Tóm tắt Luận án tiến sĩ Nông nghiệp: Ảnh hưởng của phân bón đến độ phì nhiêu đất đỏ bazan và năng suất cà phê ở cao nguyên Di Linh, Lâm Đồng - Pdf 58

1

MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nâu đỏ phát triển trên đá bazan (Rhodic Ferralsols – FRr), là
loại đất có độ phì nhiêu tự nhiên khá cao do có tầng canh tác dày, tơi xốp,
hàm lượng chất hữu cơ, lân tổng số ở giàu, đạm tổng ở mức khá. Loại đất
này rất thích hợp trồng nhóm cây lâu năm có giá trị kinh tế cao như cà
phê, chè, hồ tiêu và cây ăn quả. Tỉnh Lâm Đồng, có 212.049 ha đất nâu đỏ
bazan, phân bố chủ yếu ở cao nguyên Di Linh (182.818 ha).
Tính đến năm 2015 toàn tỉnh Lâm Đồng có 157.307 ha cà phê,
được trồng tập trung ở cao nguyên Di Linh với diện tích 140.482 ha
(chiếm 89,3% diện tích cà phê của tỉnh) chủ yếu là cây cà phê vối (Coffea
canephora Pierre).
Năng suất cà phê vối của Việt Nam hơn 10 năm gần đây luôn đạt
bình quân trên 2 tấn nhân/ha, thuộc loại cao nhất thế giới, có nhiều nơi
điển hình đạt 5 – 6 tấn/ha, cá biệt có những hộ đạt 9 – 10 tấn/ha. Đóng góp
vào kết quả trên gồm nhiều yếu tố kỹ thuật (giống, chăm sóc, tưới nước,
bảo vệ thực vật), nhưng phân bón vẫn là một yếu tố chi phối mang tính
quyết định.
Cà phê là cây lâu năm trồng trên các vùng đất cao, do đó cùng với
nhu cầu cao về dinh dưỡng N, P, K thì phân hữu cơ có vai trò rất quan
trọng để tạo môi trường thâm canh ổn định và hiệu quả. Vì lý do đó, đã có
nhiều nghiên cứu về tác động của phân vô cơ N, P, K và phân hữu cơ đến
năng suất, chất lượng cà phê vối ở vùng Tây Nguyên. Tiêu biểu là các
công trình nghiên cứu của Trương Hồng và Tôn Nữ Tuấn Nam, 1999; Y
Kanin Hdơk, 2005; Trình Công Tư, 1996; Lê Hồng Lịch, 2000; Hồ Công
Trực và Phạm Quang Hà, 2004, Nguyễn Văn Minh (2014), Nguyễn Văn
Bộ (2016),… Tuy vậy, các nghiên cứu này chủ yếu tập trung ở Đăk Lăk,
Gia Lai, hơn nữa, đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào quan tâm


chất lượng cao bù đắp cho nhu cầu phân hữu cơ là hết sức cần thiết.


3

Một quá trình dài sử dụng phân bón cho cà phê chưa đúng, không
hợp lý một mặt gây thiệt hại về kinh tế và ảnh hưởng trực tiếp đến độ phì
nhiêu đất trồng cà phê tại cao nguyên Di Linh, điển hình là hàm lượng
Ca2+, Mg2+ giảm, đất bị chua hóa (pHKCl còn 3,53 – 4,67), lượng Al3+ và
SO42- trong đất có xu thế tăng cao (Lâm Văn Hà, 2016).
Trước nhu cầu cấp bách phải có một nghiên cứu đầy đủ và hệ thống
về mối quan hệ giữa đất – phân bón – sinh thái môi trường đất phục vụ
thâm canh cây cà phê bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu, đề tài
nghiên cứu “Ảnh hưởng của phân bón đến độ phì nhiêu đất đỏ bazan và
năng suất cà phê ở cao nguyên Di Linh, Lâm Đồng” được thực hiện.
1.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Cung cấp thông tin mới về mối quan hệ của phân bón – độ phì
nhiêu – sinh thái môi trường đất nâu đỏ bazan tại cao nguyên Di Linh. Bổ
sung cơ sở khoa học trong chiến lược quản lý bón phân cân đối, hợp lý
giữa phân vô cơ với phân hữu cơ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng
phân bón và cải thiện độ phì nhiêu đất nâu đỏ bazan phục vụ thâm canh
bền vững cây cà phê.
- Đóng góp một số giải pháp kỹ thuật sử dụng phân bón trong sản
xuất cà phê theo hướng tăng hiệu quả kinh tế và cải thiện độ phì nhiêu đất
nâu đỏ bazan trong chiến lược sử dụng, bảo vệ tài nguyên đất bền vững
của tỉnh Lâm Đồng.
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
1.3.1 Đánh giá tác động của phân hữu cơ, đạm và lân đến độ phì nhiêu
của đất nâu đỏ bazan trồng cà phê vối tại vùng cao nguyên Di Linh, Lâm
Đồng.

