1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
---²---
LÝ THỊ HƯƠNG
KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH
SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
NHỰA CHÂU ÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
2
HÀ NỘI - 2019BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
---²---
LÝ THỊ HƯƠNG
KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH
SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
NHỰA CHÂU ÂU
Chuyên ngành : Kế toán
Mã số
: 60 34 03 01
thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn của mình.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới TS. Nguyễn Viết Tiến đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ để tôi có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ một cách trọn vẹn và
hoàn chỉnh.
Bên cạnh đó, tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, các cán bộ, nhân viên
Công ty cổ phần Nhựa Châu Âu đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày….tháng….năm 2019
Tác giả
Lý Thị Hương
5
MỤC LỤC
PHỤ LỤC
6
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TỪ VIẾT
TẮT
NỘI DUNG ĐẦY ĐỦ
TỪ VIẾT
Bảo hiểm thất nghiệp
NVLTT
Nguyên vật liệu trực tiếp
BTP
Bán thành phẩm
NSLĐ
Năng suất lao động
CKTM
Chiết khấu thương mại
PBCP
Phân bổ chi phí
DN
Doanh nghiệp
SCSPH
Sửa chữa sản phẩm hỏng
Tổng giám đốc
HC-NS
Hành chính – nhân sự
TK
Tài khoản
HĐQT
Hội đồng quản trị
TSCĐ
Tài sản cố định
KKTX
Kê khai thường xuyên
VAS
Chuẩn mực kế toán Việt Nam
KKĐK
Kiểm kê định kỳ
hạ giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận nhưng vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm. Kế
toán là một trong các công cụ quản lý kinh tế quan trọng phục vụ cho công tác quản
lý kinh tế ngày càng hoàn thiện. Để phục vụ cho công tác kế toán thì kế toán chi phí
sản xuất và giá thành sản phẩm là đối tượng không thể thiếu được trong quá trình
SXKD của một DN, đặc biệt là DN sản xuất. Cạnh tranh về giá cả và chất lượng sản
phẩm là một yếu tố quan trọng để chiến thắng cạnh tranh trong nền kinh tế thị
trường. Do đó, kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cũng đóng vai trò rất
quan trọng trong công tác quản trị của DN.
Với mức tăng trưởng từ 16-18% trong 5 năm trở lại đây, ngành nhựa hiện chỉ
đứng sau viễn thông và dệt may; và là ngành khá hấp dẫn nên ngày càng có nhiều
DN tham gia thị trường đã làm cho tình hình cạnh tranh ngày càng quyết liệt. Hiện
nay, sản phẩm nhựa của Việt Nam đã xuất khẩu gần 160 thị trường trên thế giới, kể
cả những thị trường đòi hỏi chất lượng cao, tiêu chuẩn kỹ thuật tối ưu như Nhật
Bản, Mỹ, Đức, EU. Trong số này, có 3 thị trường là Nhật Bản, EU và Mỹ đang là thị
trường chính của ngành nhựa Việt Nam. Theo đó, xuất khẩu sản phẩm nhựa sang thị
trường EU vẫn chiếm gần 25% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này của Việt
Nam trong năm 2015. Có những mặt hàng nhựa có tốc độ tăng trưởng đạt gần 100%
trong giai đoạn 2010 - 2015. Với mức tăng trưởng như vậy, ngành nhựa được đánh
giá lá một trong những ngành năng động, mũi nhọn của Việt Nam. Đối với công ty
cổ phần Nhựa Châu Âu, hiện nay doanh thu xuất khẩu chiếm hơn 70% tổng doanh
thu. Do đó, sự cạnh tranh gay gắt không chỉ đến từ các DN trong nước mà còn đến
từ những DN nước ngoài. Việc cung cấp thông tin trung thực, hợp lý, chi tiết, đầy
đủ, kịp thời về chi phí sản xuất, chi phí hoạt động, giá thành sản phẩm là một trong
những cơ sở đáng tin cậy giúp nhà quản trị đưa ra những quyết định phù hợp về giá
9
bán, về định hướng phát triển sản phẩm theo nhu cầu thị trường, nâng cao năng lực
cạnh tranh của DN.
