MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...............................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn......................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn..........................................2
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn..................................................................4
3.1. Mục đích nghiên cứu......................................................................................4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn................................................4
4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn................................................................4
4.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn...................................................................5
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn...........................5
5.1. Phương pháp luận của luận văn......................................................................5
5.2. Phương pháp nghiên cứu của luận văn...........................................................5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn......................................................... 5
7. Kết cấu của luận văn......................................................................................... 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TẠM GIỮ,
TẠM GIAM.......................................................................................................... 7
1.1. Khái niệm quyền con người trong tạm giữ, tạm giam....................................7
1.1.2. Khái niệm quyền con người...................................................................... 14
1.1.2. Đặc điểm quyền con người........................................................................16
1.2. Quyền con người trong tạm giữ, tạm giam................................................. 17
1.2.1. Nội dung quyền con người trong tạm giữ, tạm giam................................ 17
1.2.3. Sự cần thiết phải bảo đảm quyền con người trong tạm giữ, tạm giam......27
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng quyền con người trong tạm giữ, tạm giam................29
1.3.1. Thể chế pháp lý......................................................................................... 29
1.3.2. Tổ chức bộ máy.........................................................................................33
1.3.3. Đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán.......................................36
1.3.4. Cơ sở vật chất và nguồn lực kinh phí........................................................38
Tiểu kết Chương 1...............................................................................................39
Chương 2: THỰC TRẠNG QUYỀN CON NGƯỜI TRONG TẠM GIỮ, TẠM
3.2.2. Kiện toàn tổ chức, bộ máy.........................................................................68
3.2.3. Nâng cao chất lượng đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán......70
3.2.4. Bảo đảm cơ sở vật chất và nguồn lực kinh phí......................................... 73
3.2.5. Tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm quyền con người.........74
Tiểu kết Chương 3...............................................................................................76
KẾT LUẬN......................................................................................................... 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................ 78
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Chữ viết tắt
Nghĩa
1
NNPQ
Nhà nước pháp quyền
2
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
3
Điều tra viên
Bộ luật tố tụng hình sự
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Quyền con người là quyền tự nhiên gắn với mỗi con người từ khi sinh ra cho đến
khi mất đi, là những mối quan hệ tác động qua lại lẩn nhau, phát huy và củng cố các
mối liên hệ, các phối hợp hành động giữa con người và con người, tránh các mâu
thuẫn qua lại giữa họ, trên cơ sở kết hợp tự do cá nhân với tự do của những người
khác, với hoạt động của Nhà nước và xã hội. Những quyền của con người như quyền
được sống, quyền mưu cầu hạnh phúc, quyền được tôn trọng danh dự, nhân phẩm,
được bất khả xâm phạm về thân thể, được tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do
tham gia vào các quá trình chính trị là những điều kiện cần thiết để con người tổ chức
đời sống trong xã hội văn minh và cần phải được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ một
cách vô điều kiện.
Ở Việt Nam, bảo đảm quyền con người là vấn đề quan trọng, luôn được Đảng,
Nhà nước và nhân dân quan tâm, bảo vệ bằng nhiều văn bản pháp luật khác nhau như
Hiến pháp, Bộ Luật Hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, v.v... Nhà nước bảo đảm quyền
con người, quyền công dân bằng việ ghi nhận các quyền con người và quyền công dân
trong Bộ luật tố tụng hình sự của nước ta. Các quy định về bắt người, tạm giữ, tạm
giam là một trong các quy định nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân của
nhân dân và của cả bị can, bị cáo, của người bị bắt. Những quy định của Hiến pháp,
Bộ Luật tố tụng hình sự, luật tạm giữ tạm giam về bắt, tạm giữ, tạm giam đều góp
phần phát huy tính dân chủ , tăng cường hơn nữa hiệu lực của Nhà nước trong việc bảo
đảm quyền con người, quyền công dân để xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh và giàu mạnh. Khi bị bắt thì người bắt người, tạm giữ, tạm giam bị hạn chến
một số quyền công dân, quyền con người của người bị bắt. Để đảm bảo quyền con
người, quyền công dân trong hoạt động tố tụng cần nâng cao trình độ chuyên môn
tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài “Quyền con người trong tạm
giữ, tạm giam ở tỉnh Đắk Lắk”, chúng tôi thấy các nhà khoa học đã tiếp cận theo
nhiều cách, với những cấp độ khác nhau:
Trong khoa học pháp lý nước ta cũng như quốc tế, vấn đề bảo đảm quyền con
người nói chung, quyền con người trong hoạt động tư pháp và trong tố tụng hình sự đã
được nhiều độc giả nghiên cứu từ những góc độ và cấp độ khác nhau.
