LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài
Ở Thanh Hóa, chi NSĐP cho GDCL đã được quan tâm đáng kể trong giai
đoạn giai đoạn 20112017, chi NSĐP cho GDCL chiếm trên 20% tổng chi cân đối
NSĐP. Công tác quản lý chi NSĐP cho GDCL trên địa bàn tỉnh cũng có nhiều thay
đổi: phân cấp quản lý chi NSĐP cho GDCL đã khá rõ ràng, minh bạch; tỉnh đã ban
hành các văn bản hướng dẫn và lịch biểu lập dự toán NSĐP một cách kịp thời và
tương đối cụ thể; định mức chi thường xuyên NSĐP có sự phân biệt theo khu vực,
đảm bảo công bằng trong giáo dục; cơ cấu chi NSĐP cho các cấp học đã có thay
đổi phù hợp với mục tiêu phát triển giáo dục địa phương, ….
Tuy nhiên, quản lý chi NSĐP cho GDCL ở tỉnh Thanh Hóa cũng còn tồn tại
những hạn chế cần được khắc phục: phân chia nguồn lực chi ĐTPT giữa các cấp
NSĐP chưa tương xứng với nhiệm vụ chi được phân cấp; dự toán chi NSĐP cho
GDCL hằng năm chưa gắn với kế hoạch phát triển trung hạn và dài hạn của
ngành, gây khó khăn cho việc chủ động sắp xếp thứ tự ưu tiên thực hiện các mục
tiêu, nhiệm vụ; định mức phân bổ chi NSĐP cho GDCL còn dựa trên yếu tố đầu
vào, nguồn lực NSĐP cho GDCL còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu kinh
phí cho phát triển giáo dục địa phương; lập dự toán chi NSĐP cho GDCL chưa có
sự gắn kết giữa kinh phí phân bổ với đầu ra hay kết quả; quyết toán chi NSĐP cho
GDCL chủ yếu là quyết toán tài chính – kiểm tra sự tuân thủ chế độ, tiêu chuẩn,
định mức chi tiêu và chấp hành dự toán giao đầu năm …
Các nghiên cứu về quản lý tài chính đối với giáo dục đào tạo nói chung trong
thời gian qua đã phân tích, đánh giá và đề xuất các giải pháp tăng cường huy động
nguồn lực phát triển giáo dục, đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho giáo dục,
quản lý tài chính của cơ quan chủ quản (Sở Giáo dục và đào tạo) đối với các
trường THPT… Tuy nhiên, chưa có đề tài nghiên cứu độc lập về quản lý chi
NSĐP cho GDCL, đặc biệt là trong điều kiện triển khai thực hiện các quy định
mới về quản lý NSNN kể từ khi Luật NSNN 2015 có hiệu lực.
Xuất phát từ những vấn đề trên, việc nghiên cứu để tìm ra các giải pháp
hoàn thiện quản lý chi NSĐP cho GDCL ở tỉnh Thanh Hóa là cần thiết cả về mặt
lý luận và thực tiễn.
Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu của luận án, tác giả đã sử dụng các
phương pháp nghiên cứu các nội dung quản lý chi NSĐP cho GDCL tỉnh Thanh
Hóa như sau:
Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết
Là các phương pháp thu thập thông tin trên cơ sở nghiên cứu các văn bản,
tài liệu đã có về quản lý chi NSĐP cho GDCL để hình thành khung lý thuyết cho
luận án và minh chứng số liệu v ề qu ản lý chi NSĐP cho GDCL tỉnh Thanh Hóa.
Trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu trướ c đây về quản lý chi NSĐP cho
2
GDCL, tác giả phân tích lý thuyết và tổng hợp lý thuyết để xác định hệ thống
khung lý thuyết liên quan đến quản lý chi NSĐP cho GDCL và khoảng trống
nghiên cứu.
Nguồn tài liệu phân tích là từ các tạp chí trong và ngoài nước, từ các báo cáo
khoa học, các ấn phẩm và những bài viết điện tử liên quan đến chi NSĐP cho
GDCL. Thông qua phương pháp này, tác giả đã thu thập và xử lý được các thông
tin như sau:
+ Cơ sở lý thuyết liên quan đến quản lý chi NSĐP cho GDCL;
+ Các kết quả nghiên cứu cụ thể về quản lý chi NSĐP cho GDCL đã công
bố trên các ấn phẩm;
+ Các số liệu thống kê về quản lý chi NSĐP cho GDCL ở Việt Nam, tỉnh
Thanh Hóa;
+ Chủ trương, chính sách liên quan đến quản lý chi NSĐP cho GDCL;
Phương pháp chuyên gia
Đây là phương pháp điều tra quan đánh giá của các chuyên gia về quản lý chi
NSĐP cho GDCL, được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu đối với cán bộ quản lý
tài chính các cấp và đơn vị sử dụng ngân sách.