10
Luận văn thạc sỹ của tác giả Phạm Anh Công bảo vệ năm 2016 tại trường
Đại học Thương Mại với đề tài “Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xi măng tại Công ty xi măng Vicem Hoàng Thạch”. Tác giả đã chỉ ra rất chi
tiết và chặt chẽ những lý thuyết xung quanh vấn đề tập hợp chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm tại DNSX. Cùng với đó là phân tích, đánh giá thực trạng kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xi măng tại công ty xi măng Vicem
Hoàng Thạch và đưa ra các giải pháp cụ thể dưới góc độ kế toán tài chính như: hoàn
thiện nội dung, phương pháp xác định chi phí sản xuất và phương pháp tính giá
thành theo phương pháp tỷ lệ đối với từng loại xi măng; dưới góc độ kế toán quản
trị như: phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí hay mối quan hệ của chi phí
với mức độ hoạt động và đưa ra các mẫu báo cáo phân tích thông tin kế toán quản
trị chi phí sản xuất.
Luận văn thạc sỹ của tác giả Đỗ Thị Tuyết bảo vệ năm 2016 tại trường Đại
học Thương Mại với đề tài “Kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại
Công ty may xuất khẩu SSV”. Về mặt lý luận, tác giả cũng đã đề cập đến lý luận cơ
bản về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cả dưới góc độ kế toán
tài chính và kế toán quản trị. Về mặt thực tiễn, tác giả khái quát thực trạng kế toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm may mặc tại công ty may xuất khẩu
SSV, phân tích và nêu những vấn đề tồn tại trong cách hạch toán chi phí và phương
pháp tính giá thành sản phẩm may mặc. Từ đó, đưa ra các giải pháp hoàn thiện dưới
góc độ kế toán tài chính như: bổ sung hạch toán trích trước thiệt hại ngừng sản xuất,
trích trước lương nghỉ phép cho công nhân sản xuất, kế toán về định phí SXC, tính
khấu hao TSCĐ theo phương pháp số dư giảm dần đối với hệ thống máy may và kế
toán sản phẩm hỏng; dưới góc độ kế toán quản trị như: bổ sung cách phân loại chi
phí theo cách ứng xử của chi phí, hoàn thiện xây dựng định mức và lập dự toán chi
phí sản xuất, các mẫu báo cáo kế toán quản trị - Phiếu tính giá thành theo công việc,
báo cáo giá thành sản xuất, báo cáo phân tích chi phí.
kế toán quản trị, từ đó đề xuất các phương hướng hoàn thiện dưới cả hai góc độ để
ứng dụng vào các ngành cụ thể theo phạm vi nghiên cứu khác nhau của từng đề tài.
Mặc dù vậy, theo tác giả được biết chưa có một đề tài nào nghiên cứu một cách
chuyên sâu về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm hạt nhựa tại công
ty cổ phần Nhựa Châu Âu. Vì vậy, có thể nói rằng đề tài “Kế toán chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần Nhựa Châu Âu” là một đề tài không
trùng lặp với các đề tài khác.
3. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
12
Mục tiêu cơ bản và xuyên suốt của luận văn là đề xuất các giải pháp hoàn
thiện kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần Nhựa Châu
Âu để có thể cung cấp thông tin chi phí hữu ích, đáp ứng nhu cầu thông tin phục vụ
yêu cầu quản lý và việc ra quyết định của công ty trong bối cảnh hiện nay.
Để đạt được mục tiêu tổng quát nêu trên, tác giả xác định các nhiệm vụ
nghiên cứu cụ thể như sau:
- Hệ thống hóa và làm rõ những lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất và
giá thành sản phẩm trong DN sản xuất công nghiệp.
- Nghiên cứu thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
tại công ty cổ phần Nhựa Châu Âu, đối chiếu với những lý luận chung về kế toán
chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong DN sản xuất công nghiệp để từ đó
đánh giá, nhận xét thực trạng phần hành kế toán này.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện kế toán sản xuất và tính giá thành sản
phẩm tại công ty cổ phần Nhựa Châu Âu, đồng thời đưa ra các điều kiện để thực
hiện các giải pháp đó.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm trong DN sản xuất công nghiệp.
luận án, luận văn, sách, báo, tạp chí, website nhằm tìm hiểu các thông tin liên quan
đến đề tài nghiên cứu cũng như tìm ra khoảng trống cần nghiên cứu.