Từ góc độ nghiên cứu về bảo đảm quyền con người nói chung trong NNPQ có
các công trình của các tác giả sau: Trần Ngọc Đường, "Quyền con người, quyền công
dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam", Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, 2004; Đinh Văn Mậu, "Quyền lực Nhà nước và quyền con người", Nhà xuất
bản Tư pháp, 2003; Tường Duy Kiên, "Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam với việc bảo đảm quyền con người", Nhà xuất bản Nghề luật, 2004;…
Quyền con người là một quyền thiên liêng cao cả nên luật quôc tế cũng như Việt
Nam đều quy định một cánh rõ ràng và đầy đủ, cụ thể: "Bảo đảm quyền con người
trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay", của Nguyễn Huy Hoàng, Luận án tiến
sĩ Luật học, Hà Nội, 2005; "Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con người bằng
pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn. xây dựng nhà nước
pháp quyền Việt Nam" do GS.TSKH Lê Văn Cảm, PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí,
PGS.TS Trịnh Quốc Toản đồng chủ biên, Đề tài khoa học cấp Đại học Quốc gia, Hà
Nội, 2006; "Luật tố tụng hình sự Việt Nam với việc bảo vệ quyền con người" - đề tài
nghiên cứu khoa học, chủ trì TS. Nguyễn Ngọc Chí - Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà
Nội, 2011; "Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam", của Nguyễn
Quang Hiền, Luận án tiến sĩ Luật học, Hà Nội, 2008; "Bảo vệ quyền con người trong
luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam", sách chuyên khảo của TS Trần Quang
Tiệp, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2004;... Trong các công trình này, các tác giả
nghiên cứu việc bảo vệ quyền con người trong hoạt động tư pháp nói chung, kể cả
5.2. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Xuất phát từ mục đích và nội dung nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương
pháp nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh pháp luật, dự báo để chọn
lọc những tri thức khoa học cũng như kinh nghiệm thực tiễn về bảo đảm quyền con
người trong tạm giữ, tạm giam ở các địa phương có điều kiện tự nhiên, văn hóa pháp
lý tương đồng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận, những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là những bổ sung quan
trọng vào lý luận và thực tiễn Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, góp phần hoàn
thiện hệ thống lý luận về quyền con người và bảo đảm quyền con người trong tạm giữ,
tạm giam - một nhóm chủ thể dễ bị tổn thương bị tước bỏ quyền tự do đi lại và một số
quyền khác.
Về thực tiễn, những kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn có thể làm tư liệu
tham khảo cho các nhà nghiên cứu về quyền con người; về hoạt động tố tụng hình sự.
Những giải pháp được luận giải thuyết phục từ cơ sở để xuất đến nội dung giải pháp và
các điều kiện bảo đảm thực hiện từng giải pháp trong luận văn sẽ giúp các nhà quản lý
trong tham mưu, đề xuất hoàn thiện chính sách, pháp luật về bảo đảm quyền con người
trong tạm giữ, tạm giam.
7. Kết cấu của luận văn
Bố cục Luận văn được sắp xếp như sau gồm: Lời cảm ơn, lời cảm ơn, phần mở
đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia làm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quyền con người trong tạm giữ, tạm giam;
Chương 2: Thực trạng quyền con người trong tạm giữ, tạm giam ở tỉnh Đắk Lắk;
Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm quyền con người trong tạm giữ, tạm
giam ở tỉnh Đắk Lắk.
