong khi đó, các yếu tố thể chế không chính
thống mang tính đặc trưng trong bối cảnh của các nền kinh tế chuyển đổi và đang
phát triển như tham nhũng và lòng tin dường như ít được quan tâm nghiên cứu. Mặc
dù các nghiên cứu cũng đã nỗ lực để đánh giá tác động của thể chế đến tinh thần
doanh nhân ở cấp độ quốc gia, nhưng vẫn còn thiếu các nghiên cứu về mối quan hệ
giữa thể chế, đặc biệt là thể chế không chính thống với tinh thần doanh nhân ở cấp độ
công ty. Quan trọng hơn nữa, là những ảnh hưởng của thể chế tới chấp nhận rủi ro,
đổi mới sáng tạo và chủ động tiên phong là chưa rõ ràng (Roxas và Chadee, 2012).
Điều này đòi hỏi cần nhiều nghiên cứu hơn nữa để khám phá mối quan hệ giữa thể
chế chính thống và không chính thống với các hình thái của tinh thần doanh nhân.
Ảnh hưởng của thể chế không chính thống, cụ thể là tham nhũng, lòng tin thể chế ở
cấp độ doanh nghiệp trong bối cảnh các DNNVV sẽ là một khoảng trống nghiên cứu
thú vị. Luận giải được các mối quan hệ này sẽ đóng góp vào việc làm sáng tỏ hơn vai
trò của thể chế không chinh thống đối với tinh thần doanh nhân ở cấp độ công ty,

Thể chế
không chính thống

Tinh thần doanh nhân

Nội dung khái niệm

Nguồn

“Luật chơi” trong một xã hội.

North (1990)

Thể chế chính thống là nói tới hệ thống pháp
luật, quy định, chính sách, hợp đồng và hiệu
lực thực thi. Cùng với toàn bộ văn bản luật
pháp và chính sách là cơ chế thực thi, sự
điều tiết, giám sát của các cơ quan liên quan
giúp cho việc thực hiện chính sách.

North (1992)

Thể chế không chính thống đề cập đến các
Helmke và
giá trị chia sẻ trong xã hội, thông thường là
các quy định không thể hiện bằng văn bản, Levitsky (2004,
2006)
được truyền đạt và thực thi bên ngoài các
kênh được thừa nhận chính thức.
Khái niệm này nói tới “những quá trình,

2013). Các rào cản thể chế này cũng bao gồm thiếu hụt sự hỗ trợ của Nhà nước cho
phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp như tài chính và các dịch vụ hỗ trợ
(Hashi và Krasniqi, 2011; Zhu và các cộng sự, 2012). Chất lượng điều hành đề cập
tới sự cứng nhắc và quan liêu mà các doanh nghiệp gặp phải khi giải quyết các công
việc với các cơ quan đại diện của Nhà nước, ví dụ khi đi đăng ký kinh doanh hoặc
cấp giấy phép kinh doanh để tiến hành một hoạt động kinh doanh cụ thể (Norton,
1998). Nội dung này cũng đề cập đến các quy tắc, các thủ tục, quy trình, mức độ phù
hợp với các quy định của pháp luật hiện hành, điều này dẫn đến gánh nặng chi phí bất
hợp lý cho các doanh nghiệp. Điều này làm tăng chi phí cho các doanh nghiệp khi
phải thực hiện các giao dịch với các cơ quan chức năng của Nhà nước. Các chi phí
này có thể là chi phí tài chính, thời gian và công sức để hoàn thành các thủ tục (Fogel
và các cộng sự, 2006). Các rào cản này cũng làm tăng chi phí giao dịch và mức độ
không chắc chắn, qua đó cản trở việc tiếp cận nguồn lực để hỗ trợ cho các hoạt động
đổi mới (Chadee và Roxas, 2013). Hầu hết các nghiên cứu trong bối cảnh của các nền
kinh tế chuyển đổi và đang phát triển, thì chất lượng điều hành ảnh hưởng tiêu cực
đến khả năng đổi mới của doanh nghiệp (Chadee và Roxas, 2013; Xheneti và Bartlett,
2012). Zhu và các cộng sự (2012) đã chỉ ra hoạt động đổi mới sáng tạo của DNNVV
bị cản trở bởi các chi phí liên quan đến đổi mới như gánh nặng thuế, chi phí tài
chính…, việc tuân thủ sự quan liêu và cứng nhắc của các cơ quan Nhà nước. Rào cản
này dẫn đến sự leo thang mức độ không chắc chắn và chi phí, ngăn cản khả năng tiếp
cận của doanh nghiệp với các nguồn lực để hỗ trợ hoặc kích thích sự đổi mới. Bên
cạnh đó, sự nhận thức về cơ hội và rủi ro của doanh nghiệp ảnh hưởng đến sự đổi mới
sáng tạo và chủ động tiên phong của các doanh nghiệp (Haro và các công sự, 2011).
Khi mà mức độ không chắc chắn và chi phí tăng cao thì khả năng quản trị rủi ro của
doanh nghiệp bị hạn chế, đặc biệt là các DNNVV. Điều này sẽ làm cho các doanh
nghiệp suy giảm mức độ chấp nhận rủi ro để có thể hướng tới các cơ hội kinh doanh.
Sự tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục và các dịch vụ hỗ trợ của các cơ quan Nhà nước
cho các DNNVV khi thác các cơ hội kinh doanh mới sẽ ảnh hưởng tích cực đến mức
độ chấp nhận rủi ro của các doanh nghiệp (Haro và các công sự, 2011). Do đó, việc
gia tăng chi phí tiền bạc và chi phí thời gian, cũng như các doanh nghiệp còn phải đối