1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá độ phì nhiêu đất
1.1.3.1 Các chỉ tiêu vật lý
1.1.3.2 Các chỉ tiêu hóa học
1.2 Vai trò của sinh vật đối với độ phì nhiêu đất nông nghiệp


5

1.3 Đặc điểm độ phì nhiêu của đất đỏ phát triển trên đá bazan
1.3.1 Thành tạo và phân bố của đất đỏ phát triển trên đá bazan ở Việt Nam
1.3.2 Đặc điểm lý, hóa học và sinh học đất đỏ phát triển trên bazan
1.3.3 Diễn biến độ phì nhiêu đất đỏ bazan trồng cà phê vùng Tây Nguyên
1.3.3.1 Tính chất vật lý
1.3.3.2. Tính chất hoá học
1.3.4 Đặc điểm đất nâu đỏ bazan vùng nghiên cứu
1.4 Vai trò của phân bón với năng suất cây trồng và độ phì nhiêu đất
1.4.1 Khái niệm về phân bón và vai trò của phân bón trong sản xuất nông
nghiệp
1.4.2 Vai trò của phân đạm, lân, kali với năng suất cà phê vối và đồ phì
nhiêu đất
1.4.2.1 Đặc điểm sinh thái của cây cà phê vối
1.4.2.2 Vai trò của đạm (N) với cây cà phê vối
1.4.2.3 Vai trò của lân (P) với cây cà phê vối
1.4.2.4 Vai trò của kali (K) với cây cà phê vối
1.4.2.5 Ảnh hưởng của phân đạm, lân và kali đến độ phì nhiêu đất
1.4.3 Phân hữu cơ, vai trò của phân hữu cơ đến năng suất cây trồng
và độ phì nhiêu đất
1.4.3.1 Các nguồn chất hữu cơ chính bổ sung vào đất
1.4.3.2 Vai trò của phân hữu cơ
CHƯƠNG II. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Điều tra, phỏng vấn nhanh nông dân trên phiếu thông tin in sẵn.
- Địa điểm điều tra gồm 3 huyện Lâm Hà, Di Linh và Bảo Lâm.
Tổng số phiếu điều tra là 135 phiếu; Điều tra về diện tích, năng suất và
thực trạng sử dụng phân bón cho cà phê vối.


7

2.4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm đồng ruộng
Thí nghiệm 3 nhân tố được bố trí theo kiểu ô lớn của ô nhỏ (Split –
Plot Design) với 3 lần lặp lại trong đó ô lớn gồm 2 nghiệm thức (có bón
phân hữu cơ và không bón phân hữu cơ), ô nhỏ với 4 mức đạm (250, 320,
390 và 460 kg N/ha), 3 mức lân (100, 150 và 200 kg P2O5/ha) trên nền
phân kali (350 kg K2O/ha). Mỗi ô nhỏ có diện tích 81 m2 (tương đương
với 9 cây cà phê) và ô lớn có diện tích 3.600 m2.
Mô hình trình diễn được bố trí tại hai địa điểm: Mỗi mô hình gồm
có 3 nghiệm thức: đối chứng nông dân, nghiệm thức phân NPK và nghiệm
thức phân NPK kết hợp với phân hữu cơ. Diện tích mỗi mô hình là 1,5 ha,
mỗi nghiệm thức là 5.000 m2 và mật độ là 1.100 cây cà phê/ha.
+ Mô hình 1: Thôn Đan Hà, xã Đan Phượng, huyện Lâm Hà, tỉnh
Lâm Đồng.
+ Mô hình 2: Thôn 7, xã Phúc Thọ, huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.
Bảng 2.1 Liều lượng phân hữu cơ chế biến, đạm và lân của các nghiệm
thức nghiên cứu (trên nền 350 kg K2O/ha/năm).
Nghiệm thức

