Nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mĩ cho trẻ 4 – 5 tuổi trường mầm non tiền phong a – mê linh – hà nội thông qua hoạt động chắp ghép (2017) - Pdf 58

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON

=====
=

NGUYỄN THỊ NGỌC MAI

NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC THẨM MỸ
CHO TRẺ 4 – 5 TUỔI TRƯỜNG MẦM NON
TIỀN PHONG A – MÊ LINH – HÀ NỘI THÔNG
QUA HOẠT ĐỘNG CHẮP GHÉP
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phương pháp tổ chức hoạt động tạo hình
Người hướng dẫn khoa học

Giảng viên: PHẠM NGỌC THỊNH

HÀ NỘI - 2017


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các Thầy, Cô giáo trường Đại học
Sư phạm Hà Nội 2, các Thầy, Cô giáo khoa Giáo dục Mầm non. Đặc biệt, tôi
xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Phạm Ngọc Thịnh, người đã tận
tình hướng dẫn chỉ bảo tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu, hoàn thành
khóa luận này.
Tôi cũng xin gửi tới ban giám hiệu và các cô giáo trường mầm non Tiền
Phong A – Mê Linh – Hà Nội cùng với các bạn sinh viên K39MN đã giúp đỡ
và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa luận của mình.
Trong quá trình nghiên cứu, không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn

4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu ............................................... 3
4.1. Đối tượng nghiên cứu................................................................................. 3
4.2. Khách thể nghiên cứu................................................................................. 3
4.3.Phạm vi nghiên cứu..................................................................................... 4
5. Giả thuyết khoa học ...................................................................................... 4
6. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 4
7. Cấu trúc khóa luận ........................................................................................ 5
PHẦN II: NỘI DUNG ...................................................................................... 6
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN ........................................................................ 6
1.1. Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 4 – 5 tuổi ..................................................... 6
1.1.1. Đặc điểm tâm lý ...................................................................................... 6
1.1.2. Đặc điểm sinh lý...................................................................................... 8
1.2. Một số vấn đề về giáo dục thẩm mỹ - giáo dục thẩm mỹ cho trẻ 4 – 5 tuổi
........................................................................................................................... 9
1.2.1. Khái niệm thẩm mỹ................................................................................. 9
1.2.2. Giáo dục thẩm mỹ ................................................................................. 10
1.2.3. Nội dung giáo dục thẩm mỹ cho trẻ 4 – 5 tuổi...................................... 11
1.2.4. Ý nghĩa của việc giáo dục thẩm mỹ cho trẻ 4 – 5 tuổi ......................... 13


1.3. Hoạt động chắp ghép đối với trẻ 4 – 5 tuổi.............................................. 15
1.3.1. Khái quát về hoạt động chắp ghép ........................................................ 15
1.3.2. Hoạt động chắp ghép của trẻ 4 – 5 tuổi ................................................ 16
1.3.3. Vai trò của hoạt động chắp ghép đối với sự phát triển của trẻ. ............ 17
1.3.4. Ý nghĩa và tác dụng của hoạt động chắp ghép...................................... 19
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG GIÁO DỤC THẨM MỸ CHO TRẺ 4 – 5
TUỔI TRƯỜNG MẦM NON TIỀN PHONG A – MÊ LINH – HÀ NỘI
THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG CHẮP GHÉP ................................................. 20
2.1. Khái quát về trường mầm non Tiền Phong A – Mê Linh – Hà Nội ........ 20
2.2. Khảo sát thực trạng giáo dục thẩm mỹ cho trẻ 4 – 5 tuổi ở trường mầm



PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
“Trẻ em hôm nay thế giới ngày mai”
Trẻ em chính là tương lai của đất nước, vì vậy việc bồi dưỡng những
thế hệ mầm non trở thành công dân tốt để góp phần xây dựng đất nước là
nhiệm vụ hàng đầu của ngành giáo dục và của toàn xã hội.
Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc
dân, đặt nền móng cho sự phát triển về thể chất, nhận thức, tình cảm xã hội và
thẩm mỹ cho trẻ em. Nhân cách của trẻ cũng được hình thành mạnh mẽ trong
giai đoạn này. Chính vì vậy mà việc chăm sóc giáo dục trẻ trong độ tuổi này
là vô cùng quan trọng trong sự nghiệp giáo dục – là cơ sở hình thành và phát
triển nhân cách toàn diện cho trẻ sau này.
Trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo nhân cách bắt đầu được hình thành tuy chưa
hoàn toàn định hình nhưng nó có cơ sở tương đối ổn định trong việc tiếp tục
phát triển và hình thành nhân cách sau này. Lúc này trẻ dễ dàng tiếp nhận
những ấn tượng từ phía bên ngoài mang tính hình tượng và giàu cảm xúc. Đó
là những “cái đẹp” trong thiên nhiên, trong đời sống sinh hoạt và trong nghệ
thuật. Một bông hoa tươi thắm, một cánh bướm sặc sỡ đều có thể gợi lên
những rung động trong lòng đứa trẻ. Đó chính là cảm xúc thẩm mỹ - cảm xúc
về “cái đẹp”. Đặc biệt trẻ tuổi 4 – 5 tuổi cực kì nhạy cảm với “cái đẹp” xung
quanh, ở giai đoạn này trẻ đã có thể bộc lộ những cảm xúc phù hợp với “cái
đẹp”. Có thể coi đây là thời kì phát cảm của những cảm xúc thẩm mỹ. Ở lứa
tuổi này, tâm hồn trẻ rất nhạy cảm, dễ xúc động đối với con người và cảnh vật
xung quanh, trí tưởng tượng của trẻ bay bổng và phong phú. Vậy nên, việc
giáo dục thẩm mỹ cho trẻ 4 – 5 tuổi là một việc làm hết sức cần thiết và cần
thực hiện một cách nghiêm túc để ươm mầm những tài năng cho tương lai.

1


cho trẻ 4 – 5 tuổi trường mầm non Tiền Phong A – Mê Linh – Hà Nội
thông qua hoạt động chắp ghép” làm đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp
của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Thông qua đề tài “Nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mỹ cho trẻ 4 – 5
tuổi trường mầm non Tiền Phong A – Mê Linh – Hà Nội thông qua hoạt động
chắp ghép” để chỉ ra thực trạng và tìm ra biện pháp nâng cao hiệu quả giáo
dục thẩm mỹ của trẻ 4 – 5 tuổi trường mầm non Tiền Phong A thông qua hoạt
động chắp ghép.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Nghiên cứu lý luận
Phân tích và hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về hoạt động chắp
ghép ở trẻ 4 – 5 tuổi nhằm tìm ra biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm
mỹ cho trẻ để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu.
3.2. Tìm hiểu thực trạng
Tìm hiểu các biện pháp tổ chức hoạt động tạo hình cho trẻ 4 – 5 tuổi ở
trường mầm non Tiền Phong A, đặc biệt là các biện pháp giúp nâng cao hiệu
quả giáo dục thẩm mỹ cho trẻ thông qua hoạt động chắp ghép.
3.3. Đề xuất giải pháp về tổ chức nghiên cứu thực nghiệm
Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mỹ
của trẻ 4 – 5 tuổi thông qua hoạt động chắp ghép.
4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mỹ của trẻ 4 – 5 tuổi
thông qua hoạt động chắp ghép.
4.2. Khách thể nghiên cứu


Hoạt động chắp ghép của trẻ 4 – 5 tuổi trường mầm non Tiền Phong A

luận bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lí luận.
Chương 2: Thực trạng giáo dục thẩm mĩ cho trẻ 4 – 5 tuổi trường mầm
non Tiền Phong A – Mê Linh – Hà Nội thông qua hoạt động chắp ghép.
Chương 3: Để xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo
dục thẩm mĩ cho trẻ 4 – 5 tuổi trường mầm non Tiền Phong A – Mê Linh –
Hà Nội thông qua hoạt động chắp ghép.


PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. Đặc điểm tâm sinh lý của trẻ 4 – 5 tuổi
1.1.1. Đặc điểm tâm lý
Ở độ tuổi 4 – 5 tuổi hoạt động vui chơi được hoàn thiện và hình thành
“xã hội trẻ em”. Ở tuổi mẫu giáo bé, hoạt động vui chơi đã phát triển, tuy
nhiên phải đến độ tuổi 4 – 5 tuổi thì hoạt động vui chơi mới mang đầy đủ ý
nghĩa của nó nhất, cũng tức là nó đạt tới dạng chính thức và biểu hiện đầy đủ
nhất đặc điểm của hoạt động vui chơi. Có thể nói hoạt động vui chơi ở độ tuổi
này đang phát triển tới mức hoàn thiện được thể hiện ở những đặc điểm sau:
- Trẻ thể hiện rõ rệt tính tự lực, tự do, ít lệ thuộc vào người lớn và hoàn
toàn thể hiện theo ý thích của mình. Trẻ tự lực, tự do lựa chọn chủ đề và nội
dung chơi mà trẻ quan tâm. Lúc này thế giới nội tâm của trẻ đã phong phú
nên cá tính trẻ được bộc lộ rõ rệt nên chúng tự lựa chọn bạn cùng chơi hợp
với mình. Trẻ tự do tham gia vào các trò chơi mà trẻ thích và tự rời hoạt động
khi cảm thấy nhàm chán. Trẻ hành động một cách tự do và làm chủ được
hành động của mình. Chính vì vậy mà trẻ chủ động và khả năng tự lực của trẻ
tiến bộ rõ rệt.
- Trong khi vui chơi, trẻ 4 – 5 tuổi đã biết thiết lập những mối quan hệ
rộng rãi và phong phú với các bạn cùng chơi từ đó hình thành một “xã hội trẻ
em”. Ở độ tuổi này việc chơi trong nhóm bạn bè là một nhu cầu bức bách.