H1c: Chất lượng điều hành có mối quan hệ ngược chiều với mức độ chủ động tiên phong.
Sự không phù hợp của hệ thống chính sách, quy định được định nghĩa là tính
phức tạp/sự chồng chéo, thiếu rõ ràng và tính biến động/thiếu ổn định và thiếu nhất
quán của hệ thống chính sách, quy định của Nhà nước. Các rào cản này được đề cập
đến bởi Lajqi và Krasniqi (2017). Đây cũng là hai đặc trưng điển hình của thể chế
chính thống tại Việt Nam. Các chính sách của Nhà nước đề cập đến việc ban hành và
thực thi luật pháp, pháp lệnh, qui định với bất cứ hình thức pháp chế nào và/hoặc các
quyết định của chính phủ, đặc biệt là những văn bản ảnh hưởng đến lĩnh vực kinh
doanh (Forgel, 2001). Chính sách nhà nước có thể được xem như một ống dẫn qua đó
các DNNVV có thể tham gia các hoạt động kinh doanh phù hợp với các qui tắc và
qui định bên ngoài, vì thế, làm giảm mức độ không chắc chắn trong hoạt động kinh
doanh (Roxas và các cộng sự, 2008). Các tài liệu về thể chế, cả lý thuyết và thực
nghiệm đã chỉ ra rằng các quy định và chính sách của Nhà nước có ảnh hưởng trực
tiếp đến tinh thần doanh nhân (Dickson và Weaver, 2008; Roxas và các cộng sự,
2008; Alvarez và Urbano, 2012). Phần lớn các nghiên cứu đều thừa nhận, các quy
định pháp luật theo hướng hoàn thiện và phát triển, đảm bảo tuân thủ đúng theo cơ
chế thị trường thì có mối quan hệ tích cực với sự phát triển của các doanh nghiệp
thông qua khả năng đổi mới và quyết định chiến lược (Roxas và các cộng sự, 2008).
Mối quan hệ sẽ theo chiều ngược lại nếu các quy định pháp luật trở thành rào cản cho
hoạt động của các doanh nghiệp (Chadee và Roxas, 2013; Liu, 2011; Zhu và các cộng
sự, 2012). Các quy định và chính sách của Nhà nước có thể thúc đẩy hoặc cản trở các
cơ hội để để DNNVV theo đuổi các dự án sáng tạo nhiều rủi ro hơn nhưng đầy hứa
hẹn (Zhu và các cộng sự, 2012). Sự thiếu ổn định và phức tạp của hệ thống quy định
chính sách gây ra rủi ro chính sách, rủi ro kinh doanh, mất động lực đổi mới sáng tạo
và ảnh hưởng đến quyết định đầu tư phát triển của các doanh nghiệp (Nguyễn Thị
Luyến, 2018). Bởi vì các chính sách không phù hợp nên môi trường trở nên đối
nghịch với tăng trưởng kinh doanh và các doanh nhân khó dự đoán triển vọng về kinh

H2a: Sự không phù hợp của hệ thống chính sách, quy định của Nhà nước có mối quan
hệ ngược chiều với mức độ đổi mới sáng tạo.