đặc biệt như bắt, tạm giữ, tạm giam để phát hiện xử lý tội phạm. Khi quyền lực nhà
nước mạnh như thế dẫn đến hệ quả là phía bên kia của TTHS là người bị buộc tội ở vị
trí rất rất yếu. Một bên mạnh, một bên yếu dễ dẫn đến quyền của bên yếu sẽ bị xâm
phạm. Chính vì vậy để “quân bình” lực lượng thì phải tăng quyền cho bên người bị
buộc tội, có phương pháp, có cơ hội bảo vệ quyền của mình, đó là quyền tối thiểu của
con người. Nhưng cần lưu ý, vẫn còn đó phía bên kia của vấn đề là số phận của những
người bị tình nghi yếu thế. Vừa phát hiện được tội phạm, vừa bảo vệ quyền con người
đó là nhiệm vụ cực kỳ khó khăn của hoạt động TTHS. Nhưng TTHS trong nhà nước
văn minh và nhân đạo đặt ra đòi hỏi đó.
Như vậy, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế như bắt, tạm giữ, tạm giam là
một trong phương tiện để phát hiện và xử lý tội phạm trong TTHS. Cũng từ đây, đặt ra
yêu cầu phải bảo vệ được quyền con người khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế này.
Các đối tượng bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế tạm giữ, tạm giam được gọi là
người tham gia tố tụng (hay bên bị buộc tội như TTHS một số nước quan niệm). Trong
TTHS Việt Nam là người bị tạm giữ và người bị tạm giam. Đây là hai đối tượng cần
phải bảo vệ quyền con người đầu tiên và quan trọng nhất trong TTHS.
Để làm rõ khái niệm người bị tạm, tạm giữ phải xuất phát từ khái niệm “ buộc
tội” trong TTHS. Bởi lẽ, khi và chỉ khi có sự buộc tội thì mới xuất hiện người bị buộc
tội (trong đó có người bị tạm giữ, tạm giam) và mới xuất hiện các biện pháp cưỡng chế
TTHS. Buộc tội là cơ sở pháp lý đầu tiên để áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS
và xuất hiện yêu cầu bảo vệ quyền con người của người bị tạm giữ, tạm giam. Người
bị buộc tội là người bị cơ quan điều tra, viện kiểm sát cho rằng đã thực hiện hoặc có
dấu hiệu thực hiện một tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự.
Theo quy định của pháp luật thì cũng chưa có văn bản tố tụng nào trực tiếp buộc
tội đối với người bị tạm giữ. Chúng tôi không nhất trí với quan điểm này, bởi lẽ cơ sở
để áp dụng biện biện pháp tạm giữ, tạm giam và làm xuất hiện người tham gia tố tụng
là người bị tạm giữ, tạm giam chính sự buộc tội. Chính vì vậy đặc điểm đầu tiên của
người bị tạm giữ, tạm giam đó chính là họ là người bị buộc tội. Mặt khác chỉ khi bị
này làm xuất hiện chủ thể bị áp dụng hai biện pháp cưỡng chế này là người bị tạm giữ
và người bị tam giam.
Khoản 1 Điều 59 Bộ luật TTHS 2015 quy định: Người bị tạm giữ là người bị giữ
trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo
quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định
tạm giữ. Người bị tạm giữ có đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, đã có dấu hiệu cho rằng họ thực một tội phạm quy định trong BLHS.
Theo tính thần của nguyên tắc suy đoán vô tội: không ai bị coi là có tội nếu chưa có
bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật thì người bị tạm giữ chưa bị khẳng định là có
tội mà mới có dấu hiệu thực hiện tội phạm trên thực tế. Đối với người bị tạm giữ, cơ
quan quan có thẩm quyền không buộc phải xác định tội phạm do người tạm giữ thực
hiện ở mức chung nhất và có thể chưa đầy đủ các dâu hiệu cấu thành của cấu thành tội
phạm. Nhưng để đáp ứng yêu cầu không bỏ lọt tội phạm và yêu cầu phát hiện nhanh
chóng, kịp thời mọi hành vi phạm tội thì cần thiết phải tạm giữ người bị tình nghi.