Phân hữu cơ

(NT)


100

460

NT5

0

150

250

NT6

0

150

320

NT7

0

150

390

NT8


NT11

0

200

390

NT12

0

200

460

NT13

10

100

250

NT14

10

100


150

320

NT19

10

150

390

NT20

10

150

460

NT21

10

200

250

NT22

2.4.4 Kỹ thuật chăm sóc theo hướng dẫn của 10 TCN 478 – 2001.
2.4.5 Phương pháp thu thập mẫu đất
2.4.5.1 Mẫu giun đất (thu thập vào tháng 5, 7 và 10 của năm 2014): theo
phương pháp của Fender và McKey-Fender (1990), số lượng mẫu 72.
2.4.5.2 Mẫu đất đánh giá mật độ vi sinh vật (thu thập vào tháng 10 năm
2014): theo TCVN 7538-6:2010, số lượng mẫu 72.


9

2.4.5.3 Mẫu đất đánh giá các chỉ tiêu vật lý và hóa học (thu thập tháng
11/2014): Mẫu đất phân tích dung trọng, tỉ trọng, độ xốp và đoàn lạp bền
trong nước được thu thập theo TCVN 5297: 1995 và TCVN 7538-2:2005
bằng bộ dụng cụ chuyên dùng. Mẫu đất phân tích một số chỉ tiêu hóa học
được thu thập theo TCVN 5297: 1995 và WASI trên đất canh tác cà phê,
số lượng mẫu 72.
2.4.6 Phương pháp phân tích mẫu đất: Một số tính chất lý, hóa và sinh học
đất (dung trọng, tỷ trong, độ xốp, đoàn lạp bền trong nước; pH, OM, CEC,
Ca2+, Mg2+, Al3+, SO42-; vi sinh vật tổng số, cố định đạm, phân giải P,
phân giải cellulose) được phân tích theo TCVN và Sổ tay phân tích đất,
nước, phân bón và cây trồng của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa (1998).
2.4.7 Phương pháp thu mẫu, tính toán năng suất cà phê và hiệu quả kinh
tế: NS và hiệu quả kinh tế được thu thập bắt đầu từ năm thứ 2 của thí
nghiệm đồng ruộng và theo dõi liên tục trong 3 năm (2013, 2014 và 2015).
2.4.8 Phương pháp xử lý thống kê số liệu:
Các số liệu thu thập được phân tích phương sai (ANOVA) và các
giá trị trung bình được trắc nghiệm theo LSD (khác biệt có ý nghĩa nhỏ
nhất) với mức α ≤ 0,05 bằng phần mềm IRRITAS phiên bản 5.0. Tương
quan giữa các yếu tố được phân tích bằng phần mềm XLSTAT 2012 và
Microsoft Office Excel 2010. Phương pháp phân tích thành phần chính

3 - 4 tấn nhân/ha là 250 – 300 kg K2O/ha/năm, có 36,3% số hộ bón kali ở
mức thấp (thiếu), 47,4% số hộ bón thừa kali.
Nông dân bón phân NPK cao nhưng NS không tăng, bón không
theo NS thực thu gây hậu quả lãng phí phân bón và hiệu quả kinh tế thấp.
- Tỷ lệ giữa các loại phân bón N:P2O5:K2O: Tỷ lệ bình quân bón
phân đạm, lân và kali của nông dân nhìn chung mất cân đối (N : P2O5 :
K2O là 1,38 : 1 : 0,94), trong đó lượng phân đạm và lân cao hơn rất nhiều
so với kali và so với khuyến cáo (3 : 1 : 3).
3.1.3 Thực trạng sử dụng phân hữu cơ bón cho cà phê vối