Đối tượng phỏng vấn gồm 02 đối tượng:
(i) Đối tượng là những cán bộ quản lý tài chính giáo dục
tài chính đối với giáo dục trên các góc độ chi tiêu NSNN cho giáo dục, phân cấp
quản lý giáo dục và tài chính giáo dục. Tuy nhiên, chưa có công trình, báo cáo
nghiên cứu về quản lý chi NSĐP cho GDCL từ phía cơ quan tài chính một cách
đầy đủ; chưa nghiên cứu các điều kiện để thực hiện quản lý chi NSNN cho giáo
dục gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ ở địa phương cũng như chưa xây dựng
được các tiêu chí đánh giá hiệu quả chi NSĐP cho GDCL.
Định hướng nghiên cứu của luận án: Đề tài luận án “Quản lý chi Ngân sách
địa phương cho giáo dục công lập ở tỉnh Thanh Hóa” phân tích, làm rõ cơ sở lý
luận về quản lý chi NSĐP cho GDCL, đánh giá thực trạng quản lý chi NSĐP cho
GDCL ở địa phương thông qua thực tiễn ở tỉnh Thanh Hóa và đề xuất các giải
pháp hoàn thiện quản lý chi NSĐP cho GDCL theo hướng gắn với kế hoạch phát
triển ngành trong trung hạn và quản lý chi NSĐP cho GDCL gắn với kết quả thực
hiện nhiệm vụ.
7. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận án được chia thành 03
chương
Chương 1: Lý luận chung về giáo dục và quản lý chi ngân sách địa phương
cho giáo dục công lập
Chương 2: Thực trạng quản lý chi ngân sách địa phương cho giáo dục công
lập ở tỉnh Thanh Hóa
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý chi ngân sách địa phương cho giáo
dục công lập ở tỉnh Thanh Hóa.
4
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIÁO DỤC VÀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH
ĐỊA PHƯƠNG CHO GIÁO DỤC CÔNG LẬP
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIÁO DỤC
cơ quan nghiên cứu khoa học về quản lý giáo dục và dạy học. Trong các bộ phận
đó, hệ thống nhà trường giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống giáo dục. Vì vậy, khi
nói đến hệ thống giáo dục thường người ta nói đến hệ thống nhà trường.
Ở Việt Nam, hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm giáo dục chính quy và
GDTX. Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao
gồm1:
Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo;
Giáo dục phổ thông có tiểu học, THCS, trung học phổ thông;
Giáo dục nghề nghiệp đào tạo trình độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng;
Giáo dục đại học đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ.
1.1.4. Vai trò của giáo dục
Thứ nhất, giáo dục góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc
nâng cao năng suất lao động.
Thứ hai, giáo dục góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng
yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động.
Thứ ba, giáo dục góp phần giải quyết các vấn đề an sinh xã hội và hình
thành nền văn hóa tinh thần của xã hội.
1.2 CHI NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG CHO GIÁO DỤC CÔNG LẬP
1.2.1 Khái niệm chi ngân sách địa phương cho GDCL
Chi NSĐP cho GDCL là khoản chi NSĐP để đảm bảo các hoạt động của
ngành giáo dục, bao gồm các khoản chi duy trì hoạt động thường xuyên của ngành
(chi phục vụ hoạt động giảng dạy, học tập tại các cơ sở GDCL), chi đảm bảo cơ
sở vật chất ngành giáo dục và chi thực hiện các chương trình, dự án, kế hoạch
phát triển ngành giáo dục theo phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục nhằm thực
hiện mục tiêu đào tạo, phát triển nguồn nhân lực của địa phương.
1.2.2 Đặc điểm chi ngân sách địa phương cho GDCL
Thứ nhất, chi NSĐP cho GDCL mang tính chất ổn định.
Thứ hai, chi NSĐP cho GDCL là khoản chi mang tính chất phát triển.
Thứ ba, chi NSĐP cho GDCL đòi hỏi sự công bằng rất cao.
Thứ tư, chi NSĐP cho GDCL rất khó đo lường về kết quả thực hiện nhiệm
mục đích, có kế hoạch của các cơ quan có thẩm quyền ở địa phương (các cấp
chính quyền, cơ quan tài chính, cơ quan giáo dục đào tạo) đến quá trình phân bổ và
sử dụng các nguồn lực tài chính từ NSNN cho GDCL ở địa phương nhằm thực
hiện các mục tiêu phát triển giáo dục địa phương.