Thứ hai, người bị tạm giữ có thể là ngừời chưa bị khởi tố về hình sự, đó là
những ngừời bị bắt trong trường hợp khẩn cấp theo Bộ luật TTHS 2005 và người bị
giữ khẩn cấp theo Bộ luật TTHS 2015, phạm tội quả tang, trừờng hợp phạm tội tự thú
trước khi hành vi phạm tội bị phát hiện và khởi tố, và đối với họ đã có quyết định tạm
giữ.
Thứ ba, người bị tạm giữ cũng có thể là người đã bị khởi tố về hình sự bao gồm:
bị can, bị cáo, người đã bị kết án nhưng bỏ trốn, người đang chấp hành án bỏ trốn
nhưng bị bắt theo quyết định truy nã hoặc ngừời phạm tội ra đầu thú và đã có quyết
định tạm giữ đối với họ. Do đó, pháp luật coi người bị tạm giữ là người tham gia
TTHS, có các quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ theo quy định của pháp luật.
Thứ tư, người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp (hoặc bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp theo Bộ luật TTHS 2015), bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt
theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú thì điều kiện đủ để họ trở
thành người bị tạm giữ là đối với họ phải có quyết định tạm giữ. Một người bị bắt
làm cơ sở nghiên cứu về quyền của người bị tạm giữ, tạm giam:
- Thứ nhất, biện pháp tạm giữ, tạm giam liên quan đến quyền con người được
quy định hoặc thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết mà thiếu nó cơ quan, người tiến
hành tố tụng không thể hoàn thành việc xác định sự thật khách quan của vụ án, ngăn
chặn tội phạm.
Thứ hai, khi biện pháp tạm giữ, tạm giam đã được áp dụng trở nên không cần
thiết nữa thì cần phải được hủy bỏ. Ví dụ: bị can bị tạm giam do có căn cứ là nếu
không áp dụng tạm giam bị can sẽ gây khó khăn cho việc điều tra (thông cung, mua
chuộc, khống chế người làm chứng…), khi việc điều tra đã hoàn thành, tội phạm đã
được chứng minh đầy đủ, khách quan thì căn cứ áp dụng tạm giam đã mất đi, do đó cơ
quan tiến hành tố tụng phải hủy bỏ hoặc thay đổi biện pháp tạm giam đã áp dụng. Để
làm được điều này, đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố
tụng phải thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp, sự cần thiết của những biện pháp đã
áp dụng (điều 4 BLTTHS).
Thứ ba, các biện pháp tạm giữ, tạm giam là hạn chế quyền con người nên cần
được áp dụng khi cần thiết để đạt được mục đích của TTHS. Việc lạm dụng áp dụng
biện pháp cưỡng chế tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
là một trong những biểu hiện phổ biến của vi phạm quyền con người trong hoạt động
TTHS ở nước ta. Việc xác định mức độ cần thiết của biện pháp tạm giữ, tạm giam
được thực hiện thường xuất phát từ thực tế hành vi phạm tội được thực hiện, nhân thân
đối tượng được áp dụng cũng như căn cứ áp dụng biện pháp đó.Ví dụ: để ngăn chặn
tội phạm, không để bị can tiếp tục phạm tội thì cần áp dụng biện pháp tạm giam đối
với người đó. Còn trong trường hợp căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn là có căn cứ
chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho điều tra, truy tố, xét xử thì có thể áp dụng
các biện pháp khác nhau: nếu bị can có khả năng thông cung, hủy bỏ chứng cứ, khống
chế người bị hại, người làm chứng… thì có thể áp dụng biện pháp tạm giam; nhưng
nếu chỉ gây khó khăn ở hình thức không có mặt khi được triệu tập thì chỉ cần áp dụng
biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lãnh là đủ. Hoạt động TTHS phải được thực hiện
là nơi quyền con người chịu sự tác động rất lớn từ các cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng khi giải quyết vụ án hình sự. Do vậy, đây cũng là nơi quyền con
người rất dễ bị xâm phạm và hậu quả của việc quyền con người bị xâm phạm thường
để lại hậu quả rất lớn cho xã hội.