9

Tham nhũng là lạm dụng quyền hạn được giao phó cho lợi ích cá nhân
(Bardhan, 1997, Transparency International, 2010). Tham nhũng được định nghĩa là
các cách tự làm giàu, tự thưởng tiền của các quan chức Nhà nước từ cao nhất xuống
thấp nhất, để lấy được tiền và quà cho cá nhân từ mọi giao dịch của Nhà nước bất cứ
khi nào có thể. Khái niệm tham nhũng này đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu
trước đó, bao gồm cả những nghiên cứu trong bối cảnh các nền kinh tế chuyển đổi và
đang phát triển (Avnimelech và cộng sự, 2014, Chadee và Roxas, 2013) và cũng
được sử dụng trong nghiên cứu này. Trong thực tế, tham nhũng tồn tại ở tất cả các
nước. Tuy nhiên, ở các nền kinh tế chuyển đổi, nó đã được coi là một hiện tượng phổ
biến và mức độ của nó là cao hơn đáng kể so với ở các nền kinh tế phát triển
(Tonoyan và cộng sự, 2010). Mặc dù nỗ lực chống tham nhũng của chính phủ và các
chiến dịch chống tham nhũng khác nhau ở các nước đang phát triển, nhưng tham
nhũng vẫn là một thách thức lớn đối với hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
và nó đã được gợi ý như một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi của các
doanh nghiệp (Chadee và Roxas, 2013; Le, 2017).
Liên quan đến những ảnh hưởng của tham nhũng đối với các hành vi của công
ty, các tài liệu đã cho thấy tham nhũng có ảnh hưởng đến việc phân bổ nguồn lực
ngay lập tức hoặc trong tương lai (Macrae, 1982) và có thể có một số tác động tích
cực trong ngắn hạn nhưng nó sẽ cản trở sự đổi mới và phát triển bền vững của các
doanh nghiệp (Avnimelech và cộng sự, 2014; Nguyen và các cộng sự, 2016). Ở cấp
quốc gia, tác động tiêu cực của tham nhũng đã được ghi nhận rộng rãi trong các
nghiên cứu trước đây như tạo ra những động lực tiêu cực cho các doanh nhân tham
gia vào các cơ hội tạo ra giá trị trong hoạt động sản xuất kinh doanh và do đó dẫn đến
giảm các hoạt động của tinh thần doanh nhân (Avnimelech và các cộng sự, 2014). Ở
cấp độ công ty, một số nghiên cứu trước đây đã cho thấy tác động tiêu cực của tham
nhũng đối với sự đổi mới của công ty (Chadee và Roxas, 2013, Nguyen và các cộng
sự, 2016). Tham nhũng đã góp phần vào việc định hình hành vi tinh thần doanh nhân
của các doanh nghiệp nhỏ trong bối cảnh của các nền kinh tế chuyển đổi (Tonoyan và

nói chung là vượt ra khỏi một giao dịch nhất định và vượt ra ngoài các đối tác trao
đổi cụ thể (Zucker, 1986; p. 63). Lòng tin thể chế thúc đẩy sự hợp tác và sẽ có tác
động tích cực đến kết quả khi khuyến khích các chủ thể tham gia vào các mối quan hệ
hợp tác kinh doanh với một loạt các đối tác tiềm năng do đó mở rộng cơ hội kinh
doanh và các nguồn lực sẵn có (Rus & Iglic, 2005). Như vậy, lòng tin thể chế có thể
ảnh hưởng đến tinh thần doanh nhân là mối quan hệ cần được kiểm tra bằng các
nghiên cứu cả lý thuyết lẫn thực nghiệm. Trong nghiên cứu này, căn cứ vào mục đích
nghiên cứu, tác giả tập trung vào lòng tin thể chế, nó được xem là trung tâm nhất
trong chức năng của các hệ thống kinh tế xã hội hiện đại và rất quan trọng trong giai
đoạn đầu của mối quan hệ giữa các công ty (Rus và Iglic, 2005). Tương tự như tham
nhũng, lòng tin thể chế đã được tìm thấy đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra
môi trường thể chế. Các hoạt động của tinh thần doanh nhân đòi hỏi một nền tảng cơ
bản của lòng tin thể chế (Karmann et al, 2016). Trong đó, tinh thần doanh nhân và sự
đổi mới của doanh nghiệp có thể bị suy giảm hoặc phát triển (Anokhin và Schulze,
2009; Ellonen và cộng sự, 2008). Căn cứ vào cơ sở tổng quan, luận án đề xuất các giả
thuyết nghiên cứu sau:
H4a: Lòng tin thể chế có mối quan hệ cùng chiều với mức độ đổi mới sáng tạo.
H4b: Lòng tin thể chế có mối quan hệ cùng chiều với mức độ chấp nhận rủi ro.
H4c: Lòng tin thể chế có mối quan hệ cùng chiều với mức độ chủ động tiên phong.


12

11

CHƯƠNG 3

2.2 Đề xuất mô hình nghiên cứu
Mô hình lý thuyết được xây dựng dựa trên các yếu tố thể chế chính thống và
không chính thống có thể ảnh hưởng đến từng khía cạnh của tinh thần doanh nhân.


