Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can là người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự - Pdf 58

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

GIÁP VĂN THẮNG

B¶O §¶M QUYÒN CON NG¦êI
CñA NG¦êI BÞ T¹M GI÷, BÞ CAN Lµ NG¦êI CH¦A THµNH NI£N
TRONG GIAI §O¹N §IÒU TRA Vô ¸N H×NH Sù

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

GIÁP VĂN THẮNG

B¶O §¶M QUYÒN CON NG¦êI
CñA NG¦êI BÞ T¹M GI÷, BÞ CAN Lµ NG¦êI CH¦A THµNH NI£N
TRONG GIAI §O¹N §IÒU TRA Vô ¸N H×NH Sù
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. CHU THỊ TRANG VÂN

HÀ NỘI - 2015



KHÁI NIỆM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM
GIỮ, BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG
GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ ...................................... 7

1.1.1. Khái quát về giai đoạn điều tra trong tố tụng hình sự .......................... 7
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm quyền con người của người bị tạm giữ, bị
can là người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra ....................... 10
1.2.

BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM
GIỮ, BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG
GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA ................................................................... 18

1.2.1. Khái niệm bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị
can là người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra ....................... 18
1.2.2. Nội dung bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can
là người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra.............................. 21
1.3.

BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI CHƯA
THÀNH NIÊN Ở MỘT SỐ NƯỚC ................................................... 28


Chương 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA
NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH
NIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ ....... 35
2.1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT BẢO ĐẢM QUYỀN



3.1.2. Quan điểm cuả Đảng, Nhà Nước về bảo đảm quyền con người
của người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra ........................... 77
3.2.

KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO
QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN LÀ
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA .... 79

3.2.1. Bổ sung những vấn đề mang tính nguyên tắc .................................... 80
3.2.2. Sửa đổi các quy định về đảm bảo quyền con người của người
chưa thành niên trong giai đoạn điều tra ............................................ 82
3.3.

GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG ĐẢM BẢO
QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, BỊ CAN LÀ
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA .... 98

3.3.1. Các giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các cơ quan
tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra .......................................... 98
3.3.2. Xây dựng mô hình điều tra thân thiện với NCTN ........................... 101
KẾT LUẬN .................................................................................................. 109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 111


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS:


TTHS:

Tố tụng hình sự

VKS:

Viện kiểm sát

VKSND:

Viện kiểm sát nhân dân

VKSNDTC:

Viện kiểm sát nhân dân tối cao

XHCN:

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng

Tên bảng

Bảng 2.1: Thống kê số người chưa thành niên bị khởi tố, điều tra

Trang
58

Liên quan đến lĩnh vực tư pháp hình sự, trong thời gian qua, NCTNPT
đang có xu hướng gia tăng về số lượng và mức độ nguy hiểm của hành vi,
theo VKSND tối cao "tỷ lệ tội phạm vị thành niên bị VKSND truy tố đã tăng
lên; tỷ lệ tăng bình quân 10% hàng năm". Do đó, khi phải đối mặt với những
sự kiện pháp lý, NCTN cần một sự bảo đảm vững chắc và hữu hiệu từ phía
những quy định của pháp luật TTHS. Yêu cầu này đòi hỏi, bên cạnh các biện
pháp nhằm bảo đảm và bảo vệ NCTN trong xã hội, thì Nhà nước, các cơ quan
tiến hành tố tụng cần có những điều chỉnh kịp thời, thích hợp về chính sách
hình sự cũng như thủ tục tố tụng dành cho đối tượng này để bảo đảm quyền,
lợi ích chính đáng của họ khi tham gia tố tụng. Điều này không ngoài mục
đích bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự; Phù hợp với xu thế nhân
đạo hóa của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự trong nhà nước pháp quyền.

1


Hiện tại Việt Nam chưa có hệ thống tư pháp dành riêng cho NCTN
theo đúng ý nghĩa của thuật ngữ này. Về thể chế, chúng ta mới chỉ có Chương
XXXII (từ Điều 301 đến Điều 310) BLTTHS quy định về thủ tục tố tụng đối
với NCTN. Tuy nhiên, các quy định này chưa đủ chi tiết, cụ thể để các cán bộ
tiến hành tố tụng bảo đảm hệ thống được vận hành phù hợp với các chuẩn
mực quốc tế. Điều này đồng nghĩa với việc quyền, lợi ích của con người
(trong đó có thể có NCTN) chưa thực sự được bảo vệ. Đặc biệt trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự, quyền con người của người chưa thành niên chưa
thực sự được bảo vệ, đây là giai đoạn các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng
thường xuyên nhất các biện pháp cưỡng chế tố tụng và các biện pháp điều tra
để giải quyết vụ án. Các hoạt động này có nguy cơ cao trong việc tác động tới
quyền con người của NCTN phạm tội. Việc bảo đảm quyền con người của
NCTN phạm tội trong giai đoạn điều tra là một việc làm đầu tiên và rất cần
thiết trong cơ chế bảo vệ NCTN phạm tội.