Quyền con người trong tạm giữ, tạm giam do pháp luật TTHS quy định trên cơ
sở phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người, gồm các nhóm quyền về
tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản v.v… và các nhóm quyền tố
tụng với tư cách là những người tham gia tố tụng bị tạm giữ, tạm giam.
- Mọi người vi phạm pháp luật đều bị tòa án xét xử công bằng, công khai;
- Bộ luật hình sự 2015 đã quy đình rõ về quyền và nguyên tắc suy đoán vô tội;
1.1.2. Khái niệm quyền con người
Mặc dù vấn đề quyền con người, quyền công dân đã được hình thành từ rất sớm
trong lịch sử nhân loại nhưng do nó được nhìn nhận dưới những góc độ khác nhau
(triết học, chính trị học, kinh tế học, luật học...), xuất phát từ những mục đích, màu sắc
tư tưởng, lãnh địa chính trị của các quốc gia khác nhau…. Nên khái niệm quyền con
người, quyền công dân vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau.
Để làm sáng tỏ vấn đề quyền con người trong TTHS nói chung và quyền con
người trong tạm giữ, tạm giam nói riêng cần xuất phát từ khái niệm chung về con
người. Bởi lẽ, quyền con người trong tạm giữ, tạm giam là một khía cạnh, một biểu
hiện của quyền con người trong một lĩnh vực đặc thù mà ở đó, quyền con người dễ bị
có nguy cơ bị xâm phạm nhất là lĩnh vực tố tụng hình sự.
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quyền con người, mỗi định nghĩa
là một sự biểu hiện khác nhau về góc độ nhìn nhận về vấn đề nhân quyền. Tuy nhiên,
tổng hợp lại các quan niệm đó được phân chia thành ba quan niệm chủ yếu, khác nhau
về quyền con người như sau :
- Quan niệm thứ nhất: Bắt nguồn từ chỗ coi con người là một thực thể tự nhiên, nên
quyền con người phải là quyền "bẩm sinh", là "đặc quyền", nghĩa là quyền con người,
quyền lợi của con người với tư cách là người, gắn liền với cá nhân con người, không
động xâm hại đến lợi ích của mình thì không thể làm xuất hiện khái niệm quyền con
người.
Nhận thức khái niệm quyền con người với đầy đủ bản chất, thuộc tính của nó cho
thấy quyền con người là một phạm trù phức tạp. Vì vậy, cần thiết phải đưa ra định
nghĩa về quyền con người. Tuy nhiên, nếu chỉ đưa ra định nghĩa quyền con người với
tư cách là một phạm trù riêng biệt của chính trị học, kinh tế học, triết học, luật học sẽ
là điều phiến diện, không đầy đủ, vì như thế nó mới chỉ thể hiện được quyền con người
dưới góc độ khoa học, mà không thể hiện được bản chất cũng như tính đa diện của vấn
đề này. Hay nói cách khác, nó mới chỉ thể hiện trạng thái tĩnh của quyền con người.
Khi bàn về Quyền con người, Ayn Rand định nghĩa rất xác đáng rằng “Quyền
con người là điều kiện mà bản chất con người đòi hỏi để tồn tại một cách thích
đáng”
[37]. Đây là những như nhu cầu rất tự nhiên (quyền tự nhiên) tối thiểu để mỗi cá nhân
tồn tại trong xã hội với tư cách một con người. Quyền con người có những đặc tính cơ
bản như: tính bất khả xâm phạm (là tính tự nhiên của quyền con người), tính bất khả
phân chia; tính bình đẳng của quyền con người. Một số nhà nghiên cứu cũng cho rằng
quyền con người có tính phổ biến và tính đặc thù.