11

Số hộ sử dụng phân hữu cơ chiếm 61,5% so với tổng số hộ điều tra;
Trong đó có 53,0% số hộ sử dụng phân chuồng tươi chưa qua xử lý; Số hộ
bón phân hữu cơ chế biến chiếm 27,7%. Liều lượng phân chuồng bón rất
biến động, dao động từ 8,5 – 35 tấn/ha, trung bình 16,8 tấn/ha và bón 2 – 3
năm/lần. Đối với phân hữu cơ chế biến, bón 1,0 – 5,3 tấn/ha/năm, trung
bình 2,8 tấn/ha/năm.
3.2 Ảnh hưởng của liên tục bón phân hữu cơ, đạm và lân cho cây cà
phê đến độ phì nhiêu đất nâu đỏ bazan vùng cao nguyên Di Linh,
Lâm Đồng
3.2.1 Ảnh hưởng của liên tục bón phân hữu cơ, đạm và lân cho cây cà phê
đến tính chất vật lý
3.2.1.1 Ảnh hưởng của liên tục bón phân hữu cơ đến tính chất vật lý đất
Bón phân hữu cơ liên tục 3 năm với lượng 10 tấn/ha/năm cho thấy
tỷ trọng đất không thay đổi; dung trọng đất giảm 10,2%; độ xốp tăng lên
7,5% và độ bền đoàn lạp tăng 17,2% so với không bón phân hữu cơ (khác
biệt có ý nghĩa thống kê).
3.2.1.2 Ảnh hưởng của liên tục bón phân đạm đến một số tính chất vật lý

3.2.2.1 Ảnh hưởng của liên tục bón phân hữu cơ đến động thái pH của đất
Ảnh hưởng của việc bón và không bón phân hữu cơ đến pHH2O qua
các năm 2013, 2014 và 2015 là khác biệt có ý nghĩa thống kê. Bón 10 tấn
phân hữu cơ/ha/năm, động thái pHH2O qua các năm 2013, 2014, 2015 là
tăng dần so với không bón phân hữu cơ trung bình 6%.
3.2.2.2 Ảnh hưởng của liên tục bón phân đạm đến động thái pH của đất
Qua 4 năm liên tục bón phân N với các mức khác nhau (250, 320,
390 và 460 kg N) đã làm cho pH đất thay đổi một cách rõ rệt, khi sử dụng
liều lượng phân N ở mức (460 kg N/ha/năm) làm cho pH giảm thấp hơn so
với đất trước thí nghiệm, điều này thể hiện rõ nhất vào năm thứ tư (2015)
của thí nghiệm.


13

3.2.2.3 Ảnh hưởng của liên tục bón phân lân đến động thái pH của đất
pH tăng dần ở mức lân 200 kg P2O5/ha/năm qua các thời điểm
2013, 2014 và 2015, đặc biệt cao nhất ở năm 2015, bón phân lân nung
chảy trong lâu dài đã cải thiện độ pH đất nâu đỏ bazan.
3.2.2.4 Ảnh hưởng giữa các liều lượng phân hữu cơ, đạm và lân đến động
thái pH của đất.
Tương hỗ giữa phân đạm và hữu cơ làm cho pH cao một cách có ý
nghĩa khi bón 10 tấn phân hữu cơ/ha/năm với 320 kg N/ha/năm.
Tương hỗ giữa các liều lượng phân hữu cơ, đạm và lân đến pHH2O
cao nhất (có ý nghĩa) ở NT18 (320 N – 200 P2O5 – 350 K2O + 10 tấn phân
hữu cơ/ha/năm)là 6,3 và thấp nhất ở NT4 (460 N – 100 P2O5 – 350
K2O/ha/năm) là 4,8.
3.2.2.5 Ảnh hưởng của liên tục bón phân hữu cơ đến một số tính chất hóa
học đất
Bón phân hữu cơ 10 tấn/ha/năm làm tăng hàm lượng OM, CEC,

