ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
VÕ HOÀNG TÙNG
NGHIÊN CỨU CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ
QUẢN LÝ RỦI RO CỦA CÁC CÔNG TY THUỘC
NGÀNH TÀI CHÍNH NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01
Đà Nẵng - 2018
Công trình đƣợc hoàn thành tại
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN
Ngƣời hƣớng dẫn KH: PGS.TS. NGUYỄN HỮU CƢỜNG
Phản biện 1: GS.TS. TRƢƠNG BÁ THANH
Phản biện 2: PGS.TS. VÕ VĂN NHỊ
Luận văn đƣợc bảo vệ trƣớc Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp
Thạc sĩ Kế toán họp tại Trƣờng Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
vào ngày 27 tháng 01 năm 2018
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng
- Thƣ viện trƣờng Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng
độ CBTT về QLRR.
2
− Nhận diện các nhân tố nào ảnh hƣởng đến mức độ CBTT về
QLRR và xác định xem các nhân tố ảnh hƣởng nhƣ thế nào đến mức
độ CBTT về QLRR.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu sẽ tiến hành đo lƣờng mức độ CBTT về QLRR trên
báo cáo tài chính (đã kiểm toán) hoặc báo cáo tài chính hợp nhất (đã
kiểm toán) cho năm tài chính kết thúc ngày 31/12/2014, 31/12/2015
và 31/12/2016 của tất cả các công ty thuộc ngành tài chính niêm yết
trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) và Sở Giao dịch
Chứng khoán TP.HCM (HOSE).
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn đã vận dụng phƣơng pháp phân tích nội dung để đo
lƣờng mức độ CBTT về QLRR và phƣơng pháp phân tích hồi quy để
xác định ảnh hƣởng của các nhân tố đến mức độ CBTT về QLRR:
- Trên cơ sở thang đo mức độ CBTT về QLRR đã đƣợc xây
dựng trên cơ sở các quy định về CBTT về QLRR có liên quan, luận
văn đã đo lƣờng mức độ CBTT về QLRR trên BCTC năm 2014,
2015 và 2016 của các DN thuộc ngành tài chính niêm yết ở Việt
Nam. CBTT về QLRR đƣợc đánh giá thông qua việc đo lƣờng mức
độ tuân thủ đối với CBTT bắt buộc về QLRR và CBTT tùy ý về
QLRR.
- Ảnh hƣởng của các nhân tố đến mức độ CBTT về QLRR
đƣợc kiểm chứng thông qua phân tích hồi quy bằng các phƣơng pháp
phân tích hồi quy: Pooled OLS (Ordinary List Squares), FEM (Fix
Effect Model) và REM (Random Effect Model).
5. Bố cục luận văn
CBTT bao gồm ba loại đó là CBTT bắt buộc, CBTT tự nguyện
và CBTT tùy ý.
1.1.2. Yêu cầu về công bố thông tin
a. Công bố thông tin theo quy định của chuẩn mực kế toán
4
b. Công bố thông tin kế toán trong báo cáo tài chính
c. Công bố thông tin đối với các doanh nghiệp niêm yết
1.1.3. Quản lý rủi ro
COSO định nghĩa quản lý rủi ro doanh nghiệp “là một quy trình
đƣợc thiết lập bởi hội đồng quản trị, ban quản lý và các cán bộ có
liên quan khác áp dụng trong quá trình xây dựng chiến lƣợc doanh
nghiệp thực hiện xác định những sự vụ có khả năng xảy ra gây ảnh
hƣởng đến doanh nghiệp đồng thời quản lý rủi ro trong phạm vi cho
phép nhằm đƣa ra mức độ đảm bảo trong việc đạt đƣợc mục tiêu của
doanh nghiệp”. Trong khi đó, rủi ro đƣợc định nghĩa là tập hợp của
các khả năng có thể xảy ra của một sự việc nào đó cũng nhƣ hậu quả
của nó.
