Sáng kiến kinh nghiệm: Dạy học sinh lớp Một viết đúng chính tả - Pdf 58

A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LỜI MỞ ĐẦU:

Một trong những vấn đề  khó đặt ra cho người giáo viên dạy môn 
Tiếng Việt trong nhà trường phổ  thông (Đặc biệt là cấp Tiểu học) là làm 
thế nào để học sinh viết đúng chính tả.
Như chúng ta đã biết “Cấp Tiểu học là nền, lớp Một là móng”.  Bậc 
Tiểu học là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục. Vì vậy muốn có “nền 
móng” tốt người giáo viên phải là người thợ  đầu tiên để  góp phần quan 
trọng xây dựng nên nền móng đó. Đối với học sinh cấp Tiểu học nói chung  
và lớp Một nói riêng, dạy cho các em nắm chắc được những kiến thức sơ 
đẳng từ  buổi ban đầu thì các em mới có vốn để  tiếp thu những kiến thức  
mới của các lớp trên tốt hơn. Ông cha ta đã có câu “Nét chữ  ­ nết người”,  
không phải tự nhiên mà ông cha ta đã đúc kết ra câu nói ấy, mà cũng không  
tự  nhiên con người ta viết đẹp là do có “hoa tay”. Nếu cái nết của con  
người “phần nhiều do giáo dục mà nên” thì nét chữ cũng phải do rèn luyện 
mới có. Các em phải được rèn luyện ngay từ những nét chữ  đơn giản đầu 
tiên. Đó là từ  khi các em bắt đầu tập cầm bút viết những nét chữ  cơ  bản 
trên trang vở đầu tiên của đời học sinh các em.
Không riêng gì đối với những người giáo viên chúng ta mà với ai  
cũng vậy, thật là buồn trước một bài viết mắc quá nhiều lỗi chính tả, trình  
bày cẩu thả, luộm thuộm. Thật là đau lòng khi học sinh chúng ta ­ những  
chủ  nhân tương lai của đất nước lại viết “Tổ  quốc” thành ra “Tổ  cuốc”!  
Ngược lại, được nhìn một bài viết sạch đẹp, đúng chính tả, ít ra cũng gây 
cho chúng ta những hứng thú ban đầu để có tâm lý thoải mái đi sâu vào tìm  
hiểu nội dung bên trong. Hơn nữa, một bài viết đúng chính tả còn thể hiện  
được sự trong sáng của Tiếng Việt và còn cao hơn đó là thể  hiện trình độ 
văn hóa về mặt ngôn ngữ của người viết. Chính vì thế, trong quá trình dạy 
học, giáo viên phải là người chịu trách nhiệm rèn cho học sinh từng nét chữ 
1



Vì vậy tôi đưa ra đây một số  kinh nghiệm  “Dạy học sinh lớp Một  
viết đúng chính tả” mà bản thân đã tích lũy được trong những năm dạy lớp 
Một để bạn đọc cùng tham khảo.
II.  THỰC   TRẠNG CỦA  VIỆC   DẠY   CHO HỌC  SINH  LỚP  MỘT  VI ẾT  
ĐÚNG CHÍNH TẢ.