Như vậy, định nghĩa trên về nhân quyền đã được khái quát hóa từ góc độ bản
chất của vấn đề, được xem xét từ các đặc điểm của nó (so sánh giữa con người và động
vật khác), và cũng được xem xét từ góc độ giới hạn, phạm vi của vấn đề. Định nghĩa
này không chỉ khắc phục được tính phiến diện của các định nghĩa khác, mà nó còn xác
định rõ ràng "ranh giới" của vấn đề, hạn chế của việc hiểu và vận dụng lệch lạc về
quyền con người. Chúng tôi tán thành với khái niệm này.
1.1.2. Đặc điểm quyền con người
Quyền con người có những tính chất cơ bản sau đây:
Tính phổ biến: Quyền con người là quyền chung được áp dụng cho tất cả mọi
người không có phân biệt màu da, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất
thân. Con người, dù ở trong những chế độ xã hội nào, thuộc dân tộc, văn hóa truyền
BLTTHS, đó là các nhóm quyền: được thông tin, được bảo vệ và trợ giúp pháp lý;
nhóm quyền được tham gia tố tụng; nhóm quyền được khiếu nại quyết định, hành vi tố
tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng
1.2.2.1. Quyền không bị bắt giam tùy tiện
Quyền tự do thân thể, không bị bắt, giam giữ tùy tiện, trái pháp luật là một trong
những quyền cơ bản nhất của con người được nhân loại thừa nhận. Không ai bị bắt
hoặc bị giam giữ vô cớ.
Quyền tự do thân thể, không bị bắt, giam giữ tùy tiện, trái pháp luật là một trong
những quyền cơ bản nhất của con người, được cộng đồng thế giới thừa nhận và tôn
trọng. Quyền này được quy định lần đầu tiên trong Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền
năm 1948, tại Điều 9 Tuyên ngôn đã quy định: “Không ai bị bắt, giam giữ hay lưu đày
một cách tùy tiện”.
Cụ thể, Điều 9 của Công ước năm 1966 đã quy định: “Mọi người đều có quyền
hưởng tự do và an toàn cá nhân. Không ai bị bắt hoặc bị giam giữ vô cớ. Không ai bị
tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền đó là có lý do và theo đúng những
thủ tục mà luật pháp đã quy định”.
Theo đó, quy định trên được áp dụng đối với mọi đối tượng bị tước tự do, bao
gồm cả người bị giữ, giam vì hành vi phạm tội, do tâm thần, nghiện ma túy hay phục
vụ mục đích giáo dục, kiểm soát nhập cư.
Khi bắt giữ người đều phải được thông báo vào lúc bị bắt những lý do vì sao họ
bị bắt và phải được thông báo về sự buộc tội đối với họ”.
Quy định này nhằm tạo điều kiện cho người bị bắt giữ biết được mình có bị bắt
vì tội danh nào, lý do gì mình bị bắt, đảm bảo quyền được biết và quyền không bị bắt
tùy tiện bởi một cơ quan có thẩm quyền xét xử.
Các biện pháp tạm giữ, tạm giam được sử dụng với tính chất là biện pháp ngăn
chặn, thì việc giam, giữ này phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục luật định và phải
bảo đảm quyền được thông tin cho bị can, quyền được tòa án quyết định tính hợp pháp
của việc giam giữ. Trong đó, việc bắt giữ, giam người chỉ trong những trường hợp,
khăn cho quá trình làm sáng tỏ vụ án là việc làm cần thiết. Làm sáng tỏ bản chất của
vụ án được thể hiện dưới hai mặt: Xác định có tội phạm hay không. Do đó, việc áp
dụng biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo không chỉ nhằm mục đích chứng minh
họ không phải là người thực hiện hành vi tội phạm tức là làm rõ bản chất của vụ án.
Nhận thức được như vậy mới thấy rõ được mục đích của TTHS là phát hiện xử lý kịp
thời mọi tội phạm đồng thời không làm oan người vô tội. Bởi vì trong thực tế có
không ít những trường hợp bị can, bị cáo do nhận thức hạn chế, do sức ép từ nhiều
phía không phạm tội nhưng vẫn cố tình gây khó khăn cho hoạt động tố tụng như bỏ
trốn, tiêu huỷ chứng cứ nhằm che dấu tội phạm cho người khác.