1.1.4. Công bố thông tin về quản lý rủi ro
Nội dung CBTT liên quan đến QLRR bao gồm:
- Nhận diện các loại rủi ro nhƣ: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh
khoản, thị trƣờng bao gồm: biến động lãi suất, rủi ro tiền tệ, rủi ro
giá cả hàng hóa, rủi ro liên quan đến chứng khoán phái sinh…
- Cách thức đo lƣờng, đánh giá mức độ ảnh hƣởng của các rủi
ro đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN hoặc mục tiêu của DN
trong tƣơng lai.
- Chính sách, kỹ thuật, công cụ, biện pháp sử dụng để hạn chế,
đối phó, giảm thiểu rủi ro của DN.
1.2. YÊU CẦU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ QUẢN LÝ RỦI
vấn đề này đƣợc giảm thiểu bằng cách sử dụng các cơ chế thích hợp
để có thể hạn chế sự phân hóa lợi ích giữa cổ đông/chủ sở hữu và
nhà quản lý/ban giám đốc công ty, thông qua thiết lập những cơ chế
đãi ngộ thích hợp cho các nhà quản lý/ban giám đốc, và thiết lập cơ
chế giám sát hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thƣờng,
tƣ lợi của nhà quản lý/ban giám đốc công ty.
DN có mức độ rủi ro cao dẫn đến sự bất đối xứng thông tin cao
giữa nhà quản lý với các nhà đầu tƣ (Deumes & Knechel, 2008) và
6
báo cáo rủi ro có thể làm giảm chi phí đại diện và sự không đối xứng
thông tin giữa các nhà quản lý và các cổ đông (Watts & Zimmerman,
1983).
1.4.2. Lý thuyết tín hiệu (Signaling Theory)
Lý thuyết tín hiệu cho rằng do sự không đối xứng thông tin giữa
bên trong DN và nhà đầu tƣ sẽ gây ra sự lựa chọn bất lợi cho nhà đầu
tƣ. Các thông tin tốt đƣợc công bố bởi các nhà quản lý đến thị trƣờng
làm giảm bất đối xứng thông tin và đƣợc xem nhƣ là một tín hiệu tốt
của thị trƣờng. Lý thuyết này ngụ ý rằng các DN có kết quả hoạt
động tốt thƣờng sử dụng thông tin tài chính nhƣ là một công cụ
truyền tín hiệu đến thị trƣờng.
Lý thuyết tín hiệu giải thích hành vi của các nhà quản lý khi họ
thể hiện khả năng xác định, đo lƣờng và QLRR thông qua việc báo
cáo nhiều thông tin về rủi ro hơn. Do đó, họ có thể tạo sự khác biệt
giữa mình với những nhà quản lý khác (Elshanididy, Fraser &
Hussainey, 2013).
1.4.3. Lý thuyết chính trị (Political Theory)
Lý thuyết về ảnh hƣởng của chính trị cho rằng các nhà quản lý
nhà nƣớc ra quyết định có liên quan đến lợi ích của công ty (chẳng
Theory)
Lý thuyết này chỉ ra rằng khi tham gia các giao dịch kinh doanh
hoặc các giao dịch tiềm năng có thể có một bên có lợi thế thông tin
hơn so với những bên còn lại. Các nhà quản lý đối phó với việc
CBTT không giống nhau, do sự đánh đổi chi phí và lợi ích là khác
nhau.
Lý thuyết tính kinh tế của thông tin cũng là một khuôn khổ lý
thuyết phù hợp cho các phân tích thực nghiệm về việc CBTT nói
chung và CBTT về QLRR nói riêng vì các DN CBTT nhằm giảm đi
bất đối xứng thông tin giữa nhà quản lý và chủ sở hữu, giảm chi phí
của các giao dịch mua bán cổ phiếu, giảm thiểu rủi ro ƣớc tính của
các nhà đầu tƣ, nhờ vào đó giảm chi phí vốn (Healy & Palepu, 2001).