Quản lý tài khóa tại các cấp chính quyền địa phương nói chung, quản lý chi
NSNN cho sự nghiệp GDCL nói riêng hướng tới các mục tiêu sau:
Kỷ luật tài khóa:
Đối với lĩnh vực giáo dục, duy trì kỷ luật tài khóa là việc ngành giáo dục
cần sắp xếp thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của ngành ở địa phương trên cơ sở
nguồn lực được phân bổ/trần ngân sách. Tổng số tiền NSĐP chi cho giáo dục (cả
nguồn trung ương hỗ trợ và nguồn NSĐP) không vượt trần ngân sách trong trung
hạn (bao gồm cả chi đầu tư và chi thường xuyên), trừ những trường hợp đặc biệt.
Hiệu quả phân bổ:
Trong điều kiện nguồn lực NSĐP còn hạn chế, nguồn lực phân bổ cho
7
ngành giáo dục hạn hẹp, cần có sự sắp xếp, lựa chọn những vấn đề quan trọng
nhất cần giải quyết của ngành ngay từ khâu lập kế hoạch phát triển KTXH của
địa phương và kế hoạch phát triển ngành để ưu tiên bố trí nguồn lực. Trên cơ sở
đó, phân bổ ngân nguồn lực NSĐP cho các nhiệm vụ của ngành giáo dục cần lưu ý
tới các mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng ngay từ khâu lập ngân sách.
Hiệu quả hoạt động:
Khi theo đuổi mục tiêu hiệu quả hoạt động, cần chú ý 2 điểm: (i) Nếu
không giao quyền chủ động cho nhà quản lý thì cũng không thể buộc họ phải chịu
trách nhiệm về sản phẩm được tạo ra và (ii) Khi nhà quản lý chưa sẵn sàng và
không buộc phải chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ thì cũng không
nên cho phép họ tự chủ về sử dụng nguồn ngân sách. Vì vậy, trách nhiệm giải
trình là yếu tố đóng góp không nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động.
1.3.2.2 Các phương thức quản lý chi NSĐP cho GDCL
chi NSĐP cho GDCL trong tổng thể dự toán chi NSĐP. Các giai đoạn cụ thể như
sau:
Giai đoạn lập dự toán từ trên xuống:
Ở giai đoạn này, cơ quan tài chính trên cơ sở các chính sách và chương trình,
kế hoạch phát triển ngành giáo dục; khả năng nguồn lực của NSĐP để xác định
trần chi tiêu và thông báo cho các đơn vị ngành giáo dục, các địa phương để làm cơ
sở xây dựng dự toán năm kế hoạch và tầm nhìn trong trung hạn. Trên cơ sở trần
chi tiêu đó, ngành giáo dục sẽ lựa chọn các chương trình chi tiêu theo thứ tự ưu
tiên và có quyền chủ động trong việc lựa chọn cơ cấu chi tiêu, giảm sự can thiệp
của cơ quan tài chính trong việc xác định cơ cấu nội bộ của ngành giáo dục.
Giai đoạn lập dự toán từ dưới lên:
Các đơn vị SDNS, các địa phương cấp dưới căn cứ vào kế hoạch phát triển,
định hướng phát triển của ngành; nhiệm vụ năm kế hoạch; trần chi được thông
báo; các hướng dẫn xây dựng dự toán, tùy thuộc vào phương thức quản lý NSNN
đang áp dụng trong từng thời kỳ cụ thể mà lập dự toán chi NSĐP cho GDCL theo
các phương pháp khác nhau.
Trong quản lý chi NSĐP cho GDCL theo yếu tố đầu vào, các đơn vị, địa
phương lập dự toán dựa trên cơ sở các đầu vào (số lượng biên chế giáo viên, các
khoản mục chi phí duy trì hoạt động của các địa phương, đơn vị tài liệu, thiết bị
phục vụ giảng dạy….) và các tiêu chuẩn, chế độ, định mức chi tiêu do cơ quan có
thẩm quyền ban hành. Định mức phân bổ chi NSĐP cho GDCL trong trường hợp
quản lý chi NSĐP theo yếu tố đầu vào là mức chi NSĐP cho một nhóm nhiệm vụ
chi (tiền lương, chi nghiệp vụ….).