Luận án sử dụng cả hai cách tiếp cận là định tính và định lượng. Định tính
được thực hiện trong giai đoạn 1 (trước khi tiến hành nghiên cứu định lượng) và cách
tiếp cận định lượng được thực hiện trong giai đoạn 2 với mục tiêu kiểm định mô hình
và các giả thuyết nghiên cứu.
Với cách tiếp cận định tính, đề tài thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu nhằm làm
rõ hơn và kiểm tra sự phù hợp của khái niệm và nội dung của ‘tinh thần doanh nhân’
trong bối cảnh ở Việt Nam. Thêm nữa, thể chế không chính thống là vấn đề còn nhiều
tranh luận, nhạy cảm, khó đo lường nên cần phải thăm dò tìm hiểu. Bên cạnh đó,
nghiên cứu định tính cũng giúp có cái nhìn tổng quát về sự phù hợp của mô hình và
các mối quan hệ trong mô hình nghiên cứu đề xuất trước khi tiến hành nghiên cứu
định lượng với qui mô mẫu lớn. Ngoài ra, nghiên cứu định tính giúp phát hiện và bổ
sung các chỉ báo đo lường cho các biến nghiên cứu.

Sự không phù
hợp của hệ
thống chính
sách, quy định

Chấp nhận
rủi ro

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Thiết kế nghiên cứu tổng thể

3.2.1Mục tiêu nghiên cứu
Vẫn còn một số quan điểm khác nhau về tinh thần doanh nhân của các
DNNVV (Hoàng Văn Hoa, 2010), các mối quan hệ giữa các yếu tố thể chế và các
khía cạnh của tinh thần doanh nhân là chưa thực sự rõ ràng. Căn cứ vào mục tiêu
nghiên cứu chung của luận án và một số yếu tố thể chế mang tính nhậy cảm cao nên

các nghiên cứu trước thực hiện khi nghiên cứu về tinh thần doanh nhân của các
DNNVV tại Việt Nam (Nguyen, 2011; Swierczek & Thai, 2003).
Các doanh nghiệp được lựa chọn cho nghiên cứu định tính lần 1 là các 5
DNNVV tại Hà Nội, đây là một trong hai thành phố có số lượng DNNVV lớn nhất
Việt Nam. Phương thức lựa chọn mẫu này cũng đã được các nghiên cứu trước đây
thực hiện khi sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính (Nguyen, 2009). Tên doanh
nghiệp được mã hóa để giữ bí mật theo yêu cầu.
Các doanh nghiệp được lựa chọn cho nghiên cứu định tính lần 2 là 21 DNNVV
đến từ đến từ ba trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước, đại diện cho ba khu vực BắcTrung-Nam (Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh). Ba thành phố được lựa
chọn trong mẫu nghiên cứu này có số lượng DNNVV chiếm trên 80% tổng số
DNNVV của cả nước (Tổng cục thống kê, 2018).

3.2.2.2 Thu thập và phân tích dữ liệu
Trước khi tiến hành thu thập dữ liệu, căn cứ vào mô hình nghiên cứu, tác giả tiến
hành thiết kế lưới hướng dẫn phỏng vấn sâu (xem phụ lục 01A và 01B), trong đó sẽ định
hình trước các thông tin cần thu thập. Nghiên cứu này sử dụng nhiều nguồn dữ liệu. Dữ
liệu được thu thập từ nghiên cứu tại bàn, quan sát và phỏng vấn sâu, trong đó phương
pháp phỏng vấn sâu là phương pháp được sử dụng chính trong nghiên cứu.
Cụ thể, tác giả đã tìm kiếm các trang web và tài liệu liên quan đến các
DNNVV, đặc điểm và tình hình hoạt động của họ trong thời gian gần đây. Quan sát

14

được thực hiện bởi tác giả trong các chuyến đi thăm các công ty vì tác giả có mối
quan hệ tốt với các công ty này. Trong mỗi chuyến thăm, tác giả thường xuyên làm
việc và thảo luận trực tiếp với các nhà lãnh đạo hàng đầu của mỗi công ty. Vì vậy, tác
giả có thể quan sát hoạt động của các công ty, các hành vi của các nhà lãnh đạo công
ty và có thể có một sự nhìn nhận tốt hơn về mức độ của tinh thần doanh nhân của mỗi
công ty. Trọng tâm của các cuộc phỏng vấn là tìm hiểu các yếu tố thể chế chính thống
và không chính thống, cũng như tác động của chúng đối với các khía cạnh của tinh

số kết quả như sau:



Tinh thần doanh nhân của các DNNVV Việt Nam bao gồm 3 khía cạnh nổi bật,


15

16

đó là: tính đổi mới sáng tạo; tính chấp nhận rủi ro; tính chủ động tiên phong đi
trước đối thủ. Đây là căn cứ để xác định sự phù hợp khi nghiên cứu tinh thần
doanh nhân với 3 khía cạnh trong mô hình nghiên cứu đề xuất.