8
Mặc dù, CBTT nhƣ vậy có nhiều lợi ích, nhƣng các DN sẽ chỉ cung
cấp thêm thông tin bổ sung nếu họ nhận thấy lợi ích của việc công bố
đó nhiều hơn các chi phí có liên quan đến việc công bố.
1.5. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ NHÂN TỐ ẢNH
HƢỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ QUẢN
LÝ RỦI RO
1.5.1. Quy mô doanh nghiệp
1.5.2. Tỷ suất nợ
1.5.3. Khả năng sinh lời
1.5.4. Khả năng thanh toán
1.5.5. Chủ thể kiểm toán
1.5.6. Đặc điểm hội đồng quản trị
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
CHƢƠNG 2
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
2.3.6. Mức độ độc lập của thành viên hội đồng quản trị
H6a – DN có tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị không tham gia
điều hành càng cao thì mức độ CBTT về QLRR càng cao.
H6b – DN có chủ tịch hội đồng quản trị không kiêm nhiệm giám
đốc điều hành thì mức độ CBTT về QLRR cao hơn.
2.4. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
2.4.1. Mô hình nghiên cứu
Phương trình 1 có dạng
CBTTBBQLRRit = β0 + β1QMit + β2TSNit + β3KNSLit + β4KNTTit
+ β5CTKTit+ β6TLTVHĐQTit + β7CTHĐQTit+ εit
Phương trình 2 có dạng
CBTTTYQLRRit = β0 + β1QMit + β2TSNit + β3KNSLit + β4KNTTit
+ β5CTKTit+ β6TLTVHĐQTit + β7CTHĐQTit+ εit
10
Trong đó:
− Biến phụ thuộc tƣơng ứng với hai phƣơng trình lần lƣợt là:
+ CBTTBBQLRRit: mức độ CBTT bắt buộc về QLRR trên
BCTC năm t của DN i, và đƣợc đo lƣờng bằng phƣơng pháp phân
tích nội dung;
+ CBTTTYQLRRit: mức độ CBTT tùy ý về QLRR trên BCTC
năm t của DN i, và đƣợc đo lƣờng bằng phƣơng pháp phân tích nội
dung.
− Biến độc lập gồm:
+ QMit: Quy mô của DN i ở thời điểm cuối năm tài chính t, đƣợc
đo lƣờng bằng logarit cơ số 10 của tổng tài sản tại thời điểm cuối
năm tài chính;
+ TSNit: Tỷ suất nợ của DN i ở thời điểm cuối năm tài chính t,
đƣợc đo lƣờng bằng logarit cơ số 10 tỷ lệ tổng nợ phải trả trên vốn
phù hợp của mô hình FEM hay REM. Sau khi xác định đƣợc mô
hình phù hợp, luận văn thực hiện loại bỏ biến thừa ra khỏi mô hình
và ƣớc lƣợng lại mô hình để đƣa ra phƣơng trình hồi quy cuối cùng.
2.4.3. Đo lƣờng biến phụ thuộc
a. Lựa chọn các chỉ mục thông tin công bố
Mức độ CBTT về QLRR của các DN thuộc ngành tài chính
niêm yết trong luận văn này đƣợc đánh giá trên cơ sở thang đo bao
gồm hệ thống các chỉ mục CBTT đƣợc lựa chọn căn cứ theo Thông
tƣ 210/2009/TT-BTC. Dựa vào Thông tƣ 210, thang đo mức độ
CBTT bắt buộc về QLRR đƣợc xây dựng để đánh giá về mức độ
tuân thủ của thông tin về QLRR đƣợc các DN công bố. Sau khi đánh
giá về mức độ tuân thủ của thông tin về QLRR mà DN công bố,
thang đo mức độ CBTT tùy ý về QLRR đƣợc xây dựng nhằm đánh
giá mức độ chi tiết của thông tin về QLRR mà các DN công bố.
b. Đo lường chỉ số công bố thông tin
Mức độ CBTT về QLRR đƣợc đo lƣờng dựa trên công thức:
12
∑
Trong đó:
- dsj: chỉ số CBTT về QLRR (bắt buộc/tùy ý) của công ty j (0
≤ dsj ≤ 1);
- nj: số yếu tố thông tin có thể công bố sau khi loại trừ đi
những yếu tố thông tin hiển nhiên không liên qua (NA) ở công ty j;
- dij: bằng 1 nếu yếu tố thông tin i đƣợc công bố, bằng 0 nếu
không đƣợc công bố.