1. Thực trạng:
1.1. Thực trạng chung của trường.
a. Thuận lợi: 
Thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, nhìn chung giáo  
viên đã vận dụng khá thành thạo phương án đổi mới dạy học môn Tiếng 
Việt nói chung và phân môn chính tả nói riêng. Từ các yêu cầu kỹ năng cần 
đạt được trong một tiết chính tả: Tập chép (nhìn bảng hoặc sách chép lại 
bài), hoặc nghe ­ viết (Giáo viên đọc học sinh nghe để  viết lại bài), giáo 
viên đã đảm bảo được quy trình dạy cho học sinh viết chính tả. Ngoài ra 
,giáo viên đã có ý thức rèn luyện cho học sinh viết đúng chính tả  từ  lớp 
một, vì vậy học sinh viết chính tả đúng và đẹp.
b. Khó khăn: 
­ Trong chương trình hiện hành, một tuần chỉ  có hai tiết chính tả  và 
sang mãi tuần 23  ở  học kỳ  2 mới bắt đầu viết chính tả. Hình thức viết  
chính tả tập chép là chủ  yếu, chỉ có ba bài bắt đầu học sinh tập nghe đọc 
để viết.
Luật chính tả đưa vào trong chương trình lớp một không được lồng  
ghép vào các tiết học âm và từ đầu chương trình mà sang mãi tuần 25 trở đi 
mới có luật chính tả.
Vì vậy học sinh viết chính tả còn hay bị mắc lỗi.
1.2. Thực trạng của lớp: 
a. Thuận lợi: 


tả .
4


       4. Rèn kỹ năng viết đẹp cho học sinh.
       5. Luyện viết khi học các môn khác.
II. CÁC BIỆN PHÁP TỔ CHỨC THỰC HIỆN.

1. Tổng hợp các quy tắc chính tả  (luật chính tả) được đưa vào lớp  
một.
Cũng như  chữ  viết, trong hoạt động học tập của trẻ  nhu cầu viết 
đúng chính tả xuất hiện thật tự nhiên khi các em bắt đầu viết chữ. Các luật 
chính tả được đưa vào lớp một dần dần theo nguyên tắc : Chỗ nào có nhu 
cầu về luật chính tả  thì ở  đó luật chính tả  được đưa ra giải quyết, chẳng  
hạn :
Học đến e (và sau đó ê, i) các em không thể viết ce (cờ ­ e ­ ke).
Do đó chữ k (ca)  xuất hiện như là một luật chính tả để ghi âm “ca” 
khi đứng trước e (ê, i) nhằm giúp các em viết đúng chính tả:
Ke (đọc ca ­ e ­ ke)
Khi đọc đến các vần có âm đệm u thì luật ghi chữ  q (cu), qu (quờ)  
trước các vần cũng xuất hiện:
qua (quờ ­ a ­ qua)...
quan (quờ ­ oan ­ quan)...
Cũng như vậy, chữ gh, ngh xuất hiện để ghi âm gờ, âm ngờ khi đứng 
trước e, ê, i.
ghe                nghe
ghê                nghê
ghi                 nghi
­ Khi các em viết đến câu thì xuất hiện luật viết hoa chữ cái đầu câu. 
Khi viết đến tên riêng thì nảy sinh quy tắc viết hoa tên riêng, kể  cả  tên 

3.2. Rèn nề nếp tác phong cho học sinh khi viết:
Rèn tư thế ngồi viết đúng cho học sinh  ở các tiết tập viết, chính tả,  
giáo viên luôn chú ý nhắc nhở  uốn nắn cho các em ngồi viết đúng tư  thế. 
Khi ngồi viết các em phải ngồi ngay ngắn, lưng thẳng, không tì ngực vào 
6