+ Ngoài ra, luận văn nghiên cứu những tài liệu liên quan đến kế toán chi phí
sản xuất và giá thành sản phẩm tại công ty cổ phần Nhựa Châu Âu như: chứng từ kế
toán, các sổ sách kế toán liên quan và các bảng tính giá thành, báo cáo liên quan
nhằm thu thập các thông tin cần thiết.
- Đối với dữ liệu sơ cấp, luận văn tìm kiếm nguồn dữ liệu dựa trên phương
pháp phỏng vấn trực tiếp để thu thập thông tin về kế toán chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm tại công ty cổ phần Nhựa Châu Âu. Đối tượng phỏng vấn được chia
làm 3 đối tượng với mục đích thu thập thông tin khác nhau:
+ Phỏng vấn Ban lãnh đạo công ty: là những nhà quản lý của công ty để thu
thập thông tin về định hướng phát triển công ty cũng như các yêu cầu đối với thông
tin về kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
+ Phỏng vấn các nhân viên kỹ thuật sản xuất của công ty: là những người
phụ trách về quy trình công nghệ sản xuất, đặc tính của sản phẩm để thu thập thông
tin về quá trình sản xuất sản phẩm thực tế.
+ Phỏng vấn nhân viên kế toán, phụ trách bộ phận kế toán, kế toán tổng hợp
– những người tạo ra thông tin kế toán để thu thập thông tin về thực trạng kế toán
chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại công ty.
Tác giả đã sử dụng giấy bút để ghi chép lại cuộc phỏng vấn làm tư liệu sử
dụng trong việc viết luận văn này.
Phương pháp xử lý dữ liệu:
Với những thông tin thu thập được, để xử lý phục vụ cho quá trình nghiên
cứu, có nhiều phương pháp được sử dụng kết hợp như: phương pháp tổng hợp, phân
tích, thống kê, phương pháp so sánh đối chiếu.
14
Trên cơ sở các tài liệu và những câu trả lời phỏng vấn thu thập được, luận
về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà DN đã chi ra
trong quá trình sản xuất, biểu hiện bằng tiền và tính cho một thời kỳ nhất định.
Ngoài khái niệm chi phí sản xuất nêu trên, còn rất nhiều khái niệm chi phí
sản xuất theo các quan điểm khác nhau.
Trên góc độ kế toán tài chính, chí phí được coi như là một khoản phí tổn thực
tế phát sinh gắn với hoạt động của DN để đạt được một mục đích cụ thể trong kinh
doanh. Chi phí sản xuất hay chi phí chế tạo sản phẩm là toàn bộ các khoản chi phí
liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm phát sinh trong quá trình sản xuất. Nó
được định lượng bằng một sự giảm sút về giá trị tài sản hoặc sự gia tăng một khoản
nợ phải trả, kết quả làm cho vốn chủ sở hữu giảm xuống nhưng không phải do phân
phối vốn cho các chủ sở hữu.
Trên góc độ kế toán quản trị, với mục đích cung cấp thông tin chi phí thích
hợp, hữu ích, kịp thời cho việc ra quyết định của nhà quản lý, chi phí được hiểu
theo nhiều hướng, nhiều cách khác nhau. Theo đó, chi phí có thể là dòng phí tổn
thực tế gắn liền với hoạt động hàng ngày khi tổ chức thực hiện, kiểm tra, ra quyết
định; cũng có thể là dòng phí tổn ước tính để thực hiện những dự án, những phí tổn
mất đi do lựa chọn phương án, hy sinh cơ hội kinh doanh. Như vậy, chi phí có thể
đã thực tế phát sinh, cũng có thể chưa phát sinh mà mới chỉ ước tính.