2.4.4. Đo lƣờng biến độc lập
Các biến độc lập đƣợc đo lƣờng nhƣ sau:
LÝ RỦI RO CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH TÀI
CHÍNH NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM
3.1.1. Thống kê mô tả chỉ số công bố thông tin về quản lý rủi ro
Bảng 3.1. Bảng thống kê mô tả biến chỉ số công bố thông tin về
quản lý rủi ro của các doanh nghiệp ngành tài chính niêm yết ở
Việt Nam qua 3 năm
N
Min Max Mean Std. Deviation
CBTT bắt buộc
114 0,00 1,00 0,7286
0,2461
về QLRR
CBTT tùy ý về
114 0,00 0,80 0,4621
0,1654
QLRR
Đối với mức độ CBTT bắt buộc về QLRR: Trong giai đoạn từ
năm 2014 đến năm 2016, chỉ số CBTT bắt buộc về QLRR của các
DN ngành tài chính niêm yết ở Việt Nam trung bình chỉ đạt 72,86%.
Mức độ CBTT bắt buộc về QLRR đầy đủ cao nhất đạt 100% và mức
thấp nhất là 0% với độ lệch chuẩn là 0,2461. Điều này cho thấy,
trong giai đoạn từ năm 2014 đến 2016, vẫn còn tồn tại nhiều DN
thuộc ngành tài chính CBTT bắt buộc về QLRR chƣa đầy đủ và cũng
14
có những DN chƣa thực hiện CBTT bắt buộc về QLRR.
Đối với mức độ CBTT tùy ý QLRR: Chỉ số CBTT tùy ý về
QLRR thấp hơn so với chỉ số CBTT bắt buộc về QLRR với số trung
bình đạt 46,21%. Trong đó, DN đạt chỉ số tùy ý cao nhất là 80% và
Tuy nhiên, sự khác biệt về mức độ CBTT tùy ý về QLRR giữa 2
SGDCK lại không có có ý nghĩa thống kê.
3.1.2. Đánh giá mức độ công bố thông tin về quản lý rủi ro
Mức độ CBTT bắt buộc về QLRR trung bình đạt 72,86%. Kết
quả này chứng tỏ còn nhiều chỉ mục CBTT bắt buộc về QLRR chƣa
đƣợc công bố (27,14%). Mức độ CBTT tùy ý về QLRR trung bình
15
đạt 46,21%. Tƣơng tự, mức độ chi tiết (chất lƣợng) của các chỉ mục
CBTT về QLRR vẫn còn thấp, vẫn còn 53,79% chỉ mục CBTT tùy ý
về QLRR chƣa đƣợc công bố.
3.2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ
THÔNG TIN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO
3.2.1. Thống kê mô tả các biến độc lập
Bảng 3.3. Bảng thống kê mô tả các biến độc lập trên BCTC 3 năm
2014, 2015 và 2016
N
Min
Max
Mean Std. Deviation
QM
114 10,72
15,00 12,7606
1,1079
TSN
114
0,00
21,80 4,2733
5,7223
nhau.
16
3.2.3. Kiểm định phân phối chuẩn
3.2.4. Phân tích mô hình hồi quy
a. Ước lượng với mô hình Pooled OLS
Đối với mức độ CBTT bắt buộc về QLRR, kết quả cho thấy mô
hình có ý nghĩa thống kê (F = 17,69, p < 0,001) và R2 hiệu chỉnh =
0,5084, các biến độc lập trong mô hình giải thích đƣợc 50,84% sự
thay đổi của biến phụ thuộc.