cạnh bàn, đầu hơi cúi, hai mắt cách vở  25 ­ 30cm. Cánh tay trái đặt trên 
mặt bàn bên trái vở, bàn tay phải cầm bút. Với cách để  tay như  vậy, khi 
viết bàn tay và cánh tay phải có thể dịch chuyển thuận lợi từ trái sang phải 
dễ  dàng. Quyển vở  được để  hơi chếch về  phía tay trái, khi viết không xê 
dịch người, hai chân để thẳng, vuông góc. Tôi hướng dẫn tỷ mỉ cho các em  
cách cầm bút để  viết (GV vừa làm mẫu, vừa hướng dẫn): Cầm bút vừa  
chặt để không tuột bút; không co thắt cơ tay. Điều khiển bút viết bằng ba 
ngón tay (ngón trỏ, ngón cái, ngón giữa) của bàn tay phải. Đầu ngón tay trỏ 
đặt ở phía trên, đầu ngón tay cái giữ bên trái, phía bên phải của đầu bút tựa  
vào cạnh đốt đầu của ngón tay giữa. Ba điểm tựa này giữ bút và điều khiển  
ngòi bút dịch chuyển linh hoạt. Khi viết, ngòi bút phái úp xuống, không  
quay nghiêng ngòi bút để tránh ngòi bút cạo giấy.
Cùng với sự  hướng dẫn  ở các tiết viết, trong suốt quá trình học, tôi 
luôn luôn quan sát và nhắc nhở các em. 
3.3. Rèn luyện kỹ năng nghe và năng lực phân tích ngữ âm cho học sinh  
trong khi viết chính tả. 
Sang tuần 23  mới có tiết chính tả nhưng không phải chờ đến lúc đó  
mà từ tiết học đầu tiên, bài đầu tiên tôi đã cung cấp cho các em những kiến 
thức về  chính tả, chẳng hạn khi tôi dạy các bài 3, 4, 5 về  các dấu thanh, 
nắm được lỗi của các em (do tiếng địa phương) mà lẫn lộn giữa thanh  ~ và 
thanh ' tôi chú ý luyện cho các em phát âm thật chính xác các tiếng có các  
thanh này và lưu ý các em cách ghi dấu thanh. Phân biệt rõ cách ghi thanh 
ngã (dấu  ) và thanh (sắc ') đưa ra mẫu câu đúng ­ sai để học sinh tự nhận 

đúng chính tả   ở  phần chữ  viết. Rồi trong suốt quá trình học, tôi luôn cho  
các em luyện phát âm nhiều các tiếng có thanh trên: Ví dụ là ­ lá, ngã ­ ngá, 
tả ­ tá, kỹ ­ ký ... sau đó tôi giảng nghĩa của các tiếng đó cho học sinh hiểu  
rằng mỗi thanh có mỗi ý nghĩa khác hẳn nhau. Vì vậy nếu các em viết sai  
dấu thanh thì nghĩa của tiếng đó sẽ bị sai hoàn toàn.
Như là ­ nghĩa là nước lã. Còn lá nghĩa là lá cây.
Hay ngã nghĩa là bị ngã. Còn ngá lại là tiếng không có nghĩa.
* Kết quả: Sau nhiều lần giảng giải như vậy, học sinh lớp tôi không 
những phân biệt các dấu thanh rất tốt mà còn hiểu được cần sử  dụng các 
dấu thanh khi nào thì đúng với nghĩa của nó.
Tiếp đến dạng bài thứ hai và dạng bài thứ ba là học âm, vần mới và  
ôn tập âm, vần. Đây là bài có nhiều yêu cầu giành cho chính tả. Ở đây các 
em sẽ biết dùng ký hiệu (chữ) để ghi âm, tức là biết viết chính tả (thao tác  
ký mã) và nắm được các quy tắc chính tả  phổ  biến (như  phần trên tôi đã 
trình bày) cho nên từ  tiết dấu cho đến tất cả  các tiết sau Cô phải rèn cho  
các em kỹ năng nghe và năng lực phân tích ngữ âm. Bởi muốn viết đúng thì  
phải nghe chính xác. Đó là điều cơ  bản nhất trong khi viết. Nhiệm vụ các 
em được giao trong một tiết chính tả là: 
8