Trong quản lý chi NSĐP cho GDCL theo kết quả thực hiện nhiệm vụ, cần
lượng hóa toàn bộ chuỗi quan hệ kết quả gồm đầu vào (chi tiêu giáo dục theo các
tiêu chí) đầu vào trung gian (tỷ lệ tuyển sinh, tỷ lệ giáo viênhọc sinh, quy mô lớp
học) đầu ra (kết quả học tập, tỷ lệ tốt nghiệp, tỷ lệ bỏ học) kết quả (tỷ lệ biết
chữ, trình độ chuyên môn, kỹ năng của lực lượng lao động) tác động (phạm vi
ảnh hưởng của các chương trình, chính sách ngành giáo dục). Định mức phân bổ
chi NSĐP cho GDCL được xác định cho 01 học sinh đạt chuẩn đầu ra theo quy
Trong quản lý chi NSĐP theo kết quả thực hiện nhiệm vụ, các đơn vị
SDNS, các cơ quan quản lý, kiểm toán thực hiện đánh giá lại kết quả thực hiện
các mục tiêu của ngành gắn với ngân sách đã được phân bổ cho các đơn vị SDNS
từ đầu năm. Đây là quá trình thẩm định một cách hệ thống và tương đối khách
quan đối với quá trình lập, thực hiện và kết quả (đầu ra) của một dự án, chương
trình, chính sách đang thực hiện hoặc đã hoàn thành.
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chi NSĐP cho GDCL
10
Nhóm nhân tố khách quan: điều kiện tự nhiên, KTXH của địa phương;
chủ trương, chính sách của Nhà nước đối với phát triển giáo dục và kế hoạch phát
triển giáo dục của địa phương; hệ thống cơ chế, chính sách quản lý NSNN; đặc
điểm hoạt động của ngành giáo dục.
Nhóm nhân tố chủ quan: cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý tài chính; trình
độ, năng lực của cán bộ quản lý.
1.4 QUẢN LÝ CHI NSNN CHO GDCL ĐỊA PHƯƠNG Ở MỘT SỐ
NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG TRONG NƯỚC BÀI
HỌC KINH NGHIỆM CHO TỈNH THANH HÓA
Luận án nghiên cứu kinh nghiệm quản lý chi NSNN cho GDCL địa phương
ở một số nước trên thế giới (Hàn Quốc, Thái Lan, các nước thuộc khối OECD),
một số địa phương trong nước (Nghệ An, thành phố Hà Nội, Bắc Ninh), từ đó
phân tích đưa ra các nhận xét và rút ra 03 nhóm bài học cho tỉnh Thanh Hóa về xây
dựng định mức phân bổ NSNN cho giáo dục, phân cấp quản lý chi NSĐP cho giáo
dục và quy trình quản lý chi NSĐP cho giáo dục.
11
Chương 2
2.2.1 Phân cấp quản lý chi NSĐP cho GDCL
12
Giai đoạn 20112017, phân cấp nhiệm vụ chi NSĐP cho GDCL tỉnh Thanh
Hóa thực hiện theo quy định tại Nghị quyết số 167/2010/NQHĐND ngày
08/12/2010 và Nghị quyết số 24/2016/NQHĐND ngày 08/12/2016 của Hội đồng
nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Phân cấp quản lý chi NSĐP cho GDCL ở tỉnh Thanh Hóa đã phân định cụ
thể nguồn thu, nhiệm vụ chi cho GDCL của các cấp NSĐP khá rõ ràng tạo điều
kiện cho các cấp chủ động sắp xếp thực hiện nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, còn
tồn tại một số bất cập về mối tương quan giữa phân cấp nhiệm vụ chi và phân chia
nguồn lực giữa các cấp chính quyền địa phương; thẩm quyền ban hành chế độ, tiêu
chuẩn, định mức chi tiêu NSĐP cho GDCL. Mặc dù đã phân định rõ nhiệm vụ chi
cho các cấp chính quyền nhưng vốn ĐTPT thuộc cân đối NSĐP lại do cấp tỉnh chủ
trì phân bổ và tập trung ở ngân sách cấp tỉnh. Chính vì vậy, không đảm bảo nguyên
tắc về sự phù hợp giữa phân chia nguồn lực với nhiệm vụ giữa các cấp chính
quyền. Bên cạnh đó, với cơ chế phân cấp ngày, nguồn lực tập trung chủ yếu ở cấp
huyện, xã (cấp tỉnh chiếm 1115,7%, ngân sách huyện 84,389% tổng chi NSĐP cho
GDCL) nên Sở GD&ĐT rất khó để có thể dự báo nguồn lực dành cho giáo dục khi
lập kế hoạch phát triển ngành.
Thẩm quyền ban hành một số định mức, tiêu chuẩn chi tiêu ở địa phương
chủ yếu thuộc về HĐND cấp tỉnh, HĐND cấp dưới (huyện, xã) chỉ có thẩm
quyền tổ chức và giám sát thực hiện.