16
Tuy nhiên, để quản lý chi phí một cách có hiệu quả cần phải nắm vững được
bản chất của chi phí. Chi phí luôn có tính chất cá biệt, bao gồm tất cả các chi phí mà
DN đã bỏ ra để tồn tại và để tiến hành hoạt động của mình, bất kể đó là chi phí cần
thiết hay không cần thiết. Chi phí của DN luôn mang tính hai mặt, một mặt chi phí
có tính khách quan, nó thể hiện sự chuyển dịch các hao phí mà DN đã bỏ ra vào giá
trị sử dụng được tạo ra, đây là sự chuyển dịch mang tính khách quan không lệ thuộc
vào ý muốn chủ quan của con người. Mặt khác, hao phí về các yếu tố trong quá
trình SXKD của DN có thể lại mang tính chủ quan, nó phụ thuộc vào phương pháp
Để phục vụ cho việc tập hợp, quản lý chi phí theo nội dung kinh tế mà không
xét đến công dụng cụ thể, địa điểm phát sinh, chi phí được phân theo yếu tố. Theo
quy định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ chi phí được chia làm 7 yếu tố sau:
- Yếu tố chi phí nguyên liệu, vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị NVL chính,
vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ… sử dụng vào SXKD (loại trừ giá
trị vật liệu dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi);
- Yếu tố chi phí nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình SXKD trong kỳ
(trừ số không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi);
- Yếu tố chi phí tiền lương và các khoản phụ cấp lương: phản ánh tổng số
tiền lương và phụ cấp mang tính chất lương phải trả cho toàn bộ công nhân viên;
- Yếu tố chi phí BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ: phản ánh phần BHXH,
BHYT, BHTN, KPCĐ trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lương và phụ cấp
lương phải trả công nhân viên;
- Yếu tố chi phí khấu hao TSCĐ: phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích
trong kỳ của tất cả TSCĐ sử dụng cho SXKD trong kỳ;
- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua
ngoài dùng vào SXKD trong kỳ;
- Yếu tố chi phí khác bằng tiền: phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa
phản ánh ở các yếu tố trên dùng vào hoạt động SXKD trong kỳ.
b. Phân loại chi phí theo mục đích, công dụng chi phí và quản lý giá thành
Theo cách phân loại này thì những chi phí có công dụng như nhau sẽ được
xếp vào một yếu tố, bao gồm:
- Chi phí NVLTT là biểu hiện bằng tiền những NVL chủ yếu tạo thành thực
thể vật chất của sản phẩm và NVL có tác dụng phụ thuộc, nó kết hợp với NVL
chính để sản xuất ra sản phẩm hoặc làm tăng chất lượng của sản phẩm, hoặc tạo ra
màu sắc, mùi vị cho sản phẩm, hoặc rút ngắn quy trình sản xuất sản phẩm.
18
nó mang lại. Để sản xuất và tiêu thụ một sản phẩm tốn bao nhiêu chi phí, các loại
19
chi phí và tỷ trọng từng loại chi phí, khả năng để giảm các loại chi phí này. Chỉ tiêu
thỏa mãn được những thông tin mang nội dung trên chính là giá thành sản phẩm.
Tuy nhiên, có nhiều khái niệm về giá thành sản phẩm.
Theo giáo trình kế toán tài chính (Học viện tài chính, 2013, trang 289): “Giá
thành sản xuất sản phẩm được xác định bao gồm những chi phí về lao động sống,
lao động vật hóa và các chi phí khác được dùng để sản xuất hoàn thành một khối
lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định”.
Theo sách kế toán chi phí (Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, 2013,
trang 24): “Giá thành là toàn bộ hao phí lao động vật hóa (NVL, nhiên liệu, động
lực, khấu hao TSCĐ và công cụ nhỏ) và lao động sống trong sản xuất, tiêu thụ sản
phẩm, quản lý kinh doanh, được tính bằng tiền cho một sản phẩm, một đơn vị công
việc, hoặc một dịch vụ sau một thời kỳ, thường là đến ngày cuối tháng”.
Theo giáo trình kế toán tài chính trong các doanh nghiệp (Đại học Kinh tế
Quốc dân, 2013, trang 95): “Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ
các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hóa có liên quan đến khối
lượng công tác, sản phẩm, lao vụ đã hoàn thành”.