Chính trị quốc gia năm 2006; Quyền trẻ em (Sách chuyên đề nghiên cứu và
giảng dạy và thực hiện quyền trẻ em), Trung tâm nghiên cứu quyền con người
năm 2000; Vì quyền trẻ em và sự bình đẳng của phụ nữ, Viện Thông tin khoa
học xã hội 1999; Quyền và bổn phận của trẻ em - những vấn đề đặt ra cho xã
hội hiện nay, Đặng Cảnh Khanh, Tạp chí Cộng sản số 16/2003.
Các công trình nghiên cứu trên đây đã nghiên cứu quyền của NCTN (Trẻ
em) dưới giác độ là một bộ phận của quyền con người với những nội dung, tính
chất đặc điểm cụ thể; Trong đó đã triển khai các vấn đề về bảo vệ chăm sóc trẻ
em; Đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức về bảo vệ quyền trẻ em; Hỗ trợ
nâng cao năng lực nghiên cứu và tổ chức thực hiện quyền trẻ em; Tư vấn cho
các cấp xây dựng cơ chế quản lý Nhà nước về thực hiện quyền trẻ em. Đặc biệt
có đề cập đến các cơ chế bảo đảm, bảo vệ quyền trẻ em nói chung.

3


Trong các nghiên cứu này, vấn đề quyền của NCTN trong TTHS đặc
biệt cụ thể là giai đoạn điều tra vụ án hình sự vẫn chưa được đề cập trực tiếp.
Tuy nhiên, những nghiên cứu trên đây là cơ sở đáng tin cậy để tiếp tục nghiên
cứu vấn đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN trong TTHS, đây
được coi là một phương thức bảo vệ riêng.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn giải quyết toàn diện, đầy đủ sâu sắc và có hệ thống những
vấn đề lý luận về quyền con người của NCTN trong điều tra vụ án hình sự;
Thông qua việc phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn hoạt động tố tụng
hình sự liên quan đến vấn đề bảo đảm quyền con người của NCTN và đề ra
các giải pháp. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật tố tụng
hình sự; Nâng cao nhận thức của các chủ thể tiến hành tố tụng, cũng như toàn
xã hội trong việc bảo đảm tốt hơn quyền con người của NCTN trong giai

nước về vấn đề quyền con người, quyền của NCTN, quyền và lợi ích hợp
pháp của NCTN trong TTHS; Về vai trò, nhiệm vụ bảo đảm quyền con người
(trong đó có quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN) của pháp luật TTHS trong
nhà nước pháp quyền…; Những quy định của TTHS về vấn đề bảo đảm
quyền con người của NCTN, cũng như các vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn
áp dụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng khi giải quyết các vụ án liên
quan đến NCTN.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài được dựa trên cơ sở những quan điểm của
chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng Cộng
sản Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu đề tài luận văn là phương pháp duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp cụ thể như: Phân tích tổng hợp, so sánh.

5


6. Ý nghĩa và các đóng góp mới của đề tài
6.1. Ý nghĩa
- Ý nghĩa về lý luận:Kết quả nghiên cứu của luận án làm giàu thêm lý
luận về quyền của NCTN nói chung và quyền và lợi ích hợp pháp của NCTN
trong tố tụng hình sự nói riêng.
- Ý nghĩa về thực tiễn: Với việc đưa ra nhận thức đầy đủ, toàn diện, có
hệ thống lý luận về quyền của NCTN trong TTHS và phân tích thực trạng của
vấn đề này sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật TTHS, đem đến sự nhận thức
đúng đắn đối với các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm mục đích cuối cùng là
bảo đảm quyền con người của NCTN trong thực tế.
6.2. Những đóng góp mới của luận án
Thứ nhất, nghiên cứu, đề xuất một số khái niệm về "Quyền con người
của NCTN trong giai đoạn điều tra" và "Bảo đảm quyền con người của NCTN