2.2.2 Lập dự toán chi ngân sách địa phương cho giáo dục công lập
Lập dự toán chi NSĐP cho GDCL tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 20112017 đã
tuân thủ quy định của Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn thi hành về quy trình,
hướng dẫn thực hiện. Đã có lịch biểu và hướng dẫn lập dự toán ngân sách hàng
năm quy định về nội dung, thời gian, mẫu biểu cần tiến hành lập dự toán chi
kế hoạch chi ĐPT cho giáo dục giai đoạn 20162020 vẫn tồn tại một số hạn chế:
Chưa có tiêu chí cụ thể (về nội dung, mức độ ưu tiên) để rà soát, sắp xếp thứ tự
ưu tiên lựa chọn các dự án; Vốn ĐTPT trong kế hoạch đầu tư phát triển, kế hoạch
đầu tư công được phân chia thành các nhóm theo tiến độ thực hiện (bố trí vốn cho
các dự án có quyết toán được duyệt, dự án chuyển tiếp và dự án khởi công mới),
không phân theo lĩnh vực, do đó, khó tính toán và đánh giá được tỷ lệ chi NSĐP cho
GDCL.
Dự toán chi NSĐP cho GDCL cơ bản áp dụng phương pháp lập ngân sách
truyền thống, chưa có sự gắn kết giữa kinh phí phân bổ với đầu ra hay kết quả.
Dự toán chi NSĐP cho GDCL tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 20112017 được lập dựa
trên cơ sở đề xuất của các đơn vị ngành giáo dục về kinh phí chi trả lương, các
khoản có tính chất lương, chi nghiệp vụ và các khoản chi đảm bảo thực hiện một
số nhiệm vụ không thường xuyên của đơn vị. Dự toán chi NSĐP cho các đơn vị
ngành giáo dục không kèm theo các ràng buộc về nhiệm vụ phải thực hiện của các
đơn vị tương ứng với kinh phí được phân bổ.
2.2.3 Chấp hành dự toán chi ngân sách địa phương cho giáo dục công
lập
Cơ cấu chi NSĐP cho GDCL đã có những thay đổi phù hợp với mục tiêu,
định hướng phát triển giáo dục của địa phương, góp phần quan trọng trong việc
thực hiện các mục tiêu của ngành giáo dục.
14
Chi NSĐP cho giáo dục mầm non, tiểu học và THCS chiếm tỷ trọng chủ
yếu và tương đối ổn định trong giai đoạn 20112017, giảm tỷ trọng chi cho giáo
dục THPT và hoạt động giáo dục khác.
Tổng chi NSĐP cho GDCL chiếm từ 21,124,9% tổng chi cân đối NSĐP. Với ưu
tiên đó, giai đoạn 20112017 ngành giáo dục tỉnh Thanh Hóa đã đạt được những kết
quả đáng kể (quy mô giáo dục phát triển hợp lý, chất lượng giáo dục đại trà và giáo
dục miền núi được nâng lên; phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập THCS
Quyết toán chi NSĐP cho GDCL tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 20112017 đã
thực hiện theo đúng quy định của Luật NSNN về trình tự, hồ sơ quyết toán, tổng
hợp số liệu, báo cáo quyết toán.
Tuy nhiên, quyết toán chi NSĐP cho GDCL chủ yếu thực hiện nội dung
quyết toán tài chính; quy trình xem xét, phê duyệt quyết toán còn khá phức tạp,
phiền phức; số liệu quyết toán chưa phản ánh được kết quả thực hiện nhiệm vụ
của đơn vị.
Xét về nội dung quyết toán, chủ yếu thực hiện việc đối chiếu số liệu để
đảm bảo tính phù hợp, tính khớp đúng của các khoản chi mà chưa có sự xem xét,
đánh giá sự phù hợp giữa nguồn tài chính được giao với kết quả thực hiện nhiệm
vụ của các địa phương, đơn vị.
Quy trình xem xét và phê duyệt quyết toán ngân sách hiện cũng còn khá phức
tạp, phiền phức, vì quá nhiều hệ thống cơ quan khác nhau trên cùng một việc, quá
nhiều mối quan hệ, dẫn đến rất chậm về thời gian.
Số liệu quyết toán trong báo cáo quyết toán năm của các đơn vị dự toán chủ
yếu được tổng hợp theo nguyên tắc đảm bảo chính xác, trung thực, đầy đủ và so
sánh với dự toán ngân sách, không tổng hợp, báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ
theo cam kết.