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu mang tính giới hạn và xác định, vừa
mang tính chất khách quan vừa mang tính chất chủ quan. Trong hệ thống các chỉ
tiêu quản lý của DN, giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết
quả sử dụng các loại tài sản trong quá trình SXKD, cũng như tính đúng đắn của
những giải pháp quản lý mà DN đã thực hiện để nhằm mục đích hạ thấp chi phí,
tăng cao lợi nhuận.
1.1.2.2. Phân loại giá thành sản phẩm
a. Phân loại giá thành theo thời điểm xác định giá thành
Đối với DNSX, giá thành được chia thành 3 loại:
Giá thành sản xuất là toàn bộ chi phí sản xuất có liên quan đến khối lượng
công việc, sản phẩm hoàn thành. Đối với DNSX, giá thành sản xuất gồm 3 khoản
mục chi phí: chi phí NVLTT, chi phí NCTT, chi phí SXC.
Giá thành toàn bộ là toàn bộ chi phí phát sinh liên quan đến một khối lượng
sản phẩm hoàn thành từ khi sản xuất đến khi tiêu thụ xong sản phẩm. Giá thành
toàn bộ còn gọi là giá thành đầy đủ và được tính như sau:
Giá thành toàn bộ
(Giá thành tiêu thụ)
=
Giá thành
sản xuất
+
Chi phí ngoài
sản xuất
1.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Về mặt bản chất, chi phí sản xuất và giá thành sản xuất sản phẩm là biểu hiện
hai mặt của quá trình SXKD. Chúng giống nhau về chất vì đều cùng biểu hiện bằng
tiền những hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà DN đã bỏ ra, nhưng
khác nhau về mặt lượng. Khi nói đến chi phí sản xuất là giới hạn cho chúng một
thời kỳ nhất định, không phân biệt là cho loại sản phẩm nào, đã hoàn thành hay
chưa, còn khi nói đến giá thành sản xuất sản phẩm là xác định một lượng chi phí
sản xuất nhất định, tính cho một đại lượng kết quả hoàn thành nhất định.
Đứng trên góc độ quá trình hoạt động để xem xét thì quá trình sản xuất là
một quá trình hoạt động liên tục còn việc tính giá thành sản phẩm thực hiện tại một
điểm cắt có tính chất chu kỳ để so sánh chi phí với khối lượng sản phẩm, lao vụ,
–
CPSX dở
dang cuối kỳ
Hơn nữa, giá thành sản phẩm mang tính chất chủ quan, việc giới hạn chi phí
tính vào giá thành sản phẩm gồm những chi phí nào còn tùy thuộc vào quan điểm
tính toán xác định chi phí, doanh thu và kết quả, cũng như quy định của chế độ quản
lý kinh tế - tài chính, chế độ kế toán hiện hành. Những quan điểm và quy định đó
đôi khi không hoàn toàn phù hợp với bản chất của chi phí và giá thành sản phẩm,
đòi hỏi các nhà quản trị DN cần phải nhận thức rõ ràng đầy đủ dể sử dụng thông tin
cho thích hợp.
1.2. Đối tượng và phương pháp tập hợp chi phí sản xuất trong DN sản xuất
công nghiệp
1.2.1. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất của DN có thể phát sinh ở nhiều địa điểm khác nhau, liên
quan đến việc sản xuất chế tạo các loại sản phẩm khác nhau, lao vụ khác nhau. Để
phục vụ cho tính giá thành và xác định chi phí phục vụ cho việc ra quyết định cần
phải xác định được đối tượng tập hợp chi phí sản xuất. Thực chất của việc xác định
đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là xác định nơi gây ra chi phí (phân xưởng, bộ
phận sản xuất, giai đoạn công nghệ...) hoặc đối tượng chịu chi phí (sản phẩm, đơn
đặt hàng...).
Khi xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trước hết các nhà quản trị
phải căn cứ vào mục đích sử dụng của chi phí sau đó phải căn cứ vào đặc điểm tổ
chức SXKD, quản lý SXKD, quy trình công nghệ sản xuất, loại hình sản xuất sản
phẩm, khả năng, trình độ và yêu cầu quản lý của DN. Tùy thuộc vào đặc điểm tình
hình cụ thể mà đối tượng kế toán chi phí sản xuất trong các DN có thể là:
- Từng sản phẩm, chi tiết sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng.