K2Odt, Ca2+, Al3+ và SO42- trong đất khác biệt không có ý nghĩa thống kê.
Hàm lượng Mg2+ tăng theo liều lượng của phân lân nung chảy bón vào đất
và cao nhất ở mức P3 (2,07 cmolc/kg đất).
3.2.2.8 Ảnh hưởng giữa các liều lượng phân hữu cơ, đạm và lân đến một
số tính chất hóa học đất
- Sự tương hỗ giữa phân N, P và hữu cơ với mức bón (320 kg N –
150 kg P2O5 – 350 kg K2O + 10 tấn phân hữu cơ/ha/năm) có CEC cao
nhất (có ý nghĩa) là 17,9 cmolc/kg đất và thấp nhất ở mức bón (460 kg N –
200 kg P2O5 – 350 kg K2O/ha/năm), và mức bón (460 kg N – 150 kg P2O5
– 350 kg K2O/ha/năm) là 12,2 cmolc/kg đất.
- Ảnh hưởng tương hỗ giữa các liều lượng phân hữu cơ, đạm và lân
đến hàm lượng OM, Nts trong đất cao nhất (có ý nghĩa) ở NT14 (320 kg N
– 100 kg P2O5 – 350 kg K2O + 10 tấn phân hữu cơ/ha/năm), thấp nhất ở


15

NT8 (460 kg N – 150 kg P2O5 – 350 kg K2O/ha/năm) và NT12 (450 kg N
– 200 kg P2O5 – 350 kg K2O/ha/năm).
- Tác động tương hỗ giữa phân vô cơ N, P và phân hữu cơ ở các
(NT 13 – NT24) làm cho tỉ lệ C/N giao động từ 10,3 – 16,9, ở mức tối ưu
trong quá trình cung cấp khoáng N cho cây và tích lũy mùn cho đất.
Ngược lại ở các NT bón phân vô cơ N, P mà không bón phân hữu cơ (NT1
– NT12) thì tỉ lệ C/N dao động trong khoảng 9,3 đến 11,9 báo hiệu mức
độ khoáng hóa mạnh sự tích trữ mùn trong đất bị suy giảm.
- Hàm lượng P2O5dt cao nhất (có ý nghĩa) ở NT14 (320 kg N – 100
kg P2O5 – 350 kg K2O + 10 tấn phân hữu cơ) 14,8 mg/100g và thấp nhất ở
NT8 (460 kg N – 150 kg P2O5 – 350 kg K2O + 0 tấn phân hữu cơ) là 9,2
mg/100g đất. Hàm lượng K2Odt ở các NT bón phân vô cơ N, P không bón
phân hữu cơ (NT1 – NT12) dao động 12,2 – 19,2 mg/100g đất và ở các

như sinh khối giun đất tăng (gấp 2,5; 2,6 và 7,6 lần) so với không bón
phân hữu cơ (khác biệt có ý nghĩa thống kê) và cũng cao hơn so với đất
trước thí nghiệm.
3.2.3.2 Ảnh hưởng của liên tục bón phân đạm đến mật độ, kích thước và
sinh khối giun đất
Ở bón mức N2 = 320 kg N/ha gây ảnh hưởng cao nhất đến mật độ
giun qua các tháng (5, 7 và 10) cũng như kích thước và sinh khối giun và
thấp nhất ở mức bón 460kg N/ha/năm (một cách có ý nghĩa thống kê).
3.2.3.3 Ảnh hưởng của liên tục bón phân lân đến mật độ, kích thước và
sinh khối giun đất: Liều lượng phân lân hầu như không có ảnh hưởng lớn
đến mật độ của giun đất trên đất nâu đỏ bazan.
3.2.3.4 Ảnh hưởng giữa các liều lượng phân hữu cơ, đạm và lân đến mật
độ, kích thước và sinh khối giun đất
- Mật độ giun cao nhất ở mức bón 10 tấn phân hữu cơ/ha/năm với
200 kg P2O5/ha/năm và thấp nhất ở mức bón 200 kg P2O5/ha/năm mà
không có phân hữu cơ. Tương hỗ giữa các phân lân với phân hữu cơ đến
kích thước giun là có ý nghĩa thống kê, bón 10 tấn phân hữu cơ với 150 kg