Chương 3
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ
CHI NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG CHO GIÁO DỤC CÔNG LẬP
Ở TỈNH THANH HÓA
3.1 MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VÀ ĐỊNH HƯỚNG, QUAN
ĐIỂM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG CHO
GIÁO DỤC CÔNG LẬP TỈNH THANH HÓA ĐẾN NĂM 2025, TẦM NHÌN
ĐẾN NĂM 2030
3.1.1 Mục tiêu phát triển giáo dục tỉnh Thanh Hóa đến năm 2025, tầm
Bốn là, nâng cao chất lượng tất cả các khâu trong chu trình ngân sách, nhất
là chất lượng xây dựng dự toán chi NSĐP cho GDCL, xiết chặt kỷ luật tuân thủ
dự toán và trách nhiệm giải trình, gắn trách nhiệm của cá nhân, tổ chức trong quá
trình phân bổ và sử dụng NSĐP cho phát triển GDCL ở địa phương.
3.1.2.2 Quan điểm quản lý chi NSĐP cho GDCL tỉnh Thanh Hóa
Một là, quản lý chi NSĐP cho GDCL phải tiếp tục quán triệt quan điểm đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo Nghị quyết 29NQ/TW ngày
04/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương Khóa XI. [5]
Hai là, quản lý chi NSĐP cho GDCL phải quán triệt quan điểm cải cách
quản lý tài chính công quốc gia nói chung và của tỉnh nói riêng.
Ba là, quản lý chi NSĐP cho GDCL hướng đến kết quả thực hiện nhiệm
vụ, đảm bảo thực hiện các mục tiêuphát triển giáo dục địa phương.
17
Giai đoạn 20112017, quản lý chi NSĐP cho GDCL tỉnh Thanh Hóa còn tồn
tại nhiều hạn chế, quản lý chủ yếu theo yếu tố đầu vào; vấn đề tổ chức, bố trí
lao động ở các đơn vị ngành giáo dục còn nhiều bất cập, tình trạng thừa thiếu cục
bộ vẫn diễn ra ở các đơn vị trong toàn ngành. Chính vì vậy, việc đổi mới quản lý
chi NSĐP cho GDCL cần phải xây dựng lộ trình cụ thể, tránh nóng vội trong
chuyển đổi phương thức quản lý để đạt được hiệu quả triển khai cao nhất. Mỗi
giải pháp đề ra cần được phân tích để xác định các điều kiện chi phối đến việc
triển khai giải pháp để xây dựng mức độ triển khai phù hợp.
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH ĐỊA
PHƯƠN CHO GIÁO DỤC CÔNG LẬP TỈNH THANH HÓA
3.2.1 Nhóm các giải pháp chủ yếu
3.2.1.1 Hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý chi ngân sách địa phwong
cho giáo dục công lập tỉnh Thanh Hóa
Cơ chế phân cấp quản lý chi NSĐP cho GDCL tỉnh Thanh Hóa đến năm
2025, tầm nhìn đến 2030 cần được hoàn thiện theo hướng:
tác động của chỉ số giá tiêu dùng theo quy định tại Nghị định 86/2015/NĐCP ngày
02/10/2015 của Chính phủ.
Xác định mức phân bổ NSĐP cho 01 học sinh
Theo tiêu chí phân bổ là “học sinh”, định mức phân bổ NSĐP được xác định
trên cơ sở chi phí đào tạo và mức thu học phí/01 học sinh/01 năm. Định mức phân
bổ chi NSĐP được xác định là chênh lệch giữa chi phí nghiệp vụ/01 học sinh/01
năm và mức thu học phí/01 học sinh/01 năm. Ngoài ra, định mức phân bổ NSĐP cho
GDCL sẽ được điều chỉnh theo sự biến động của chỉ số giá tiêu dùng và có phân
biệt theo điều kiện kinh tế của từng địa bàn dân cư cũng như khả năng đóng góp
của người dân.
Lộ trình thực hiện:
Trước mắt, việc phân bổ NSĐP cho giáo dục như vậy sẽ gây khó khăn về
ngân sách ở các địa phương chưa có quy hoạch hợp lý mạng lưới các cơ sở giáo
dục, thừa thiếu biên chế giáo viên cục bộ, hay các trường có số lượng học sinh ít...
Hạn chế này có thể được khắc phục bằng cách bổ sung ngân sách có mục tiêu
trong một thời gian nhất định. Tỉnh quy định cụ thể thời hạn này để ngành giáo
dục quy hoạch lại mạng lưới và sắp xếp lại biên chế giáo viên cho phù hợp. Vì
vậy, việc xây dựng định mức phân bổ NSĐP cho GDCL theo kết quả thực hiện
nhiệm vụ cần có lộ trình chuyển đổi phù hợp.
Giai đoạn đầu có thể thực hiện phân bổ chi NSĐP cho GDCL theo tiêu chí
kết hợp. Cụ thể: phân bổ theo biên chế được cấp có thẩm quyền giao đối với chi
tiền lương, các khoản phụ cấp, các khoản có tính chất lương và các khoản đóng
góp theo lương; phân bổ chi nghiệp vụ theo số học sinh thực hiện hằng năm.