nhà nước, tổ chức xã hội, nhằm giải quyết vụ án khách quan, toàn diện,
nhanh chóng, chính xác và đúng pháp luật" [9-tr.17].
Quá trình giải quyết vụ án hình sự được chia thành các giai đoạn, mỗi
giai đoạn tố tụng hình sự có nhiệm vụ giải quyết những yêu cầu khác nhau và
tương ứng với mỗi giai đoạn đó là chức năng cụ thể của mỗi cơ quan tiến
hành tố tụng có thẩm quyền nhằm thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định.
Như vậy, giai đoạn tố tụng hình sự được hiểu:
Là bước của quá trình tố tụng hình sự tương ứng với chức năng nhất
định trong hoạt động tư pháp hình sự của từng loại chủ thể tiến hành tố tụng
có thẩm quyền nhằm thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do luật định, có thời điểm
bắt đầu và thời điểm kết thúc để giải quyết vụ án hình sự một cách công minh,

7


khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật, góp phần củng cố pháp chế và trật
tự pháp luật, bảo vệ vững chắc các quyền và tự do của công dân [7].
BLTTHS nước ta chia quá trình giải quyết vụ án hình sự thành bốn giai
đoạn bao gồm: Giai đoạn khởi tố vụ án hình sự; Giai đoạn điều tra vụ án hình
sự và truy tố; Giai đoạn xét xử vụ án hình sự và giai đoạn thi hành bản án
hình sự. Đối với hoạt động xét xử phúc thẩm, tái thẩm và giám đốc thẩm
không phải là các giai đoạn tố tụng hình sự trong quá trình giải quyết vụ án
hình sự mà các hoạt động đó là thủ tục tố tụng đặc biệt để xét lại những vụ án
hình sự đã xét xử có kháng cáo và kháng nghị.
Giai đoạn điều tra chiếm một vị trí quan trọng trong TTHS. Theo quan
điểm thống nhất hiện nay, giai đoạn điều tra vụ án hình sự là giai đoạn thứ hai
của quá trình tố tụng hình sự được BLTTHS quy định trong 6 chương, từ
chương VIII đến chương XIII. Giai đoạn điều tra được xác định bắt đầu từ khi
có quyết định khởi tố vụ án hình sự cho đến khi CQĐT chuyển toàn bộ hồ sơ
tài liệu và kết luận điều tra sang VKS đề nghị truy tố. Tuy nhiên, trong một số

định của Luật tố tụng hình sự góp phần giải quyết vụ án hình sự được nhanh
chóng, khách quan và đúng pháp luật.
Như vậy, giai đoạn điều tra vụ án hình sự được hiểu là:
Một giai đoạn của tố tụng hình sự trong đó Cơ quan điều tra và các cơ
quan khác được giao một số hoạt động điều tra được sử dụng các biện pháp
do Luật tố tụng hình sự quy định để thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm,
người phạm tội và những vấn đề khác có liên quan đến vụ án làm cơ sở cho
việc xét xử của Tòa án. Đồng thời thông qua hoạt động điều tra xác định
nguyên nhân điều kiện phạm tội đối với từng vụ án cụ thể và kiến nghị các
biện pháp phòng ngừa với các cơ quan và tổ chức hữu quan [9-tr.313;314].
Đặc điểm: Từ khái niệm về giai đoạn điều tra vụ án hình sự nêu trên,
có thể rút ra các đặc điểm cơ bản và đặc trưng của giai đoạn này như sau:
Thứ nhất, giai đoạn điều tra vụ án hình sự là giai đoạn thứ hai của quá

9


trình tố tụng hình sự có thời hạn xác định bắt đầu từ khi các cơ quan tiến hành
tố tụng ra quyết định khởi tố vụ án hình sự cho đến khi CQĐT chuyển toàn bộ
hồ sơ vụ án và kết luận điều tra sang VKS đề nghị truy tố hoặc CQĐT ra
quyết định đình chỉ điều tra vụ án.
Thứ hai, nhiệm vụ của giai đoạn điều tra vụ án hình sự là các cơ quan
có thẩm quyền áp dụng mọi biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định để
chứng minh tội phạm và người phạm tội, làm rõ các tình tiết liên quan đến vụ
án bao gồm cả tình tiết buộc tội và tình tiết gỡ tội, các tình tiết tăng nặng và
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội để
kiến nghị với các cấp các ngành thực hiện biện pháp phòng ngừa tội phạm.
Thứ ba, chủ thể thực hiện các hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều
chỉ là CQĐT hoặc các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động
điều tra. Các tài liệu do chính hoạt động của các chủ thể nói trên tiến hành thu