đồ đùng đồ chơi, việc trang trí lớp học, từ cách tổ chức hoạt động đến chính
những hành động của cô giáo như cách ăn mặc, nói năng, dáng điệu, cách ứng
xử… đều cần được quan tâm sao cho đẹp mắt để gợi lên những cảm xúc thẩm
mỹ - đạo đức.


Bên cạnh đó, ở độ tuổi này động cơ hành vi của trẻ cũng trở nên nhiều
màu nhiều vẻ như: động cơ tự khẳng định, động cơ nhận thức, động cơ thì
đua, động cơ muốn khám phá thế giới xung quanh, động cơ xã hội… những
động cơ đó có thể có sự pha trộn giữa tích cực và tiêu cực, do vậy cần phải
quan tâm đến nội dung động cơ của trẻ, cần phải phát huy động cơ tích cực và
uốn nắn động cơ tiêu cực.
Có thể nói đây là thời kỳ phát triển rực rỡ những nét tâm lý đặc trưng
cho tuổi mẫu giáo. Mà bao trùm lên tất cả là tính hình tượng, tính dễ xúc cảm
và tính đồng cảm trong hoạt động tâm lý.
Những thuộc tính tâm lý cũng như những phẩm chất nhân cách đan
phát triển ở độ tuổi này là điều kiện hết sức quan trọng để tạo ra một sự
chuyển tiếp mạnh mẽ ở độ tuổi sau. Do đó giáo dục cần tập trung hết mức để
giúp trẻ phát triển những đặc điểm này.
1.1.2. Đặc điểm sinh lý
Ở độ tuổi 4 – 5 tuổi, trẻ chậm lớn hơn, cơ thể biến đổi chủ yếu về chất
lượng. Cường độ chuyển hóa năng lượng yếu đi, chuyển hóa cơ bản giảm
hơn.
Các chức năng chủ yếu của cơ thể dần hoàn thiện, đặc biệt là chức
năng vận động phối hợp động tác, cơ lực phát triển nhanh. Vì vậy mà trẻ làm
động tác khéo léo hơn, gọn gàng hơn, có thể làm những công việc tương đối
khó, phức tạp hơn công việc tự phục vụ như tự ăn, mặc quần áo, tự vệ sinh cá
nhân…
Hệ thần kinh tương đối phát triển, hệ thần kinh trung ương và ngoại
biên đã biệt hóa, chức năng phân tích tổng hợp của vỏ não đã hoàn thiện, số

thẩm mỹ cao nhất, vì vậy cần giáo dục thẩm mỹ cho trẻ ngay từ khi còn nhỏ.