Căn cứ thứ hai để áp dụng biện pháp ngăn chặn là: Khi có căn cứ chứng tỏ bị
can, bị cáo tiếp tục phạm tội và căn cứ cuối cùng là để đảm bảo thi hành án. Việc
TTHS quy định các biện pháp ngăn chặn là cần thiết để thực hiện nhiệm vụ của luật
TTHS. Tuy nhiên việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn là một trong các biện pháp
cưỡng chế nhà nước trong TTHS thực chất là hạn chế một, một số quyền của người bị
tình nghi đụng chạm đến quyền tự nhiên, quyền của công dân của bị cáo như quyền tự
do thân thể, quyền tự do đi lại…Do đó việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn phải tôn
trọng nguyên tắc suy đoán vô tội thể hiện ở chỗ: Không được áp dụng biện pháp ngăn
chặn một cách tuỳ tiện, vô căn cứ. Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn dựa vào các
căn cứ nhất định. Tức là nếu không có các căn cứ quy định tại điều 79 BLTHS 2003
thì không được áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người bị tình nghi, bị can, bị cáo.
Các căn cứ này không được áp dụng tuỳ tiện theo suy luận chủ quan của các cơ quan
THTT mà phải dựa trên cơ sở các tài liệu chứng cứ và việc đánh giá các tài liệu chứng
cứ này. Ví dụ để sử dụng căn cứ: Bị can, bị cáo gây khó khăn cho hoạt động điều tra,
truy tố, xét xử các cơ quan tiến hành tố tụng phải nghiên cứu các tình tiết của vụ án
nghề nghiệp, nhân thân của bị can, bị cáo. Bởi vì trong thực tế không phải bị can nào
cũng gây khó khăn cho hoạt động tố tụng và không phải bị can, bị cáo nào cũng muốn
gây khó khăn, cản trở hoạt động tố tụng. Hoặc khi sử dụng căn cứ: Bị can, bị cáo tiếp
tục phạm tội để áp dụng biện pháp ngăn chặn thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải có
gia ký kết trong một số phiên tòa hình sự của các nước này sẽ có thể có quan sát viên,
quan sát đối chiếu với hệ thống các tiêu chuẩn xét xử để đảm bảo quyền bình đẳng và
xét xử công bằng trong TTHS.
Để bảo đảm quyền bình đẳng thì TTHS không những chỉ bảo vệ quyền cho bị
cáo, bị can mà còn phải bảo vệ cả các quyền cho người bị tình nghi, người bị tố giác.
Tư tưởng này cũng chỉ ra sự đối lập giữa truy tố tội ác và bảo vệ quyền của bị can, bị
cáo, người bị tình nghi và cần có các giải pháp nhằm khắc phục có hiệu quả vi phạm
các quyền của bị can, bị cáo, người bị tình nghi đã được pháp luật ghi nhận[8] với các
tiêu chuẩn của xét xử công bằng, phải bảo vệ các quyền cần của bị can, người bị tình
nghi trước khi xét xử, bình đẳng trong tiếp cận chứng cứ, cung cấp chứng cứ và bình
đẳng trước Tòa án. Tất cả những người bị tình nghi phải được bảo đảm về quyền của
họ trong suốt quá trình tố tụng.
Khi giải quyết các vụ án hình sự có người bị hại là người đã bị tội phạm gây thiệt
hại về vật chất, thể chất hoặc tinh thần. Để đạt tới sự công bằng thì quyền bình đẳng
của người bị hại hoặc những người bảo vệ quyền lợi cho họ cũng phải bình đẳng đối
với bảo vệ quyền lợi cho bị can, bị cáo, người bị tình nghi. Có như vậy thì người bị hại
mới không bị "gây thiệt hại" một lần nữa do sự chậm chễ, kéo dài của tố tụng hoặc
chính tố tụng lại tạo ra sự bất bình đẳng trong bảo vệ quyền của người bị hại