Luận án Tiến sĩ Kinh tế: Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp Phòng thuộc Sở tại vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ - Pdf 58

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO                        BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ

VIỆN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN

TRẦN VĂN THÀNH

NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO
CỦA CÁN BỘ QUẢN LÝ CẤP PHÒNG THUỘC 
SỞ 
TẠI VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM BẮC BỘ
Chuyên ngành: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Mã số: 9 31 01 05

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. TRẦN THỊ VÂN HOA


2

HÀ NỘI ­ 2019

2


3

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án là công trình nghiên cứu độc lập của tác giả, mọi  
trích dẫn, tài liệu sử dụng trong luận án đều minh bạch. Các kết quả phân tích ở 
đây chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào.

Bộ  đã tạo điều kiện giúp đỡ  tôi trong thời gian thu thập tư  liệu, đi thực tế  và  
phỏng vấn xin ý kiến tư vấn. 
Trong quá trình thực hiện đề  tài nghiên cứu, bản thân đã cố  gắng nhiều, 
song còn nhiều hạn chế nên luận án không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong 
nhận được được sự  đóng góp ý kiến của các nhà nghiên cứu, của các thầy, cô 
giáo, các bạn đọc để  luận án được hoàn thiện hơn cả  về  lý luận khoa học lẫn  
thực tiễn.
Cuối cùng xin chân thành cảm ơn gia đình đã hết mực động viên, giúp đỡ 
tôi hoàn thành luận án này.
Hà Nội, ngày     tháng   năm 2019


5

Tác giả luận án

Trần Văn Thành

MỤC LỤC

 PHỤ LỤC ..........................................................................................................155


6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CCHC
CEO
CNH
DN


7

DANH MỤC BẢNG


8

 DANH MỤC HÌNH, HỘP

Hộp 4.1: …………………………………………………………………………..112
Hộp 4.2: …………………………………………………………………………..113
Hộp 4.3: …………………………………………………………………………..114
Hộp 4.4: …………………………………………………………………………..115
Hộp 4.5: …………………………………………………………………………..118
Hộp 5.1: …………………………………………………………………………..137


9

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Nguồn nhân lực ngày càng  đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát 
triển, là nhân tố  tạo ra sự  chuyển dịch lợi thế  so sánh giữa các quốc gia. Điều 
này có ý nghĩa rất quan trọng với các nước đang phát triển nhằm chuyển đổi từ 
mô hình phát triển hiệu quả  thấp do chủ  yếu dựa vào vốn đầu tư, khai thác  
nguồn tài nguyên giá rẻ, nguồn nhân lực giá rẻ  nhưng chất lượng thấp sang mô 
hình phát triển hiệu quả  cao dựa vào các nhân tố  khoa học công nghệ, nguồn 
nhân lực chất lượng cao và kỹ năng quản lý hiện đại.
Nhận thức được điều đó, ngay từ đầu những năm 2000, trong Chiến lược  

(khóa XI) đã chỉ  rõ: "Đội ngũ cán bộ  lãnh đạo, quản lý các cấp đã có bước  
trưởng thành và tiến bộ  về  nhiều mặt. Đa số  cán bộ, đảng viên có ý thức rèn  
luyện, nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, có ý thức phục vụ nhân  
dân, được nhân dân tin tưởng. Thành tựu 25 năm đổi mới là thành quả của toàn  
Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự đóng góp to lớn của đội ngũ cán bộ,  
đảng viên". Tuy nhiên, thực tiễn ở các Bộ, ngành, địa phương vẫn còn thiếu cán  
bộ  quản lý, lãnh đạo có trình độ  chuyên môn cao, có năng lực tổ  chức quản lý 
giỏi. Chính vì vậy, nghiên cứu đánh giá thực trạng năng lực lãnh đạo của đội ngũ 
cán bộ  quản lý nói chung và đội ngũ cán bộ  quản lý cấp phòng nói riêng làm cơ 
sở cho việc đề ra các giải pháp nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ lãnh  
đạo là rất cần thiết.
Vùng kinh tế  trọng điểm (KTTĐ) Bắc Bộ, với vai trò đượ c xác định là  
“trung tâm đầu não về  chính trị, kinh tế, văn hoá và khoa học của cả  nước”,  
“đang và sẽ  tiếp tục giữ  vị  trí vai trò đặc biệt trong quá trình phát triển của  
cả  nước” (Chính phủ, 2014) đặt ra yêu cầu phát triển kinh tế  của vùng phải 
nhanh và bền vững, là đầu tàu kinh tế, là hạt nhân phát triển, lãnh thổ  động  
lực của vùng Đồng bằng sông Hồng nói riêng và cả nướ c nói chung.  Trong bối 
cảnh đó, đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp, ngành có vị  trí, vai trò rất 