Các khoản chi thanh toán cá nhân cho biên chế như đã nêu trên được xác định
theo chính sách tiền lương và các chính sách ưu đãi đối với nhà giáo, chính sách đối
với các khu vực có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của
Nhà nước; định mức chi nghiệp vụ theo học sinh thực hiện hằng năm xây dựng
trên cơ sở đảm bảo đủ các chi phí về nghiệp vụ chuyên môn (giáo trình, tài liệu,
19
Thứ nhất, Sở GD&ĐT thành lập một bộ phận tư vấn xây dựng kế hoạch
tài chính ngân sách trung hạn ngành giáo dục, có thể mời đại diện Sở Tài chính
cùng tham gia thành viên của tổ. Thành viên của tổ là những người có năng lực,
được đào tạo về dự báo, xây dựng kế hoạch phát triển ngành, dự báo nhu cầu chi
NSĐP cho GDCL, nắm được phương pháp và quy trình xây dựng KHTCNSNN
trung hạn.
20
Thứ hai, phân định rõ nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị và từng cấp chính
quyền trong việc thực hiện các nhiệm vụ kế hoạch và cần được thể chế hóa trong
kế hoạch của tỉnh để nâng cao trách nhiệm trong tổ chức thực hiện.
Thứ ba, nâng cao chất lượng thẩm định kế hoạch của cơ quan tài chính.
Thứ tư, các đơn vị sử dụng ngân sách ngành giáo dục nâng cao chất lượng
xây dựng KHTC – NSNN 03 năm.
Thứ năm, tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của UBND các cấp; vai trò
giám sát của HĐND các cấp cùng với nâng cao nhận thức, năng lực của cơ quan
quản lý ngành giáo dục (Sở GD&ĐT, phòng GD&ĐT), các đơn vị dự toán cấp tỉnh
thuộc ngành GD&ĐT trong đổi mới phương pháp lập kế hoạch nói chung và
KHTC ngân sách trung hạn nói riêng.
Lộ trình thực hiện giải pháp: thực hiện Nghị định số 45/2017/NĐCP ngày
21/4/2017 quy định chi tiết lập KHTC 05 năm và KHTC – ngân sách nhà nước 03
năm, địa phương đã triển khai lập KHTC – ngân sách nhà nước 03 năm 20182020
và hiện nay đang xây dựng kế hoạch 20192021. Chính vì vậy, để nâng cao chất
lượng của KHTC – ngân sách 03 năm của địa phương, Sở GD&ĐT và các đơn vị
có thể triển khai thực hiện giải pháp này ngay trong năm 2019 để xây dựng kế
hoạch 20202022 và cung cấp các chỉ tiêu phục vụ cho việc xây dựng KHTC 05
năm 20212026 của tỉnh.
3.2.1.4 Gắn kết chặt chẽ giữa kế hoạch phát triển ngành và dự toán chi
ngân sách địa phương cho giáo dục công lập
phương cho giáo dục công lập
Để nâng cao chất lượng tổ chức thực hiện dự toán chi NSĐP cho GDCL cần
thực hiện các giải pháp sau:
Thứ nhất, tiếp tục ưu tiên bố trí nguồn lực từ NSĐP cho phát triển giáo dục
đồng thời phân bổ nguồn kinh phí NSĐP (cả chi đầu tư và chi thường xuyên) cho các
cấp ngân sách tương ứng với nhiệm vụ chi được giao như đã phân tích ở giải pháp
3.2.1.1.
Thứ hai, thay đổi cơ chế cấp phát kinh phí NSĐP cho GDCL. Cụ thể:
Đối với dự toán kinh phí của các trường THPT: Sở Tài chính giao dự toán
kinh phí cho Sở GD&ĐT để thực hiện phân bổ, giao dự toán cho các đơn vị.
Đối với các trường mầm non, tiểu học, THCS: phòng tài chính kế hoạch
các huyện, thị xã, thành phố giao dự toán cho phòng GD&ĐT để thực hiện giao dự
toán cho các đơn vị.
Thứ ba, mở rộng quyền tự chủ của các đơn vị SNCL ngành giáo dục.
Thứ tư, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với chi NSĐP cho GDCL
và thực hiện chế độ báo cáo đánh giá giữa kỳ
Lộ trình thực hiện giải pháp: việc mở rộng quyền tự chủ đối với các đơn
vị SNCL ngành giáo dục đã đượ c thể chế hóa trong các văn bản của Trung
ương (Nghị quy ết số 19NQ/TW ngày 25/10/2017 c ủa Ban ch ấp hành trung
ương Khóa XII; Nghị định 16/2015/NĐCP ngày 14/02/2015 c ủa Chính phủ…),
22
do đó, có thể triển khai th ực hi ện ngay t ừ năm ngân sách 2019 và năm học
20192020. Vi ệc tăng cườ ng kiểm tra giám sát và báo cáo đánh giá giữa kỳ
cũng có thể thực hi ện ngay t ừ năm ngân sách 2019.