người đã thành niên.Ở mỗi quốc gia, thuật ngữ "trẻ em" và “NCTN” được
hiểu và quy định khác nhau phụ thuộc vào những đặc điểm riêng về sự phát
triển sinh học, tâm sinh lý cũng như quan điểm của mỗi nước về chăm sóc,
bảo vệ và giáo dục đối với trẻ em: BLHS Liên bang Nga 1996 quy định, trẻ
em được hiểu là NCTN và là người chưa đủ 18 tuổi; Thái Lan quy định
NCTN là người dưới 17 tuổi…
Về phương diện quốc tế, tại Điều 1 Công ước quyền trẻ em thông qua
ngày 20/11/1989 quy định: “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có
nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em
đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [13, Điều 1]. Quy tắc tối thiểu phổ biến
của Liên Hợp Quốc (LHQ) về bảo vệ NCTN bị tước quyền tự do được LHQ
thông qua ngày 14/12/1992 quy định NCTN là người dưới 18 tuổi.
Ở Việt Nam,trong nhiều năm trước đây, NCTN được gọi là “vị thành
niên” nhưng từ khi chúng ta có hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh, thuật
ngữ "vị thành niên" được đổi thành NCTN nhằm phân biệt với người thành

11


niên. Trong khoa học pháp lý và trong các văn bản pháp luật, thuật ngữ NCTN,
trong đó có NCTN được sử dụng với ý nghĩa là một người đang ở độ tuổi dưới
18 tuổi. Theo từ điển Tiếng Việt: "Vị thành niên là người chưa đến tuổi được
pháp luật công nhận là công dân với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ hay là
người chưa đủ 18 tuổi" [44]. Cũng theo từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ
học, Nxb Đà Nẵng năm 2002) thì: "NCTN là người chưa phát triển đầy đủ,
toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa
vụ công dân" [44]. Định nghĩa này phù hợp với tinh thần của Công ước quyền
trẻ em đã nêu trên, tuy nhiên, lại đồng nhất hai thuật ngữ NCTN và Trẻ em.
Theo pháp luật Việt Nam, từ những kinh nghiệm được thừa nhận trong
quá khứ, dựa trên những thành tựu do các ngành khoa học khác mang lại cũng

còn người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi.
- Người chưa thành niên trong tố tụng hình sự.
Người chưa thành niên trong TTHS, trước hết, đó là người có độ tuổi từ
đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi tương ứng với qui định về người chưa thành niên
phạm tội trong luật hình sự do những người này thực hiện hành vi có dấu hiệu
tội phạm, có thể bị xử lý bằng biện pháp hình sự nên mới bị áp dụng các biện
pháp của TTHS để ngăn chặn tội phạm hoặc điều tra thu thập chứng cứ. Thứ
hai, những người trong độ tuổi nêu trên đã, đang hoặc sẽ thực hiện hành vi
phạm tội cần phải điều tra thu thập chứng cứ để chứng minh; Thư ba, khi
tham gia tố tụng họ có những quyền và nghĩa vụ pháp lý theo qui định của
luật tố tụng hình sự ở vai trò tương ứng, chẳng hạn: Họ là người bị tạm giữ thì
có các quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ theo qui định của luật TTHS;
Thứ tư, bên cạnh các quyền và nghĩa vụ pháp lý chung của những người tham
gia tố tụng tương ứng họ còn có các quyền và nghĩa vụ chỉ áp dụng riêng đối
với người chưa thành niên theo qui định của pháp luật.
Từ những phân tích có thể hiểu người bị bắt, bị tạm giữ, bị can là
NCTN trong giai đoạn điều tra như sau: Người bị bắt, bị tạm giữ, bị can là

13


NCTN trong TTHS là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, chưa phát triển
hoàn thiện về thể chất và tinh thần, bên cạnh các quyền và nghĩa vụ pháp lý
của người tham gia tố tụng tương ứng họ còn có các quyền và nghĩa vụ riêng
theo qui định của pháp luật khi tham gia tố tụng hình sự ở giai đoạn điều tra.
Như vậy, đối tượng bảo đảm quyền của người chưa thành niên trong tố
tụng hình sự là những người từ 14 đến dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, với đặc điểm
là người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra nên phạm vi giới hạn của
đối tượng bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên lúc này chính là
những người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra đó là người bị bắt, bị