được chia làm 02 loại: doanh nghiệp có vốn Nhà nước và doanh nghiệp không có vốn
Nhà nước.



Thể chế chính thống có ảnh hưởng đến tinh thần doanh nhân thông qua một
trong các rào cản điển hình, đó là sự biến động và phức tạp của hệ thống các
quy định và chính sách của Nhà nước. Đây là căn cứ để bổ sung 2 chỉ báo đo
lường về sự phù hợp của hệ thống chính sách, quy định.



Tham nhũng và lòng tin thể chế là hai yếu tố thể chế không chính thống được
xác định có ảnh hưởng quan trọng đến tinh thần doanh nhân của các DNNVV.
Bước đầu cho thấy, tham nhũng ảnh hưởng tiêu cực đến tinh thần doanh nhân

chuyên gia có kinh nghiệm đào tạo, giảng dạy và nghiên cứu về lĩnh vực tinh thần
doanh nhân và thể chế. Luận án cũng bổ sung thêm năm chỉ báo đo lường cho ba biến
nghiên cứu, từ các nghiên cứu trước và từ kết quả nghiên cứu định tính. Tất cả các
thang đo được kế thừa từ các nghiên cứu trước đều sử dụng thang 5-point Likert-type.
Do vậy, thang 5 điểm cũng đã được được sử dụng cho luận án này với 1 là rất không
đồng ý, 2 là không đồng ý, 3 là bình thường (trung lập), 4 là đồng ý, 5 là rất đồng ý.
Căn cứ vào kết quả các nghiên cứu trước và kết quả của nghiên cứu định tính,
luận án sử dụng cho phân tích với 2 biến kiểm soát gồm: thời gian hoạt động và hình
thức sở hữu. Nội dung mã hóa chi tiết các biến kiểm soát có thể tham khảo ở phụ lục
02. Thời gian hoạt động được hiểu là thời gian tính từ thời điểm doanh nghiệp bắt đầu
thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh cho đến thời điểm hiện tại. Biến này được
chia làm 02 khoảng thời gian gồm: dưới 6 năm; từ 6 năm trở lên. Hình thức sở hữu

3.3.1.2 Phát triển bảng hỏi

3.3.2 Mẫu nghiên cứu và thu thập dữ liệu
Cuộc điều tra khảo sát được thực hiện tại Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ
Chí Minh. Đây là ba trung tâm kinh tế sôi động nhất của cả nước và chiếm hơn 80%
tổng số DNNVV đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam (Tổng cục thống kê, 2018).
Không gian nghiên cứu này cũng được các nhà nghiên cứu lựa chọn để có thể mang
tính đại diện cho tổng thể các DNNVV Việt Nam (ví dụ, Swierczek và Thai, 2003).
Kích thước mẫu căn cứ vào số lượng biến quan sát của nghiên cứu và không
gian nghiên cứu. Theo Hair và các cộng sự (1998), kích thước mẫu tối thiểu gấp từ 5
đến 10 lần số biến quan sát là có thể sử dụng cho phân tích nhân tố và phân tích hồi
quy. Như vậy, theo tỉ lệ 1:10 với 24 biến quan sát thì quy mô mẫu tối thiểu là 240
doanh nghiệp.
Khung chọn mẫu của nghiên cứu đáp ứng các yêu cầu sau:
1/ Các DNNVV theo đúng định nghĩa trong Nghị định số 56/2009/NĐ-CP,
ngày 30 tháng 6 năm 2009 của Chính phủ; 2/ Có thời gian hoạt động tối thiểu 3 năm
trở lên; 3/ Các doanh nghiệp hoạt động trên 5 lĩnh vực gồm: công nghiệp/chế tạo;