1.2.2. Giáo dục thẩm mỹ
Giáo dục thẩm mỹ là một trong những bộ phận quan trọng của giáo dục
toàn diện đối với trẻ và cần bắt đầu ngay từ lứa tuổi mầm non.
Giáo dục thẩm mỹ cho trẻ là một môn khoa học vì nó có hệ thống giáo
dục tốt nhất, có nguyên lý xuất phát, có đối tượng thẩm mỹ, có phương pháp
nghiên cứu, có hệ thống khái niệm và phạm trù riêng biệt, có lịch sử phát sinh
và phát triển. Theo quan điểm của Mỹ học Mác – Lê Nin, giáo dục thẩm mỹ
được hiểu theo 2 nghĩa:
- Nghĩa hẹp: Giáo dục thẩm mỹ là quá trình giáo dục có tính trường quy
về “cái đẹp”, giáo dục con người biết cảm thụ, đánh giá và sáng tạo “cái đẹp”.
- Nghĩa rộng: Giáo dục thẩm mỹ là quá trình giáo dục và tự giáo dục
nhằm phát huy mọi năng lực của con người theo quy luật “cái đẹp”, trong đó
có việc bồi dưỡng nhận thức thị hiếu thẩm mỹ, lý tưởng thẩm mỹ của con
người. Xây dựng những tình cảm mạnh mẽ để con người có thể phân biệt rạch
ròi giữa “cái đẹp” và cái xấu, cái cao cả và cái thấp hèn.
Giáo dục thẩm mỹ là một quá trình tác động có hệ thống và có mục đích
vào nhân cách của cá nhân nhằm phát triển năng lực cảm thụ và nhận biết “cái
đẹp” trong nghệ thuật, trong tự nhiên và trong đời sống xã hội, giáo dục lòng
yêu “cái đẹp” và đưa “cái đẹp” vào trong đời sống xã hội một cách sáng tạo.
Nhiệm vụ của giáo dục thẩm mỹ là hình thành ở trẻ các quan hệ thẩm mỹ đối
với hiện thực, thúc đẩy trẻ hoạt động sáng tạo theo quy luật của “cái đẹp”.
Một cách đơn giản cũng có thể hiểu được “cái đẹp” trong hiện thực, trong tự
nhiên, trong lao động sinh hoạt, trong các mối quan hệ và hành vi của con
người cũng như trong nghệ thuật, phát triển các quan điểm thị hiếu, tình cảm,
nhu cầu và năng lực xây dựng “cái đẹp” một cách tích cực và sáng tạo.
Như vậy, bản chất của giáo dục thẩm mỹ là nguyên tắc hoạt động sáng
tạo của con người theo quy luật của “cái đẹp”. Nghĩa là con người luôn hướng


nghệ thuật cho trẻ là một quá trình khó khăn và phức tạp. Đặc điểm sáng tạo
của trẻ thể hiện ở chỗ: trong hoạt động trẻ thực hiện một cách có chủ định,
biết phối hợp các tri thức về ấn tượng của mình ở tính chân thật cao khi thể
hiện tình cảm và tư tưởng. Hơn nữa, đặc điểm tâm lý được thể hiện rất rõ ở
tuổi mẫu giáo là sự bắt chước. Đặc điểm này thể hiện rất rõ trong hoạt động
vui chơi của trẻ. Trong trò chơi trẻ bắt chước những hoạt động của người lớn,
trẻ biết mô phỏng bằng hình ảnh, những ấn tượng lấy trong thế giới xung
quanh. Óc tưởng tượng sáng tạo của trẻ cũng được thể hiện ở chỗ các em
thường kết hợp có ý thức các chủ đề khác nhau. Các em lấy tư tưởng từ
truyện cổ tích, trong phim ảnh, trong cuộc sống... các em phối hợp các tri
thức, ấn tượng và thống nhất chúng trong một cái hoàn chỉnh. Tính sáng tạo
của trẻ còn được thể hiện trong các hình thức nghệ thuật khác như: vẽ, nặn, kể
chuyện hay ca hát. Ở tuổi mẫu giáo trẻ đã có mầm mống của tính sáng tạo,
chúng thể hiện ở sự phát triển năng lực xây dựng có chủ định và thực hiện nó;
ở kỹ năng phối hợp các tri thức, các khái niệm của mình. Vì vậy, để phát triển
óc sáng tạo cho trẻ cần có quá trình dạy – học để giúp trẻ cách diễn đạt hình
tượng và mô tả chủ định, khơi dậy ở trẻ những biểu hiện có ý thức về nghệ
thuật, có cảm xúc tích cực và phát triển năng lực cho trẻ. Mục đích của việc
dạy kỹ năng, kỹ xảo hoạt động nghệ thuật không chỉ giúp trẻ có tri thức và kỹ
xảo về ca, hát, vẽ, mà còn gây ở trẻ hứng thú, hoạt động độc lập, sáng tạo,
đem lại niềm vui trong cuộc sống của trẻ, trong tập thể và gia đình.
Hình thành những cơ sở của thị hiếu thẩm mỹ. Sự cảm thụ “cái đẹp” có
liên hệ mật thiết đến năng lực đánh giá “cái đẹp” một cách đúng đắn. Thị hiếu
thẩm mỹ của con người thể hiện ở sự phán đoán đánh giá. Cần dạy cho trẻ
phân biệt “cái đẹp” với cái không đẹp. Giáo dục cho các em năng lực trình
bày lý do tại sao lại thích bức tranh này, bài hát này, câu truyện này. Có thể
hình thành cơ sở của thị hiếu thẩm mỹ thông qua việc tìm hiểu các tác phẩm