17

P2O5/ha/năm làm cho kích thước giun lớn nhất so với các mức còn lại và
thấp nhất ở mức bón 150 kg P2O5/ha/năm không có phân hữu cơ.
- Ảnh hưởng tương hỗ giữa phân đạm với phân hữu cơ đến kích
thước và sinh khối giun đất cao một cách có ý nghĩa ở mức bón 320 kg
N/ha/năm với 10 tấn phân hữu cơ và thấp nhất ở mức bón 460 kg
N/ha/năm không có phân hữu cơ. Tác động tương hỗ giữa đạm với lân cho
thấy kích thước giun cao nhất (có ý nghĩa) ở mức bón (kg/ha/năm) 320 N
với 100 P2O5 và giảm thấp nhất ở mức 460 N kết hợp với 200 P2O5.
- Khảo sát ảnh hưởng tương hỗ của các liều lượng phân N, P và hữu

đất
Ảnh hưởng của các mức phân lân đến mật độ vi sinh vật tổng số, vi
sinh vật phân giải cellulose là không có ý nghĩa thống kê. Đối với mật độ
vi khuẩn cố định đạm, vi sinh vật phân giải lân trong đất là khác biệt có ý
nghĩa thống kê. Mật độ vi sinh vật phân giải lân cao nhất ở mức bón 100
kg P2O5/ha/năm là 1,4x106 cfu/g đất và thấp nhất ở mức bón 200 kg
P2O5/ha/năm là 8x105 cfu/g đất; mật độ vi khuẩn cố định đạm 100 kg
P2O5/ha/năm là 8,9x104 cfu/g đất và thấp nhất ở mức bón 200 kg
P2O5/ha/năm là 4,6x104 cfu/g đất.
3.2.4.4 Ảnh hưởng giữa các liều lượng phân hữu cơ, đạm và lân đến mật
độ vi sinh vật trong đất
- Mật độ vi sinh vật tổng số đạt cao nhất (có ý nghĩa) ở NT14 (320
kg N – 100 kg P2O5 – 350 kg K2O + 10 tấn phân hữu cơ/ha/năm) là 7,1
x106 cfu/g đất và thấp nhất ở NT8 (460 kg N – 150 kg P2O5 – 350 kg
K2O/ha/năm) là 2,1x106 cfu/g đất. Mật độ vi khuẩn cố định đạm đạt cao
nhất ở NT17 (250 kg N – 150 kg P2O5 – 350 kg K2O + 10 tấn phân hữu
cơ/ha/năm) là 14,7x104 cfu/g đất và thấp nhất ở NT8 (460 kg N – 150 kg
P2O5 – 350 kg K2O /ha/năm) là 2,3x104 cfu/g đất.
- Tác động tương hỗ giữa các liều lượng phân lân với phân hữu cơ
đến mật độ vi sinh vật phân giải lân cao nhất (có ý nghĩa) ở mức bón 100
kg P2O5 kết hợp với 10 tấn phân hữu cơ/ha/năm và thấp nhất là mức bón


19

200 kg P2O5 và không có phân hữu cơ. Tác động tương hỗ giữa các liều
lượng phân lân với đạm đến mật độ vi sinh vật phân giải lân cao nhất (có ý
nghĩa) ở mức bón 100 kg P2O5 kết hợp với 250 kg N/ha/năm và thấp nhất
ở mức bón 150 kg P2O5 với 460 kg N/ha/năm. Tác động tương hỗ giữa các
liều lượng phân đạm với phân hữu cơ đến mật độ vi sinh vật phân giải lân