một viện nghiên cứu; tại thành phố Hồ Chí Minh là 4 sinh viên marketing năm cuối. Để có
thể tăng được tỉ lệ phản hồi, tất các các phiếu điều tra đều được in màu cùng với thư ngỏ
gửi các doanh nghiệp của Hiệu phó Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (xem phụ lục 2).
Bên cạnh đó, tại mỗi khu vực tác giả đều nhờ sự hỗ trợ của hiệp hội các DNNVV gửi thư
hoặc gọi điện đề nghị các DNNVV thuộc thành viên của hiệp hội hỗ trợ trả lời phiếu điều
tra. Sau khi thu thập được dữ liệu từ mỗi khu vực, tác giả đã gọi điện kiểm tra ngẫu nhiên
một số doanh nghiệp để xác định độ tin cậy của dữ liệu thu thập được.
Thời gian điều tra được thực hiện từ tháng 04/2018 đến hết tháng 07/2018. Số
lượng phiếu phát ra là 1269 phiếu và số lượng phiếu thu về là 486, tỉ lệ phản hồi đạt
39%, 138 phiếu không hợp lệ. Số lượng phiếu thu được thấp là do không thể liên hệ
được với các doanh nghiệp, nhiều doanh nghiệp chuyển địa điểm, một số doanh
nghiệp khác thì không đồng ý hỗ trợ trả lời phiếu điều tra. Số lượng doanh nghiệp
không thu được phiếu chủ yếu tập trung vào đối tượng doanh nghiệp siêu nhỏ.
Nhìn chung, đặc điểm của mẫu đã đáp ứng được phần lớn các tiêu chí so với khung
chọn mẫu. Cụ thể, tỉ lệ doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ trong mẫu đạt 90,2% so với 98,5%
theo mức yêu cầu, tỉ lệ doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ/thương mại đạt
71,6% so với mức yêu cầu là 70,6%, tỉ lệ sở hữu ngoài Nhà nước chiếm 93,7% so với
mức yêu cầu là 99,5%. Với phương pháp xác định mẫu nghiên cứu, đặc điểm của mẫu
nghiên cứu và phương pháp thu thập dữ liệu đã được thực hiện, luận án cho rằng dữ liệu
thu thập được đã có thể đảm bảo độ tin cậy và tính khái quát cho tổng thể nghiên cứu.
Toàn bộ dữ liệu đã thu thập được đảm bảo chất lượng để luận án thực hiện
phân tích dữ liệu. Kết quả phân tích dữ liệu và báo cáo kết quả nghiên cứu sẽ được
trình bày tại chương tiếp theo.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương này trình bày kết quả nghiên cứu với nội dung trọng tâm là kiểm định
mô hình và các giả thuyết nghiên cứu đã đề xuất. Trước khi thực hiện kiểm định này,
luận án tiến hành đánh giá sơ bộ các thang đo thông qua phân tích nhân tố khám phá
(exploratory factor analysis - EFA) và hệ số Cronbach’s alpha. Sau đó, nghiên cứu
thực hiện phân tích nhân tố khẳng định (confirmatory factor analysis - CFA) qua

EFA (KMO >.60 và Bartlett's Test of Sphericity có mức ý nghĩa .70). Kết quả EFA với các
biến còn lại cho thấy ba nhân tố được trích như mong đợi, đảm bảo giá trị phân biệt
và hội tụ của các thang đo, với tổng phương sai trích là 76.721%.

trước đối thủ chỉ ở mức trung bình (mean = 3.2 trên thang điểm 5). Trong 03 khía
cạnh của tinh thần doanh nhân, đổi mới sáng tạo được đánh giá ở mức cao hơn một
cách tương đối (mean = 3.718; S.D. = .634), mặc dù vẫn ở mức < 4.

4.1.2 Đánh giá các thang đo qua phân tích nhân tố khẳng định (CFA)

Kết quả phân tích compare means (independent-sample T-test) cho thấy nhóm
doanh nghiệp có vốn nhà nước đánh giá rào cản về sự không phù hợp của chính sách,
qui định nhà nước, cũng như chất lượng điều hành lớn hơn so với nhóm doanh nghiệp
không có vốn nhà nước.

Kết quả phân tích CFA với mô hình đo lường toàn phần cho thấy mô hình đo
lường phù hợp tốt với dữ liệu sau khi loại bớt một biến quan sát đo lường ‘tham
nhũng’ (TN1) do biến này gắn liền với một vài giá trị standadized residual
covariances > 2.58 (Hair & cộng sự, 1998). Cụ thể, kết quả các chỉ số về độ phù hợp
của mô hình như sau: χ2 (167) = 350.707, χ2/df = 2.10, p < .001, RMR = .046,