thân thiện, nhạy cảm, phải diễn ra trong một môi trường phù hợp, hỗ trợ và
đáp ứng những nhu cầu đặc biệt của lứa tuổi; Trong quá trình giao tiếp với
NCTN, phải sử dụng ngôn ngữ phù hợp và dễ hiểu với các em; Cấm các biện
pháp điều tra tùy tiện(3), trong mọi trường hợp, quyền riêng tư của các em
phải được bảo vệ; Những thông tin cá nhân và mang tính nhạy cảm liên quan
đến NCTN phải được xử lý cẩn thận và được bảo đảm bí mật; Trong bất kỳ
hoàn cảnh nào, cán bộ thực thi pháp luật cũng phải tôn trọng và bảo vệ phẩm
giá của con người, nêu cao các nguyên tắc nhân quyền cho tất cả mọi người,
trong đó có NCTN; NCTN có quyền ghi lại một cách chi tiết, đầy đủ tất cả
những lời khai khi cán bộ thực thi pháp luật lấy lời khai hoặc hỏi cung;
NCTN có quyền được bảo vệ khỏi vũ lực và các hình thức lạm dụng của các
cơ quan công quyền trong quá trình điều tra; Trong bất kỳ trường hợp nào,
cán bộ điều tra đều phải tôn trọng và tuân thủ pháp luật; Cần tránh những trì
hoãn không cần thiết khi xử lý các vụ liên quan đến NCTN phạm tội; Việc
giam giữ NCTN phạm tội cần phải cân nhắc kỹ lưỡng nếu mục đích chỉ là để
phục vụ công việc của cán bộ điều tra; Các cán bộ thực thi pháp luật cần sử
dụng quyền tự quyết trong tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng trong đó
có giai đoạn điều tra; NCTN có quyền trình bày quan điểm của mình và
những quan điểm này phải được tôn trọng, xem xét một cách thận trọng;

15


NCTN có quyền mong muốn rằng các hoạt động điều tra sẽ được tiến hành
theo đúng luật pháp và với lý do thích hợp; c. Quyền cơ bản của NCTN khi bị
bắt giữ hoặc bị giam giữ: Mọi người, trong đó có NCTN đều có quyền được
tự do và được an toàn, trong đó có tự do đi lại; NCTN có quyền không bị bắt
giữ và bị giam giữ tùy tiện; NCTN bị bắt giữ cần phải được thông báo vào
thời điểm bị bắt và thông báo về lý do bắt giữ; Không NCTN nào có thể bị
tước quyền tự do trừ những trường hợp phù hợp với những thủ tục đã quy

những phương tiện và dịch vụ đáp ứng các yêu cầu về sức khỏe và phẩm giá
con người; NCTN có quyền được cung cấp đầy đủ thực phẩm, nước uống
sạch, chỗ ngủ sạch sẽ, quần áo phù hợp với thời tiết cũng như việc phòng
bệnh và chữa bệnh; NCTN được tiếp cận với các chương trình, hoạt động vui
chơi giải trí có ý nghĩa cho việc phục hồi, tái hòa nhập và phát triển của họ;
NCTN có quyền hưởng sự giáo dục và được đào tạo nghề để chuẩn bị cho
mình có việc làm trong tương lai; Cán bộ ở các cơ sở quản lý giáo dục tập
trung cần được đào tạo về việc đối xử với NCTN sao cho phù hợp. Nghiêm
cấm việc sử dụng vũ lực hoặc các hình thức trừng phạt, truy bức, nhục hình;
đồng thời có cơ chế bảo vệ NCTN tránh khỏi mọi hình thức lạm dụng hoặc
bóc lột; NCTN cần được hỗ trợ khi các em trở về với gia đình và xã hội, được
ưu tiên đi học và tìm việc làm sau khi chấp hành xong biện pháp giáo dục.
Nên áp dụng việc giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại
tại các cơ sở quản lý giáo dục tập trung, hỗ trợ và giám sát NCTN ở cộng
đồng sau khi chấp hành xong biện pháp này. Chính quyền các cấp phải cung
cấp và đảm bảo các dịch vụ hỗ trợ cho NCTN khi các em trở về cộng đồng và
giảm bớt các định kiến đối với các em.Đại diện của các cơ quan cung cấp các
dịch vụ này cần được tiếp cận với NCTN khi các em bị giam giữ nhằm hỗ trợ
các em khi trở về cộng đồng.
Nội dung các quyền của NCTN trong TTHS cũng mang đầy đủ các
quyền của người tham gia tố tụng tùy theo các giai đoạn tố tụng. Khi người

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status