11

quan trọng, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý cấp Phòng tại các Sở. 
Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong công việc điều hành, song lực lượng cán bộ 
quản lý  ở  cấp phòng tại các Sở  vẫn chưa thật sự  đáp  ứng đượ c những yêu  
cầu của thực tiễn hoạt động KT­XH ngày càng cao , luôn thay đổi theo cơ chế 
thị trườ ng.
Đánh giá đúng và có các giải pháp hữu hiệu nhằm nâng cao năng lực của 
đội ngũ cán bộ quản lý ở địa phương là vấn đề  cần thực hiện nhằm giải quyết  
những bất cập hiện nay. Tuy nhiên, các nghiên cứu về vấn đề  này còn khá hạn 

của cán bộ  quản lý cấp phòng thuộc Sở  KH&ĐT tại vùng KTTĐ Bắc Bộ  đến 
năm 2030.
3. Phân tích, đánh giá thực trạng, từ  đó chỉ  ra được những khía cạnh đạt  
được và những hạn chế  trong năng lực lãnh đạo của cán bộ  quản lý cấp phòng  
thuộc Sở KH&ĐT tại vùng KTTĐ Bắc Bộ trong những năm vừa qua.
4. Chỉ  ra được nguyên nhân dẫn tới những hạn chế  trong năng lực lãnh  
đạo của cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở KH&ĐT tại vùng KTTĐ Bắc Bộ.
5. Đề xuất được định hướng và các giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo  
của cán bộ quản lý cấp phòng nói chung và đi sâu vào  nghiên cứu năng lực lãnh 
đạo cấp phòng thuộc Sở KH&ĐT tại vùng KTTĐ Bắc Bộ.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu luận án là năng lực lãnh đạo của cán bộ  quản lý 
cấp phòng thuộc Sở KH&ĐT ở các địa phương vùng KTTĐ Bắc Bộ, đi sâu đánh 
giá cụ  thể  năng lực lãnh đạo từ  góc độ  các yếu tố  kiến thức,  kỹ  năng, tố  chất 
của đội ngũ cán bộ quản lý cấp Phòng (các Trưởng phòng và Phó Trưởng phòng).

3.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Về thời gian: Luận án đánh giá thực trạng năng lực lãnh đạo của cán bộ 
quản lý cấp phòng thuộc Sở KH&ĐT tại vùng KTTĐ Bắc Bộ đến năm 2018 (tuy 
nhiên, các dữ  liệu thứ  cấp dựa vào Niên giám thống kê các địa phương chỉ  đến  
năm 2017 theo số  liệu được công bố  cập nhật nhất của các địa phương tại thời 
điểm nghiên cứu, các dữ  liệu sơ  cấp dựa trên khảo sát và phỏng vấn sâu được  
thực hiện trong năm 2018) và đề xuất các giải pháp kiến nghị trong các năm tiếp  
theo với tầm nhìn tới năm 2030. 
+ Về  không gian: Luận án nghiên cứu năng lực lãnh đạo đối với cán bộ 


13



14

đề xuất ở trên, quy trình nghiên cứu của luận án như sau:
Bước 1: Xây dựng khung năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng 
thuộc Sở.
Khung năng lực lãnh đạo của cán bộ  quản lý cấp phòng thuộc Sở  được 
xây dựng dựa vào tổng quan các nghiên cứu, hệ thống hoá các vấn đề lý luận về 
năng lực lãnh đạo và căn cứ vào vị trí, vai trò của cán bộ quản lý cấp phòng thuộc 
Sở.
Bước 2: Xác định yêu cầu về  năng lực lãnh đạo của cán bộ  quản lý cấp  
phòng thuộc Sở KH&ĐT các địa phương vùng KTTĐ Bắc Bộ.
Dựa trên khung năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở 
được xây dựng trong bước 1, kết hợp với phân tích các đặc điểm, yêu cầu riêng 
của Sở KH&ĐT và các mục tiêu, chiến lược phát triển của vùng KTTĐ Bắc Bộ,  
đồng thời thu thập dữ liệu sơ cấp từ các bên nhằm xác định các năng lực thành 
phần và mức độ yêu cầu đối với các năng lực thành phần của cán bộ quản lý cấn  
phòng thuộc Sở KH&ĐT tại vùng KTTĐ Bắc Bộ.
Bước 3: Thu thập thông tin sơ  cấp từ  các bên liên quan kết hợp với các  
thông tin thứ  cấp có liên quan nhằm phân tích thực trạng năng lực lãnh đạo của  
cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở KH&ĐT tại vùng KTTĐ Bắc Bộ.
Bước 4: Đánh giá thực trạng năng lực lãnh đạo của cán bộ  quản lý cấp 
phòng thuộc Sở KH&ĐT tại vùng KTTĐ Bắc Bộ, rút ra các ưu điểm, các tồn tại  
và nguyên nhân của hạn chế.
Bước 5: Đề xuất các định hướng và giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo 
của cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở của các tỉnh vùng KTTĐ Bắc Bộ.