doanh nghiệp

Kết quả so sánh nhóm theo thời gian hoạt động của doanh nghiệp cho thấy
nhóm doanh nghiệp có thời gian hoạt động ít hơn (< 6 năm) đánh giá rào cản về chất
lượng điều hành và mức độ tham nhũng lớn hơn so với nhóm doanh nghiệp đã hoạt
động lâu năm hơn.
4.3 Kết quả kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu
Luận án sử dụng kỹ thuật phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) để kiểm
định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu. Kết quả phân tích SEM cho thấy mức độ
phù hợp của mô hình đạt mức tốt: χ2 (197) = 407.466, χ2/df = 2.068, p < .001, RMR
= .045, RMSEA = .055, GFI = .911, CFI = .931, và TLI = .911. Tất cả các kiểm định
t-tests đều đạt mức ý nghĩa 0.001. Mô hình giải thích được 54.3% sự biến thiên của
khía cạnh ‘dám chấp nhận rủi ro’ (R2 = .543). R2 = .611 đối với khía cạnh ‘đổi mới
sáng tạo’ và R2 = .606 đối với khía cạnh ‘chủ động, tiên phong đi trước đối thủ’. Phần
sau đây trình bày kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu về tác động của thể chế
(chính thống và không chính thống) tới các khía cạnh của tinh thần doanh nhân.

4.3.1 Kết quả kiểm định tác động của thể chế chính thống tới tinh thần doanh nhân
Kết quả kiểm định giả thuyết qua phân tích SEM cho thấy các giả thuyết về tác
động của ‘sự không phù hợp của hệ thống chính sách, quy định của Nhà nước‘ tới các
khía cạnh của tinh thần doanh nhân được chấp nhận, trong khi các giả thuyết về tác
động của ‘chất lượng điều hành’ không nhận được sự ủng hộ từ dữ liệu.
Không như mong đợi, các đường quan hệ từ ‘chất lượng điều hành’ tới cả 03
khía cạnh của tinh thần doanh nhân đều có ý nghĩa thống kê nhưng mang dấu dương,
ngược với chiều tác động đề xuất. Cụ thể, ‘chất lượng điều hành’ có mối quan hệ
thuận chiều lần lượt với ‘dám chấp nhận rủi ro’: γ1 = 1.441 (t-value = 6.359), với ‘đổi
mới sáng tạo’: γ2 = 1.569 (t-value = 5.686), và với ‘chủ động, tiên phong đi trước đối
thủ’: γ3 = 1.503 (t-value = 6.296). Như vậy, H1a, H1b và H1c không được chấp nhận.
Chương tiếp theo sẽ bình luận về kết quả này.
Về tác động của ‘sự không phù hợp của hệ thống chính sách, qui định’ tới các

thống chính sách, qui định nhà nước, cũng như chất lượng điều hành cho thấy nhóm
doanh nghiệp có vốn nhà nước đánh giá rào cản lớn hơn so với nhóm doanh nghiệp
không có vốn nhà nước. Điều này chỉ có thể được giải thích bởi sự khác biệt về các
quy định hiện hành áp dụng cho các doanh nghiệp có vốn Nhà nước. Nói một cách
khác, “càng làm nhiều thì càng có tội”.

Về tác động của yếu tố ‘lòng tin thể chế’ tới tinh thần doanh nhân, kết quả
phân tích đã chỉ ra cả 03 giả thuyết H4a, H4b và H4c đều được chấp nhận. Cụ thể,
‘lòng tin thể chế’ có tác động thuận chiều tới ‘dám chấp nhận rủi ro’ (γ10 = .492; tvalue = 4.289), tới ‘đổi mới sáng tạo’ (γ11 = .534; t-value = 4.131), và tới ‘chủ động,
tiên phong đi trước đối thủ’ (γ12 = .642; t-value = 5.134).
Dựa vào các kết quả kiểm định mô hình, ở chương tiếp theo, luận án sẽ trình bày
các kiến nghị và đề xuất nhằm nâng cao tinh thần doanh nhân của các DNNVV Việt Nam.
CHƯƠNG 5
BÌNH LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT
5.1 Bình luận về kết quả nghiên cứu

5.1.1 Bình luận về kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa thể chế chính thống và
tinh thần doanh nhân
Sự không phù hợp của hệ thống chính sách, quy định của Nhà nước có mối
quan hệ ngược chiều với cả ba khía cạnh của tinh thần doanh nhân. Điều này cho thấy
ảnh hưởng tiêu cực của thể chế chính thống đối với hoạt động kinh doanh của các
DNNVV, đặc biệt là ảnh hưởng đến các quyết định chiến lược của doanh nghiệp.
5.1.2 Bình luận về kết quả nghiên cứu mối quan hệ giữa thể chế không chính
thống và tinh thần doanh nhân
Lòng tin thể chế và tinh thần doanh nhân
Lòng tin thể chế có mối quan hệ cùng chiều với cả ba khía cạnh của tinh thần
doanh nhân. Như vậy, đây là yếu tố thể chế duy nhất trong nghiên cứu có ảnh hưởng
tích cực đến tinh thần doanh nhân của các DNNVV.
Tham nhũng và tinh thần doanh nhân

24

của nhiều DNNVV không bị ảnh hưởng tiêu cực. Bởi vậy, từng bước xóa bỏ rào cản
thể chế chính thống, hạn chế tham nhũng và ưu tiên tăng cường lòng tin thể chế sẽ là
các giải pháp căn bản để thúc đẩy tinh thần doanh nhân của các DNNVV Việt Nam
phát triển.