- Từng phân xưởng, giai đoạn công nghệ sản xuất.
tiến hành tập hợp chung các chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng theo địa điểm
phát sinh hoặc nội dung chi phí. Để xác định chi phí cho từng đối tượng cụ thể phải
lựa chọn các tiêu chuẩn hợp lý và tiến hành phân bổ các chi phí đó cho từng đối
23
tượng liên quan. Việc phân bổ chi phí cho từng đối tượng thường được tiến hành
theo hai bước sau:
Bước 1: Xác định hệ số phân bổ theo công thức sau:
H =
C
T
Trong đó: H: hệ số PBCP
C: là tổng chi phí cần phân bổ cho các đối tượng
T: tổng đại lượng tiêu chuẩn phân bổ của các đối tượng cần PBCP
Bước 2: Xác định chi phí cần phân bổ cho từng đối tượng tập hợp cụ thể:
Ci = H x Ti
Trong đó: Ci: phần chi phí phân bổ cho đối tượng i
Ti: đại lượng tiêu chuẩn phân bổ dùng để PBCP của đối tượng i.
Đại lượng tiêu chuẩn dùng để phân bổ (còn được gọi là đơn vị công) được
lựa chọn tùy vào từng trường hợp cụ thể. Tính chính xác, độ tin cậy của thông tin về
chi phí phụ thuộc rất nhiều vào tính hợp lý của tiêu chuẩn phân bổ được lựa chọn.
Việc xác định tiêu chuẩn phân bổ chi phí có thể được xác định riêng rẽ theo
từng nội dung chi phí cần phân bổ, khi đó cũng phải xác định hệ số phân bổ theo
từng nội dung chi phí này hoặc cũng có thể xác định chung cho tất cả các chi phí
cần phân bổ. Việc xác định tiêu chuẩn phân bổ tùy thuộc vào đặc thù cụ thể của
từng DN.
sản phẩm đặc biệt chú ý tuân thủ VAS số 02 – “Hàng tồn kho” (Ban hành và công
bố theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ
trưởng Bộ tài chính). Chuẩn mực này ảnh hưởng đến việc xác định chi phí hàng tồn
kho trong chi phí sản xuất có đúng hay không và việc phân bổ chi đó vào trong giá
thành sản phẩm có phù hợp hay không. Để đảm bảo chuẩn mực này được áp dụng
phù hợp, kế toán cần xác định các chỉ tiêu sau:
HTK được xác định theo giá gốc. Chi phí không được tính vào giá gốc hàng
tồn kho, gồm: Chi phí nguyên liệu, vật liệu, chi phí nhân công và các chi phí sản
xuất khác phát sinh trên mức bình thường; Chi phí bảo quản hàng tồn kho trừ các
khoản chi phí bảo quản hàng tồn kho cần thiết cho quá trình sản xuất tiếp theo.
Trường hợp giá trị thuần có thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì phải tính theo
giá trị thuần có thể thực hiện được.
Chi phí SXC cố định phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị sản phẩm
được dựa trên công suất bình thường của máy móc sản xuất. Công suất bình thường
là số lượng sản phẩm đạt được ở mức trung bình trong các điều kiện sản xuất bình
thường. Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra cao hơn công suất bình
25
thường thì chi phí SXC cố định được phân bổ cho mỗi đơn vị sản phẩm theo chi phí
thực tế phát sinh. Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra thấp hơn công suất
bình thường thì chi phí SXC cố định chỉ được phân bổ vào chi phí chế biến cho mỗi
đơn vị sản phẩm theo mức công suất bình thường. Khoản chi phí SXC không phân
bổ được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ.
Chi phí SXC biến đổi được phân bổ hết vào chi phí chế biến cho mỗi đơn vị
sản phẩm theo chi phí thực tế phát sinh.
Ngoài ra, kế toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cần tuân thủ VAS số
03 – “TSCĐ hữu hình”, VAS số 04 – “TSCĐ vô hình” (Ban hành và công bố theo
Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ tài