15

bảng hỏi nhằm xác định thực trạng về năng lực lãnh đạo của cán bộ  quản lý cấp  
phòng, chi tiết theo Phụ lục số 2).
Bảng hỏi về  mức độ  yêu cầu năng lực được phát  phiếu  điều tra với các 
nhóm đối tượng gồm: Lãnh đạo các Sở (Giám đốc hoặc Phó Giám đốc), nhân viên  
các phòng ban thuộc Sở  KH&ĐT. Và các bên có liên quan (gồm cán bộ   ở  Bộ 
KH&ĐT; Viện Chiến lược phát triển; các cán bộ  thuộc Bộ  Nội vụ  và các giảng 
viên có kinh nghiệm về lĩnh vực của đề tài luận án). Chi tiết được trình bày trong 
chương 3 của luận án.
Bảng hỏi về  thực trạng năng lực được phát điều tra với các nhóm gồm:  
cán bộ  quản lý các phòng thuộc Sở  KH&ĐT các tỉnh, nhân viên các phòng, bản 
thân cán bộ quản lý các phòng nhằm thu nhập đánh giá thực trạng năng lực lãnh 
đạo của cán bộ  quản lý cấp phòng theo phương pháp 360 0. Chi tiết được trình 
bày trong chương 4 của luận án.
Ngoài ra,  luận án cũng phỏng vấn sâu một số  chuyên gia, cán bộ  bằng 
phương pháp phỏng vấn sâu trực tiếp và qua điện thoại nhằm tìm hiểu rõ hơn về 


17

các nguyên nhân dẫn tới những hạn chế trong năng lực lãnh đạo của cán bộ quản  
lý cấp phòng. (Danh sách phỏng vấn chi tiết theo phụ lục số 3).
Dữ  liệu thứ  cấp  được thu thập bằng phương pháp nghiên cứu tại bàn. 
Luận án sử dụng các dữ liệu thứ cấp gồm:
­ Nghiên cứu của các tổ chức và cá nhân có liên quan đến đề tài luận án. 
Các nghiên cứu này đượ c sử  dụng phục vụ  cho tổng quan nghiên cứu nhằm  
hình   thành   khung   lý   luận   đánh   giá   năng   lực   lãnh   đạo   cấp   phòng   thuộc   Sở 
KH&ĐT tại vùng KTTĐ Bắc Bộ.
­ Các văn bản quy định, quyết định của Nhà nước gồm: Quyết định số 
747/TTg ngày 11/9/1997 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 145/2004/QĐ­
TTg ngày 13/8/2004 của Thủ  tướng Chính phủ, Quyết định số  198/QĐ­TT ngày 

Sở trên cơ sở các dự báo phát triển KT­XH của cả nước và vùng KTTĐ Bắc Bộ.

5. Những đóng góp mới của luận án
Về  lý luận: Luận án xây dựng khung phân tích năng lực lãnh đạo của cán 
bộ quản lý cấp Phòng thuộc Sở trong đó làm rõ các nội dung gồm: 
Thứ  nhất, xây dựng khung năng lực để  xác định năng lực và các cấp độ 
năng lực lãnh đạo cho cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở trên 3 khía cạnh kiến 
thức, kỹ năng và tố chất lãnh đạo. Trong đó: (i) kiến thức lãnh đạo là toàn bộ các  
kiến thức về  chuyên môn, nghiệp vụ, hiểu biết tự  nhiên xã hội… mà cán bộ 
quản lý dùng để lãnh đạo, quản lý phòng mình được phân công; (ii) Kỹ năng lãnh 
đạo là sự  thành thạo trong việc vận dụng thực tế  các kiến thức, hiểu biết về 
lãnh đạo của cán bộ  quản lý phòng vào việc lãnh đạo, quản lý phòng; (iii) Tố 
chất lãnh đạo biểu hiện qua cách  ứng xử  trong hoạt động lãnh đạo của cán bộ 
quản lý.
Thứ hai, phương pháp đánh giá năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp 
Phòng thuộc Sở dựa trên khung năng lực và đánh giá bằng phương pháp 3600.