Kết quả ƣớc lƣợng không tìm thấy đƣợc sự ảnh hƣởng của các
nhân tố tỷ suất nợ (H2), khả năng sinh lời (H3), sự kiêm nhiệm của
chủ tịch HĐQT và giám đốc điều hành (H6b), nhƣng đã kiểm chứng
đƣợc sự ảnh hƣởng của các nhân tố quy mô doanh nghiệp (H1), khả
năng thanh toán (H4), chủ thể kiểm toán (H5), và tỷ lệ thành viên
HĐQT không tham gia điều hành (H6a).
Đối với mức độ CBTT tùy ý về QLRR, kết quả cho thấy mô hình
có ý nghĩa thống kê (F = 9,67, p < 0,001) và R2 hiệu chỉnh = 0,3493,
có nghĩa là các biến độc lập trong mô hình giải thích đƣợc 34,97% sự
thay đổi của biến phụ thuộc.
Kết quả ƣớc lƣợng không tìm thấy đƣợc sự ảnh hƣởng của các
nhân tố khả năng sinh lời (H3), chủ thể kiểm toán (H5), sự kiêm
nhiệm của chủ tịch HĐQT và giám đốc điều hành (H6b), nhƣng đã
kiểm chứng đƣợc sự ảnh hƣởng của các nhân tố quy mô doanh
nghiệp (H1), tỷ suất nợ (H2), khả năng thanh toán (H4) và tỷ lệ thành
viên HĐQT không tham gia điều hành (H6a).
b. Ước lượng với mô hình FEM (Fix Effect Model)
Đối về mức độ CBTT bắt buộc về QLRR, kết quả cho thấy mô
hình có ý nghĩa thống kê (F = 3,16, p = 0,0059 < 0,05) và R2 hiệu
(H6b), nhƣng đã kiểm chứng đƣợc sự ảnh hƣởng của các nhân tố quy
mô DN (H1), khả năng thanh toán (H4) và tỷ lệ thành viên HĐQT
không tham gia điều hành (H6a).
Đối với mức độ CBTT tùy ý về QLRR, kết quả cho thấy mô hình
có ý nghĩa thống kê (Wald Stat = 59,31, p < 0,0001) và R2 hiệu
18
chỉnh = 0,2902, có nghĩa là các biến độc lập trong mô hình giải thích
đƣợc 29,02% sự thay đổi của biến phụ thuộc.
Tƣơng tự nhƣ kết quả ƣớc lƣợng mô hình FEM, kết quả ƣớc
lƣợng không tìm thấy đƣợc sự ảnh hƣởng của các nhân tố khả năng
sinh lời (H3), chủ thể kiểm toán (H5) và sự kiêm nhiệm của chủ tịch
HĐQT và giám đốc điều hành (H6b), nhƣng đã kiểm chứng đƣợc sự
ảnh hƣởng của các nhân tố quy mô DN (H1), tỷ suất nợ (H2), khả
năng thanh toán (H4) và tỷ lệ thành viên HĐQT không tham gia điều
hành (H6a).
d. Kiểm định Hausman
Với mức độ CBTT bắt buộc về QLRR:
Kết quả cho giá trị p – value bằng 0,8033 > 0,05, mô hình REM
là phù hợp cho nghiên cứu.
Với mức độ CBTT tùy ý về QLRR:
Kết quả cho giá trị p – value bằng 0,9359 > 0,05, mô hình REM
là phù hợp cho nghiên cứu.
Nhƣ vậy, kiểm định Hausman ở cả 2 phƣơng trình đều cho kết
quả là mô hình REM là phù hợp để nghiên cứu.
e. Ước lượng với mô hình REM khi loại bỏ biến thừa
Đối với mức độ CBTT bắt buộc về QLRR:
Mô hình hồi quy từ kết quả ƣớc lƣợng có dạng:
CBTTQLRRBB = - 0,6551 + 0,0842*QM – 0,1734*KNTT +
HĐQT và giám đốc điều hành) bị bác bỏ; còn các giả thuyết H1 (về
ảnh hƣởng của quy mô DN), H4 (về ảnh hƣởng của khả năng thanh
toán), và H6a (về ảnh hƣởng của tỷ lệ thành viên HĐQT không tham
gia điều hành) đƣợc chấp nhận. Giả thuyết H2 (về ảnh hƣởng của tỷ
suất nợ) đƣợc chấp nhận đối với mức độ CBTT tùy ý về QLRR và bị
bác bỏ đối với mức độ CBTT bắt buộc về QLRR.