Giáo dục trẻ bằng các phương tiện nghệ thuật là đối tượng của giáo dục nghệ
thuật, một bộ phận quan trọng của giáo dục thẩm mỹ.
- Giáo dục thẩm mỹ có mối liên hệ mật thiết với giáo dục đạo đức và trí
tuệ. Cảm xúc thẩm mỹ không những được xây dựng trên cơ sở cảm thụ “cái
đẹp” mà còn trên cơ sở hiểu biết sâu sắc nội dụng tư tưởng của tác phẩm nghệ
thuật. Những cảm xúc thẩm mỹ có ảnh hưởng lớn đến đạo đức của con người
và làm cho tính cách của con người thêm cao thượng. Cảm xúc thẩm mỹ làm
phong phú thêm cuộc sống, góp phần giáo dục tính lạc quan, yêu đời, khêu
gợi ở các em tính tích cực sáng tạo và ảnh hưởng đến việc hình thành mối
quan hệ của chúng với cuộc sống và những người xung quanh. Giáo dục thẩm
mỹ làm cho sự tự giác được sắc bén hơn, giúp cho việc hiểu cái đã tự giác
được sâu sắc hơn và góp phần phát triển.
- Giáo dục thẩm mỹ có liên hệ trực tiếp với giáo dục lao động và thể dục.
Bản thân lao động được tổ chức là một phương tiện giáo dục thẩm mỹ. Toàn
bộ vẻ đẹp của hoàn cảnh và sự tổ chức quá trình lao động có tác dụng nâng
cao năng suất lao đông. Sức khoẻ và phát triển thể lực tốt, tư thế đẹp bao giờ
cũng gây ra cảm giác đẹp và có tác dụng thẩm mỹ đến sự phát triển chung về
mặt tinh thần của con người. Vẻ đẹp của các thao tác, các vận động, của nhịp
điệu kích thích hứng thú ở trẻ đối với việc tập thể dục và thể thao.
Như vậy, giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận của giáo dục toàn diện, góp
phần quan trọng vào việc hình thành nhân cách, phát triển toàn diện, Giáo dục
thẩm mỹ cần được tiến hành ngay ở lứa tuổi mẫu giáo. Các hình tượng nghệ
thuật tác động vô cũng mạnh mẽ đến trẻ em. Bởi vì trẻ em cảm thụ nhờ tư duy
trực quan hình tượng, nhờ tính dễ xúc cảm và nhờ mối quan hệ tích cực của
trẻ mẫu giáo đối với hiện thực xung quanh.


1.3. Hoạt động chắp ghép đối với trẻ 4 – 5 tuổi
1.3.1. Khái quát về hoạt động chắp
ghép

nghệ


thuật. Đây là điều kiện vô cùng thuận lợi giúp trẻ thêm gắn bó với cuộc sống,
con người xung quanh, hình thành ở trẻ ý thức, tình cảm xã hội và thói quen
lao động có ích. Thông qua đó cũng giúp trẻ nhận thức về “cái đẹp” biết yêu
quý, bảo vệ “cái đẹp” dần hình thành và nâng cao tính thẩm mĩ cho trẻ.
- Vật liệu chắp ghép:
+ Vật liệu thiên nhiên: Lá, quả, sỏi, hạt, vỏ sò, đá, vỏ cây…
+ Vật liệu có sẵn tận dụng từ phế liệu: Vỏ hộp, lõi giấy cuộn, bình, lọ,
len vụn, nắp chai…
+ Vật liệu khác: Keo, hồ, dăng dính, màu bột, màu nước…
1.3.2. Hoạt động chắp ghép của trẻ 4 – 5
tuổi
- Phát triển khả năng quan sát, gọi tên và phân biệt được các khối
hình và tập cho trẻ sử dụng các khối hình theo tính chất, đặc điểm để tạo ra
các mô hình có kết cấu mới phong phú hơn.
Phát triển khả năng ước lượng bằng mắt để so sánh, lựa chọn vật liệu,
đồ chơi xây dựng, phân loại theo nhóm và biết sử dụng vật thay thế trong
quá trình lắp ráp cho hợp lý và đẹp.
- Lắp ráp theo mẫu, lắp ráp theo chủ đề đơn giản và tạo ra các trò
chơi với mô hình đã hoàn thành. Cho trẻ chắp ghép các hình khối tạo ra các
sản phẩm đơn lẻ và chắp ghép để tạo thành các sản phẩm theo đề tài hợp lí
như:
+ Sắp xếp các hình khối, các chi tiết, màu sắc khác nhau tạo nên các mô
hình cảnh nhà, cây, núi, xe ô tô, tàu hoả...
+ Cho trẻ gấp, dán từ giấy màu các loại để tạo nên một số mô hình khác
nhau.
Trẻ tự độc lập suy nghĩ và tm kiếm nội dung, sáng tạo theo ý tưởng
riêng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status