19

Thứ ba, các yếu tố  ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo  của cán bộ quản lý 
cấp Phòng thuộc Sở, gồm 3 nhóm yếu tố là các yếu tố thuộc về bản thân cán bộ 
quản lý phòng, yếu tố thuộc về tổ chức và yếu tố thuộc môi trường vĩ mô.
Về  thực tiễn:  Dựa trên khung năng lực đã được xây dựng, luận án phân  
tích làm rõ thực trạng năng lực lãnh đạo của cán bộ quản lý cấp phòng thuộc Sở 
KH&ĐT tại Vùng KTTĐ Bắc Bộ và rút ra được các kết luận như sau:
Thứ nhất, xác định được các thiếu hụt, bất cập trong năng lực lãnh đạo của 
cán bộ quản lý cấp Phòng thuộc Sở KH&ĐT, gồm các thiếu hụt về kiến thức, về 
kỹ năng và về tố chất.
Thứ hai, luận án chỉ ra các nguyên nhân dẫn tới những bất cập trong năng 

CHƯƠNG 1 
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Tổng quan các nghiên cứu ngoài nước
1.1.1. Năng lực, năng lực làm việc
Năng lực và năng lực làm việc  là những thuật ngữ  được sử  dụng trong 
nhiều lĩnh vực và ngày càng phổ quát. Những khái niệm này đã được nghiên cứu 
từ  lâu bởi nhiều nhà khoa học, các doanh nghiệp, cơ  sở  sử  dụng lao động, các  
trường đại học, học viện... Song cơ  bản có hai cách tiếp cận, là cách tiếp cận 
của Mỹ  và cách tiếp cận của Anh. Cụ  thể   một số  công trình của các tác giả 
nước ngoài đã được công bố điển hình theo các cách tiếp cận trên như sau:
Nhóm thứ nhất, theo cách tiếp cận của Mỹ, tiếp cận dựa trên đầu vào, cụ  
thể:
Nhóm tiếp cận này được bắt đầu với nghiên cứu của Boyatzis (1982). Dựa  
trên một nghiên cứu 2000 nhà quản lý giữ  44 vị  trí khác nhau trong 12 tổ  chức,  
Boyatzis đã cho rằng năng lực là  “những thuộc tính cơ  bản của một người có  
liên quan nhân quả  đến hiệu quả  và/ hoặc hiệu quả  vượt trội trong công việc” 
Theo ông, thuộc tính cơ bản đó có thể bao gồm một động lực, một đặc điểm, kỹ 
năng hay một khía cạnh của bản thân hay vai trò xã hội hoặc tri thức.
Phát triển khái niệm ban đầu của Boyatzis,  Spencer, L. M., & Spencer, S. 
M. (1993) cho rằng năng lực bao gồm: Động cơ, đặc điểm bản thân, thái độ hoặc 
giá trị, kiến  thức nội dung hoặc nhận thức hoặc kỹ  năng hành vi ­ bất kỳ  đặc 
điểm cá nhân nào có thể được đo lường hoặc được tính một cách đáng tin cậy và  
điều đó có thể được hiển thị để phân biệt đáng kể giữa người có biểu hiện vượt  
trội và trung bình, hoặc giữa người hoạt động hiệu quả và không hiệu quả.


22

Tiếp tục phát triển khái niệm năng lực của  Boyatzis (1982) và Spencer, L. 