­ Thầy đọc chính tả   chỉ  đọc có một lần. học sinh nghe rõ cả  tiếng,  
học sinh nghe nhắc lại lời thầy đọc.
­ Phân tích tiếng đó (trong đầu).
 ­ Nhớ và tìm chữ ghi lại lần lượt từ phần đầu tới phần vần.
­ Hết bài thầy đọc học sinh nhắc lại và tự  chữa lỗi của mình. Làm 
như vậy giúp các em phải chú ý trật tự, tập trung nghe giảng. 
Để  hỗ  trợ  cho kỹ  năng phân tích, sau khi học sinh học âm, học vần 
mới  ở  các tiết học vần, bao giờ  tôi cũng cho học sinh tự  tìm những tiếng, 
từ  mới có âm, vần để  cài bảng cài. Mới đầu, học sinh còn lúng túng tìm  

sai  kiến thức, để  dẫn đến khi đọc phát âm sai và viết sai. Giáo viên phải  
cho các em hiểu: ch,  x, d, khi phát âm lưỡi thẳng, hơi bật ra ngoài. Còn trờ,  
sờ, rờ khi phát âm đầu lưỡi cong lên. Tôi lấy một số cặp từ ngữ ví dụ, sau 
đó tôi giảng nghĩa của các từ  đó cho học sinh hiểu rằng, nếu các em viết  
sai các phụ âm đầu thì nghĩa của các từ đó bị sai hoàn toàn. 
Nhờ kiên trì và kịp thời sửa lỗi cho các em, đến nay các em học sinh 
lớp tôi đã phân biệt được các phụ âm: ch ­ tr, x ­ s; d ­ r rất tốt.
c. Sửa lỗi do không nắm được luật chính tả.
* Sửa lỗi ghi âm gh, ngh, k trước  e, ê, i.
Với dạng lỗi này tôi   kết hợp với những kinh nghiệm và vốn của 
mình đã có từ những năm dạy chương trình CNGD về các luật chính tả để 
đưa vào dạy cho học sinh trong những bài có luật chính tả.
­ Như dạy bài âm k sẽ xuất hiện luật chính tả  khi đứng trước e, ê, i 
thì phải viết bằng chữ ca (k) chứ không được viết là chữ cờ (c).
­ Dạy đến bài âm g sẽ xuất hiện luật chính tả: Khi đứng trước e, ê, i 
thì phải viết bằng  chữ  gờ  kép (gh) chứ không viết là gờ đơn( g).
Số  học sinh  viết   đúng là các em  đã thuộc và nhớ  ngay luật này. 
Nhưng vẫn còn nhiều em nhớ  nhưng lại quên ngay. Nên khi viết bài giáo  
viên phải chú ý hơn đến những em còn hay sai bằng cách giáo viên khi đọc 
bài đến những  tiếng có luật chính tả  phải dừng lại để  nhắc nhở  cho học 
sinh bằng những câu hỏi giúp học sinh nhớ luật chính tả. 
10


Ví dụ:  “Khi đi với những âm nào thì viết bằng chữ k?....” 
* Sửa lỗi ghi âm d, gi.
Khác với luật chính tả e, ê, i được quy định rõ ràng thì luật chính tả 
ghi âm d, gi lại rất chung chung và rất khó phân biệt.
Với những lỗi này giáo viên cũng chỉ  có thể  sửa cho học sinh theo 
từng tiếng mà học sinh vướng phải.