- Tương quan giữa hàm lượng OM với CEC, K2Ots, K2Odt và Ca2+
trong đất với hệ số r lần lượt là 0,95; 0,94; 0,94 và 0,94 (P ≤ 0,01) đây là
mối tương quan rất chặt. Tương quan giữa Al3+ với pH và giữa CEC với
K2Odt có hệ số tương quan r lần lượt là -0,91 và 0,96 (P ≤ 0,01). Tương
quan giữa Ca2+ với pH, CEC, K2Ots, K2Odt và Al3+ (độc tố nhôm) trong
đất với hệ số r lần lượt: 0,90; 0,93; 0,92; 0,92 và - 0,92 (P ≤ 0,01) đây là
mối tương quan rất chặt.
3.2.5.3 Tương quan giữa một số tính chất vật lý và hóa học đất với mật
độ, kích thước và sinh khối giun đất cũng như mật độ của vi sinh vật đất
- Tương quan giữa mật độ giun đất với dung trọng, độ xốp và độ
bền đoàn lạp đất với hệ số r lần lượt là - 0,95; 0,95 và 0,98 (P ≤ 0,01).
Giữa kích thước giun với dung trọng, độ xốp và độ bền đoàn lạp đất với hệ
số r lần lượt là - 0,94; 0,94 và 0,99 (P ≤ 0,01).
- Tương quan giữa OM với mật độ, kích thước và sinh khối giun
đất là mối tương tác rất chặt với r lần lượt: 0,95; 0,96 và 0,90 (P < 0,01).
Giữa pH với mật độ giun đất có hệ số tương quan r = 0,83 (P ≤ 0,05), thể
hiện được pH đất ảnh hưởng có ý nghĩa đến sự sinh trưởng của giun đất.
Tương quan giữa hàm lượng Ca2+ với mật độ, kích thước và sinh khối
giun đất với hệ số r lần lượt là 0,93; 0,93 và 0,81 với (P ≤ 0,01).
- Tương quan đa tuyến tính giữa các yếu tố (dung trọng, tỉ trọng, độ
xốp, đoàn lạp, CEC, pH, Nts, P2O5dt, K2Odt, K2Ots, Ca2+, Mg2+, Al3+
cũng như mật độ, kích thước, sinh khối giun đất và mật độ vi sinh vật
trong đất) với thành phần chính là hàm lượng chất hữu cơ, mức độ tuyến


21

tính của các biến qua trục F1 và F2 là 82,23%. Như vậy có thể thấy, giữa
dung trọng, độ xốp và đoàn lạp bền trong nước (vật lý) với hàm lượng
OM, pH, CEC, Nts, K2Odt, Ca2+, Al3+ (hóa học) và mật độ, kích thước và