phải coi đây là đặc trưng của từng cá nhân. Thực tế, người ta chỉ phát huy hay  
hạn chế  tính cách, hoặc thay đổi thói quen nhưng không thay đổi tính cách một  
cách dễ dàng được.  
Christian Batal (2002) cũng khẳng định rằng năng lực được cấu thành từ  3  
yếu tố cơ bản: Kiến thức, kỹ năng và tố chất, trong đó “Kiến thức là những hiểu  
biết chung hoặc chuyên ngành của một cá nhân cần thiết để đảm nhiệm một vị trí  
lao động nào đó; năng lực làm việc tương ứng với kiến thức, kỹ năng và hành vi­
thái độ cần huy động để có thể thực hiện đúng đắn các hoạt động riêng của từng  
vị trí làm việc”. 
Cũng liên quan đến khái niệm năng lực, đối với Kari Yoki  (2002) thì “năng 
lực” có nguồn gốc từ tiếng la tinh “competentia” có nghĩa là sự nhất trí hòa hợp. 
Nhất trí, hòa hợp  ở đây hiểu theo nghĩa nhất trí hòa hợp giữa tình hình, kết quả 
thực hiện, nhiệm vụ và khả năng. Nói cụ thể hơn thì “ năng lực là khả năng hoàn  
thành nhiệm vụ được giao”. Khái niệm này chủ yếu nhấn mạnh đến chức năng 
của năng lực mà chưa đưa ra được nội hàm của năng lực, chưa chỉ  ra được các 
yếu tố  cấu thành nên năng lực. Còn năng lực làm việc là khả  năng đáp ứng các 
yêu cầu hoặc thực hiện thành công một công việc. Năng lực này bao gồm cả năng  
lực nhận thức và năng lực phi nhận thức. Năng lực làm việc là một hỗn hợp bao  
gồm các hành động, kiến thức, giá trị  và mục đích thay đổi bối cảnh. Năng lực  
được hiểu là đặc tính có thể  đo lường được của kiến thức, kỹ năng, thái độ, các 
phẩm chất cần thiết để hoàn thành được nhiệm vụ và là yếu tố giúp một cá nhân 
làm việc hiệu quả hơn so với những người khác. 
Nhóm thứ hai, theo cách tiếp cận của Anh, xem xét năng lực như là chức năng,  
bao gồm một tập hợp các yếu tố và tiêu chuẩn gắn với vị trí việc làm và tiêu chuẩn  
nghề nghiệp.
Cách tiếp cận này bắt nguồn từ những năm 1980 tại Anh bằng việc Chính  
phủ giới thiệu cách tiếp cận năng lực để thiết lập một hệ thống về trình độ việc 
làm thống nhất trên toàn quốc.


phải   có   để   đáp   ứng   yêu   cầu   công việc,   và   nó   chính là yếu   tố   giúp   một   cá 
nhân làm việc hiệu quả  hơn so với những người khác. Năng lực của con người 
được ví như như một tảng băng trôi, bao gồm 2 phần: Phần nổi và phần chìm.
 

­ Phần nổi chiếm 10% ­ 20%: Đây là nền tảng được giáo dục, đào tạo, kinh 

nghiệm, kỹ năng, cảm xúc thật… có thể nhìn thấy được thông qua các hình thức  
quan sát, phỏng vấn, đánh giá và theo dõi sổ sách.
­ Phần chìm chiếm 80% ­ 90%: Là phong cách tư duy (Thinking style), đặc 
tính hành vi (Behavioral traits), sở thích nghề  nghiệp (Occupational interests), sự 
phù hợp với công việc (Job fit)... còn tiềm  ẩn, chỉ  được phát hiện và phát huy 
trong quá trình làm việc tại cơ quan, doanh nghiệp nào đó.
 Tóm lại, năng lực là tổ  hợp các thuộc tính tâm lý độc đáo hay các phẩm 
chất tâm lý của mỗi cá nhân đóng vai trò là điều kiện bên trong tạo thuận lợi cho 
việc kết hợp tốt với các yếu tố về kiến thức và kỹ năng của từng cá thể để thực  
hiện tốt một dạng hoạt động nhất định. Năng lực có những biểu hiện như  tính  
nhạy bén, chắc chắn, sâu sắc và dễ dàng trong quá trình lĩnh hội một hành động  
mới nào đó. Người có năng lực là người đạt hiệu suất và chất lượng hoạt động 
cao trong các hoàn cảnh khách quan và chủ quan như nhau (điều kiện hoạt động, 
vốn kiến thức ban đầu, kinh nghiệm…). Năng lực gắn bó chặt chẽ  với tính định 
hướng chung của nhân cách. Những tổng kết này sẽ  là cơ  sở  ban đầu cho  việc 
hình thành khung nghiên cứu của luận án. 

1.1.2. Về năng lực lãnh đạo
Vấn đề  năng lực lãnh đạo đã được đề  cập trên thế  giới từ  những năm  
1955, người được coi là đặt nền móng cho lĩnh vực nghiên cứu này là Robert 
Kantz. Quan điểm của Kantz (1955) lãnh đạo là những người bình thường đã qua 
rèn luyện, khác với các quan niệm về  nhà lãnh đạo lúc bấy giờ  (nhà lãnh đạo 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status