đọc chữ nào đầu câu thì các em phải viết hoa chữ cái đầu” ví dụ: Câu “A!  
Mẹ đã về” tôi hỏi các em chữ đầu câu là chữ  nào? (học sinh: Chữ A) vậy  
thì chữ  nào phải viết hoa (HS: chữ A) tôi hỏi ngược lại luôn vì sao? (HS:  
Vì nó là chữ đầu câu). Cứ như vậy tôi hình thành cho các em được quy tắc 
viết hoa chữ  đầu câu. Và các em đã nhớ  và viết đúng. Chỉ  có viết hoa tên  
riêng của người và địa danh thì các em lúc đầu còn lúng túng cứ phải hỏi cô  
giáo. Nhưng với những câu hỏi gợi ý dần dần, tôi đã giúp các em phân tích  
được đâu là tên riêng của người, tên riêng của địa danh để các em viết hoa 
đúng.
Như vậy, muốn để các em có kỹ  năng viết đúng chính tả, tôi đã cho 
các em luyện với nhiều hình thức nghe và phân tích, xác định đúng để chọn 
chữ viết đúng.
4. Rèn kỹ năng viết đẹp cho học sinh:
Một bài chính tả  không những yêu cầu viết đúng mà còn phải viết 
đẹp. Để giúp các em viết đẹp, ngoài đã hướng dẫn các em ở những tiết tập  
viết, tôi phải hướng dẫn học sinh viết chữ đúng cỡ, đúng kiểu, liền nét, có 
khoảng cách hợp lý, các nét chữ viết liền mạch để khỏi nhấc bút, chữ viết 
phải thẳng hàng, đều chữ. Chữ  viết thẳng ngay ngắn. Chữ cô viết mẫu  ở 
những bài tập chép trên bảng phải đẹp, rõ ràng, không tô đi mạc lại hay xóa 
đi xóa lại nhiều lần, như vậy học sinh sẽ bắt chước ngay. 
5. Luyện viết khi học các môn khác.
Kỹ năng viết chữ được hình thành, rèn luyện trước tiên trong giờ tập 
viết và chính tả song cũng được củng cố và hoàn thiện trong nhiều giờ học  
12


của các bộ  môn khác,  ở  nhiều lúc, nhiều nơi. Vì vậy giáo viên cũng tận 
dụng việc viết các bài học, bài làm để học sinh luyện viết đúng.
* Tóm lại: Muốn dạy cho học sinh lớp Một viết đúng chính tả, tôi đã 
thực hiện các biện pháp trên một cách chặt chẽ, song song và thống nhất, 

85,7

Xếp loại B
Số 
%
lượng

19
10
7
5

54,3
28,6
20,0
14,3

Xếp loại C
Số 
%
lượng

0
0
0
0

0
0
0

­ Chữ viết giáo viên phải đẹp, chuẩn, đúng mẫu.
­ Giáo viên thường xuyên chấm bài, sửa lỗi cẩn thận, rõ ràng, chính  
xác cho từng em. Tuyệt đối không được gạch xóa bài của học sinh mà phải  
sửa từng lỗi cho học sinh, sau đó cho học sinh sửa lỗi sai viết lại đúng  
xuống phía dưới bài. Khi cho điểm giáo viên phải cho đúng mức với giá trị 
bài viết của các em đạt được.
­ Liên hệ với phụ huynh thường xuyên bằng các bài kiểm tra của học 
sinh, bằng sổ  liên lạc, bằng kết quả  xếp loại vở  sạch ­ chữ   đẹp hàng 
tháng, hoặc trực tiếp gặp gỡ phụ huynh.

14


­ Những học sinh có khả năng viết chữ đẹp sẽ được coi như học sinh 
có “năng khiếu”  viết chữ, giáo viên cần quan tâm bồi dưỡng thêm để  sau 
này có thể  phát huy, hưởng  ứng cuộc thi “Viết chữ đẹp” các cấp, để  học 
sinh tự khẳng định khả năng của mình.
­ Yếu tố  về cơ  sở  vật chất có vị  trí quan trọng  ảnh hưởng đến quá 
trình luyện chữ  viết của các em, vì vậy cần phải đảm bảo các điều kiện  
tốt như: ánh sáng phòng học đầy đủ, bảng lớp, bàn ghế học sinh phải đúng  
quy định. Bảng con, phấn, vở viết, bút phải thuận tiện cho học sinh khi sử 
dụng.
  Trên đây là một số  kinh nghiệm nhỏ  tôi đưa ra chắc là còn nhiều  
hạn chế, nhưng đó cũng là những kinh nghiệm được rút ra qua quá trình 
thực tế dạy cho học sinh lớp  Một viết đúng chính tả  ở lớp Một trong năm  
học 2010 ­ 2011 do tôi phụ trách.
Vậy kính mong các bạn đồng nghiệp giúp đỡ  để  tôi đạt kết quả  tốt  
hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
                                            Trường Tiểu học Đông Sơn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status