3.3.4 Ảnh hưởng giữa các liều lượng phân hữu cơ, đạm và lân đến NS cà
phê vối trên nền đất nâu đỏ bazan
- Tác động tương hỗ giữa phân hữu cơ và đạm đến tỉ lệ quả
tươi/nhân thấp nhất ở mức bón 320 kg N với 10 tấn phân hữu cơ/ha/năm
và cao nhất ở mức bón 460 kg N/ha/năm không có phân hữu cơ. Tương tự
NS nhân (tấn/ha) cũng cao nhất ở mức bón 320 kg N với 10 tấn phân hữu
cơ/ha/năm và thấp nhất ở mức bón 250 kg N/ha/năm không bón phân hữu
cơ. Tương hỗ giữa phân lân với phân hữu cơ đến NS cà phê cao nhất ở
mức bón 100 kg P2O5 với 10 tấn phân hữu cơ/ha/năm và thấp nhất ở mức
bón 100 kg P2O5/ha/năm không có phân hữu cơ. Tác động tương hỗ giữa
lân và đạm đến NS cà phê cao nhất (có ý nghĩa) ở mức bón 150 kg P2O5
với 320 kg và thấp nhất ở mức bón 200 kg P2O5 với 250 kg N/ha/năm.
- Ảnh hưởng của các liều lượng phân vô cơ N, P và phân hữu cơ
đến tỉ lệ quả tươi/nhân qua các mùa vụ năm 2013, 2014 và 2015 nhìn
chung là thấp nhất (có ý nghĩa) ở các NT (320 N – 350 K2O + 10 tấn phân
hữu cơ/ha) và cao nhất ở các NT (460 N – 350 K2O/ha) không bón phân
hữu cơ, bất kể liều lượng phân lân. NS cà phê nhân/ha qua các năm (2013,
2014 và 2015) nhìn chung đều thấp nhất ở NT1 (250kg N – 100kg P2O5 –
350kg K2O /ha/năm) 3,43 tấn và cao nhất ở TN14 (320kg N – 100kg P2O5
– 350kg K2O + 10 tấn phân hữu cơ/ha/năm) 5,68 tấn. NS cà phê ở các NT
bón kết hợp giữa phân N, P và phần chuồng (NT13 – NT24) cao hơn so
với các NT chỉ bón phân vô cơ không có phân hữu cơ (NT1 – NT12).
3.3.5 Hiệu quả kinh tế (lãi) của sản xuất cà phê và đề xuất liều lượng, tỉ lệ
NPK hợp lý cho cà phê vối kinh doanh vùng cao nguyên Di Linh, tỉnh
Lâm Đồng


23

Trong thâm canh cà phê vối giống cao sản để đem lại lợi nhuận/chi

đối chứng.


24

- So sánh giữa nghiệm thức NPK với NPK + HC, việc bón phân vô
cơ NPK kết hợp với phân hữu cơ chế biến đã tăng chi phí đầu tư sản xuất
lên 16.368.550 đồng, nhưng hiệu quả kinh tế tăng 1,07 tấn nhân/ha
(24,5%) và tăng lợi nhuận lên 26.431.450 đồng (tỉ suất lợi nhuận 2,0) so
với việc chỉ bón phân vô cơ NPK.

CHƯƠNG IV. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
4.1 Kết luận
(1) Thực trạng bón phân đạm, lân, kali cho cà phê vối tại cao
nguyên Di Linh, Lâm Đồng biến động rất lớn về lượng và mất cân đối về
tỷ lệ. Với năng suất nhân trung bình 3,6 tấn/ha có 77,0% số hộ bón thừa
đạm, 97,0% số hộ bón thừa lân, 36% số hộ bón thiếu kali và 48% số hộ
bón thừa kali. Lượng phân hữu cơ chế biến bón dao động từ 1 – 5,3
tấn/ha/năm trung bình là 2,8 tấn/ha; phân chuồng từ 8,5 – 35 tấn/ha, trung
bình 16,8 tấn/ha (2 – 3 năm bón 1 lần). Trong đó, khoảng 53% số hộ sử
dụng phân chuồng (phân gà, lợn và bò) chưa qua xử lý bón cho cà phê.
(2) Bón phân đạm, lân và hữu cơ hợp lý tăng độ phì nhiêu đất.
a) Bón 10 tấn phân hữu cơ chế biến liên tục trong 3 năm đã làm
cho: độ xốp đất tăng 7,5%, độ bền đoàn lạp tăng 7,2%, dung trọng đất
giảm 10,2%, CEC, OM, P2O5dt, K2Odt, Ca2+ và Mg2+ tăng lần lượt là:
21,8%, 36,5%, 12,9%, 64%, 48,3% và 31,5%; Al3+ giảm 2,4 lần; giun đất
về mật độ, kích thước và sinh khối tăng gấp (2,5, 2,6 và 7,6 lần); mật độ vi
sinh (tổng số, cố định đạm, phân giải lân và phân giải cellulose) tăng lần
lượt (68,2%, 31,4%, 40,7%, 91,8% và 68,2%) so với không bón hữu cơ.
b) Bón đạm với mức 320 kg N/ha/năm cải thiện một số chỉ tiêu lý,

cho cây cà phê tại cao nguyên Di Linh.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status