PHẦN KẾT LUẬN

Thứ hai, kết quả nghiên cứu đã cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa chất lượng điều
hành và tinh thần doanh nhân của các DNNVV. Dù vậy, sự tăng lên về mức độ của cả ba
khía cạnh của tinh thần doanh nhân đều không mang tính bền vững. Sự thay đổi đó có thể
chỉ nhằm hướng tới sự tồn tại và dẫn tới phát triển tinh thần doanh nhân một cách lệch lạc.
Bởi vậy, rào cản thể chế chính thống về chất lượng điều hành vẫn phải từng bước được
xóa bỏ để tinh thần doanh nhân của các DNNVV phát triển một cách bền vững.
Thứ ba, bởi các doanh nghiệp có vốn Nhà nước có nhận thức về rào cản thể chế cao
hơn các doanh nghiệp không có vốn Nhà nước, do đó tinh thần doanh nhân sẽ có thể
bị ảnh hưởng tiêu cực hơn. Do vậy, quá trình cổ phần hóa và thoái vốn của các doanh
nghiệp Nhà nước cần thúc đẩy nhanh chóng để phát triển tinh thần doanh nhân của
các loại hình doanh nghiệp này.
Xóa bỏ rào cản thể chế chính thống về sự không phù hợp của hệ thống chính sách,
quy định của Nhà nước và chất lượng điều hành, hạn chế tham nhũng nhằm giảm chi
phí giao dịch cho doanh nghiệp.
Tăng cường lòng tin thể chế
Có thể nói rằng đây là giải pháp quan trọng nhất, lâu dài nhất và hiệu quả nhất
trong bối cảnh hiện tại của các DNNVV Việt Nam. Đặc trưng của thể chế không
chính thống là thời gian để thay đổi dài hơn so với thể chế chính thống, do vậy lòng
tin thể chế không thể thay đổi một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, trong các bối cảnh
cụ thể, thể chế chính thống và không chính thống có thể hỗ trợ và thay thế lẫn nhau.
Việc hoàn thiện thể chế chính thống về mặt lâu dài có thể tăng cường lòng tin thể chế.

nghiên cứu tiếp theo ở các bối cảnh khác nhau. Thứ hai, thời điểm thực hiện nghiên
cứu đúng vào thời điểm xuất hiện cú huých quan trọng của hệ thống chính trị có thể
làm thay đổi lòng tin đối với thể chế. Do vậy ảnh hưởng của lòng tin thể chế đến tinh
thần doanh nhân cần được tiếp tục nghiên cứu ở một thời điểm hợp lý để tìm hiểu
thêm về mối quan hệ này. Thứ ba, mối quan hệ cùng chiều giữa chất lượng điều hành
và tinh thần doanh nhân đã được luận giải phần nào. Dù vậy, nếu cả ba khía cạnh của
tinh thần doanh nhân đều tăng trước ảnh hưởng gia tăng của rào cản chất lượng điều
hành chỉ vì lý do tồn tại thì rất có thể không có mối quan hệ giữa các khía cạnh tinh
thần doanh nhân và kết quả kinh doanh. Để tìm hiểu rõ thêm về mối quan hệ này, các
nghiên cứu tiếp theo cần bổ sung thêm biến kết quả kinh doanh để kiểm định đồng
thời trong mô hình nghiên cứu. Tóm lại, nghiên cứu đã cung cấp những bằng chứng
thực nghiệm quan trọng về mối quan hệ giữa thể chế chính thống, thể chế không
chính thống và từng khía cạnh tinh thần doanh nhân của các DNNVV Việt Nam. Với
những đóng góp cụ thể về mặt lý luận và thực tiễn, kết quả của luận án không chỉ có
thể được tiếp tục tham khảo và sử dụng trong các nghiên cứu tiếp theo về nội dung
liên quan, mà còn cung cấp các cơ sở khoa học cho các nhà hoạch định chính sách,
các cơ quan quản lý Nhà nước hoàn thiện thể chế nhằm thúc đẩy tinh thần doanh
nhân của các DNNVV Việt Nam phát triển. Qua đó, tăng cường năng lực cạnh tranh
của các DNNVV trong thời kỳ hội nhập quốc tế đang ngày càng sâu, rộng.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status