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3
20
CHƢƠNG 4
HÀM Ý CHÍNH SÁCH VÀ KẾT LUẬN
4.1. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO MỨC ĐỘ
CÔNG BỐ THÔNG TIN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO Ở VIỆT NAM
4.1.1. Về tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị không tham gia
điều hành
Theo tác giả, tỷ lệ số thành viên HĐQT độc lập quy định ở Việt
Nam nhƣ trên còn khá thấp, có thể vì đây là quy định mới áp dụng
lần đầu. Tỷ lệ này nên đƣợc tăng dần lên qua các năm sau khi đƣợc
áp dụng và mức xử phạt hành chính do vi phạm cũng nên đƣợc tăng
lên. Ngoài việc xử lý vi phạm về hành chính, cơ quan quản lý cũng
có thể áp dụng biện pháp công bố rộng rãi danh sách các DN không
tuân thủ quy định, thƣờng xuyên không tuân thủ dù đã bị nhắc nhở
nhiều lần…
4.1.2.
Về khả năng thanh toán
Kết quả định lƣợng hàm ý rằng khi doanh nghiệp hoạt động
chƣa hiệu quả, nợ ngắn hạn chƣa đƣợc đảm bảo chắc chắn bởi tài sản
ngắn hạn, thì trong tình cảnh đó, DN quyết định CBTT về QLRR cao
hơn; bởi vì thông qua đó các doanh nghiệp có thể thuyết phục đƣợc
độ giám sát đối với ban điều hành, từ đó đảm bảo thông tin về QLRR
đƣợc công bố đầy đủ, chính xác và hữu ích cho ngƣời sử dụng.
Các DN nên chú trọng đến việc CBTT về QLRR có chất lƣợng
cao hơn là CBTT về QLRR chú trọng đến số lƣợng, đảm bảo thông
tin hữu ích không bị che dấu vì một số lý do nào đó, từ đó, ngƣời sử
dụng thông tin sẽ có đƣợc những thông tin có hữu ích hơn.
Nhằm nâng cao khả năng QLRR, các DN ngành tài chính nói
riêng và các DN thuộc các ngành khác nói chung cần xây dựng mô
hình QLRR dựa trên mô hình của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh
tế (OECD).
22
4.2. KẾT LUẬN
4.2.1. Kết quả đạt đƣợc
Kết quả nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ CBTT
về QLRR của các DN ngành tài chính niêm yết ở Việt Nam đã cho
thấy mức độ CBTT về QLRR của các DN này còn thấp. Kết quả
cũng chỉ ra các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ CBTT của các DN
ngành hàng tiêu dùng niêm yết ảnh hƣởng bởi các yếu tố: quy mô
DN, khả năng thanh toán, tỷ suất nợ và tỷ lệ thành viên HĐQT
không tham gia điều hành.
Trong các nhân tố ảnh hƣởng đến mức độ CBTT bắt buộc về
QLRR đã đƣợc chỉ ra trong nghiên cứu, nhân tố có ảnh hƣởng lớn
nhất là tỷ lệ thành viên HĐQT không tham gia điều hành, tiếp theo là
khả năng thanh toán và cuối cùng là quy mô DN. Còn đối với mức
độ CBTT tùy ý về QLRR, nghiên cứu đã chỉ ra bốn nhân tố có ảnh
hƣởng. Trong đó, nhân tố ảnh hƣởng lớn nhất là tỷ lệ thành viên
HĐQT không tham gia điều hành, tiếp theo là khả năng thanh toán,
sau đó là tỷ suất nợ và cuối cùng là quy mô DN.