3.2.1.6 Xây dựng hệ thống theo dõi đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm
vụ
Trên cơ sở kế hoạch phát triển giáo dục địa phương, tiến độ thực hiện các
chỉ tiêu nhiệm vụ, các chỉ số theo dõi, đánh giá có thể sử dụng như sau:
+ Chi NSĐP cho GDCL tính trên 01 học sinh tốt nghiệp.
Nhóm các chỉ tiêu đánh giá hiệu lực của chi NSĐP cho GDCL:
Để đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ cần thực hiện đánh giá trên các
tiêu chí: số lượng trẻ 05 tuổi hoàn thành chương trình phổ cập mầm non, số học
sinh tốt nghiệp phổ thông (tiểu học, THCS, THPT) ở các đơn vị, các địa phương;
tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi nhà trẻ, mẫu giáo được chăm sóc, giáo dục tại các cơ sở
giáo dục mầm non; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng trong các cơ sở giáo dục mầm
non; tỷ lệ đi học đúng độ tuổi ở các cấp học phổ thông; tỷ lệ phổ cập giáo dục
tiểu học, THCS; tỷ lệ thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ học vấn THPT và
tương đương; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THPT học tiếp lên trình độ đại học, giáo
dục nghề nghiệp; tỷ lệ trẻ em khuyết tật được đi học; tỷ lệ người biết chữ trong
độ tuổi từ 15 trở lên và tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 đến 35....
Lộ trình thực hiện giải pháp: trong khi trung ương chưa ban hành hướng
dẫn chi tiết về quản lý NSNN theo kết quả thực hiện nhiệm vụ, địa phương có
thể bước đầu thực hiện kiểm soát đầu ra, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ
thông qua đánh giá mức độ thực hiện các chỉ tiêu học sinh đạt chuẩn đầu ra theo
quy định ở các cấp học so với chỉ tiêu kế hoạch đã cam kết đầu năm. Trên cơ sở
đó, đánh giá mức độ thực hiện các mục tiêu của ngành thông qua so sánh với mục
tiêu đề ra trong từng mốc thời gian cụ thể (năm 2020, 2025).
3.2.1.7 Tăng cường sự tham gia của cơ quan quản lý ngành trong quản lý
chi ngân sách địa phương cho giáo dục công lập
Các cơ quan quản lý ngành giao duc va đao tao (S
́
̣
̀ ̀ ̣
ở GD&ĐT, các phòng
GD&ĐT) phai gi
̉ ữ vai trò chính trong việc tham mưu cho các cấp chính quyền phân
bổ NSNN cho lĩnh vực GD&ĐT.
Để có thể bảo đảm trách nhiệm giải trình về kết quả thực hiện nhiệm vụ, các
KẾT LUẬN
Với mục tiêu nghiên cứu để hệ thống hóa và phát triển các vấn đề lý luận
về quản lý chi NSĐP cho GDCL cũng như đề xuất một số giải pháp hoàn thiện
quản lý chi NSĐP cho GDCL ở tỉnh Thanh Hóa, tác giả đã lựa chọn đề tài “Quản
lý chi ngân sách địa phương cho giáo dục công lập ở tỉnh Thanh Hóa” làm nội dung
nghiên cứu cho luận án này.
Luận án đã tập trung nghiên cứu các nội dung chính của quản lý chi NSĐP
cho GDCL và đã có một số đóng góp mới, hoàn thành mục tiêu nghiên cứu đề ra.
Cụ thể:
Luận án đã hệ thống hóa và làm rõ các nội dung quản lý chi NSĐP cho
GDCL (phân cấp quản lý chi NSĐP cho GDCL, lập dự toán, chấp hành dự toán,
quyết toán chi NSĐP cho GDCL) trong trường hợp quản lý ngân sách theo yếu tố
đầu vào và quản lý ngân sách theo kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Trên cơ sở nghiên cứu các nội dung quản lý chi NSĐP cho GDCL nói trên,
tác giả nghiên cứu kinh nghiệm quản lý chi ngân sách cho giáo dục địa phương ở
một số quốc gia trên thế giới, kinh nghiệm quản lý chi NSĐP cho GDCL ở một số
tỉnh trong nước và rút ra các bài học kinh nghiệm trong quản lý chi NSĐP cho
25