Độc quyền tại photo Sỹ Giang ===> 0986 388263
NGÂN HÀNG CÂU HỎI
MÔN: KINH TẾ CÁC NƯỚC CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG
Nhóm câu hỏi 1.....................................................................................................3
Câu 1. Trình bày đặc điểm tự nhiên ,kinh tế ,xã hội ku vực CA-TBD, ,liên hệ
đối với hợp tác trong khu vực...............................................................................3
Câu 2: Đặc điểm của quá trình hình thành và phát triển kinh tế Châu Á – Thái
Bình Dương..........................................................................................................5
Câu 3(Nhóm câu hỏi 1):Trình bày các biện pháp chính phủ Nhật Bản đã thực
hiện để khôi phục kinh tế giai đoạn sau chiến tranh thế giưới thứ II?.................5
Câu 4: Trình bày nguyên nhân dẫn đến thành công trong phát triển kinh tế thương mại Nhật Bản giai đoạn 1953-1973..........................................................9
Câu 5: Trình bày bài học kinh nghiêm trong phát triển kinh tế nhật bản. Vận
dụng với việt nam...............................................................................................10
Câu 6: Những thách thức Nhật Bản đang phải đối mặt trong phát triển kinh tếxã hội trong giai đoạn hiện nay...........................................................................14
Câu 7: Bài học kinh nghiệm từ quá trình cải cách kinh tế Trung Quốc..............14
Câu 8: Điều kiện tự nhiên, VHXH của Trung Quốc?.........................................19
Câu 9 : Thế nào là các nước NICs. Cho biết những bài học thành công cho phát
triển kinh tế- thương mại của các nước NICs từ thập niên 60 của thế kỉ 20 đến
nay hiên nay........................................................................................................20
Câu 10: Hoàn cảnh ra đời của Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN), lộ
trình hợp tác, liên kết khu vực Đông Nam Á......................................................21
Câu 11: Trình bày đặc điểm tự nhiên, kinh tế, văn hóa- xã hội của ASEAN?....27
Câu 12. Trình bày tôn chỉ mục đích, nguyên tắc hoạt động của ASEAN. Những
đặc điểm cơ bản của ASEAN.............................................................................28
Câu 13. Trình bày mục tiêu, nguyên tắc, nội dung hợp tác kinh tế - thương mại
trong ASEAN?....................................................................................................31
1
2
Độc quyền tại photo Sỹ Giang ===> 0986 388263
Nhóm câu hỏi 1
Câu 1. Trình bày đặc điểm tự nhiên ,kinh tế ,xã hội ku vực CATBD, ,liên hệ đối với hợp tác trong khu vực.
* Đặc điểm tự nhiên
-Nằm trong khu vực Châu Á
- Hầu hết các nước trừ lào đều tiếp xúc với biển thái bình dương và ấn độ
dương
=>thuận lợi cho phát kiển kinh tế biển và du lịch.
- Vị trí gần biển ,sông ngòi dày đặc
=>tiềm năng khai thác và nuôi trồng thủy sản
- Là môt trong khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên như : dầu mỏ, khí đốt
( vn, indo, bru), thiếc ( malai, indo,thailan), đồng(phil), vàng(indo,phil),..
- Diện tích đất nông nghiệp chiếm trên 30% tổng diện tích đất tự
nhiên,địa hình bbij chia cắt bới dãy núi bắc- nam ,ở giữa là đồng bằng màu mỡ.
- Khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm ,mưa nhiều,2 mùa rõ rệt
=>tiềm năng phát triển nông nghiệp
- các nước ASEAN có tiềm năng lớn về rừng với nhiều loại gỗ quý, dược
liệu và thú hiếm
=>phát triển khu sinh thái và du lịch.
* Đặc điểm xã hội
- Với dân số trên 556,2 triệu người ,chiếm 8% dân số trên thế giới
=>thị trường tiêu thụ và cung cấp sức lao động dồi dào,giá rẻ.
-Dân số trẻ => dễ tiếp thu những tiến bộ kỹ thuật.
- Tốc độ tăng trưởng khá ,dân số đông => thị trường tiêu thụ rộng lớn
- Truyền thống văn hóa lâu đời ,với 3 tín ngưỡng tôn giáo cơ bản : phật,
hồi và thiên chúa giáo
=>đa dạng, phong phú trong tập quán ,cùng với nhiều danh lam thắng
4
Độc quyền tại photo Sỹ Giang ===> 0986 388263
Câu 2: Đặc điểm của quá trình hình thành và phát triển kinh tế
Châu Á – Thái Bình Dương
Gắn liền cùng với xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa các nền kinh tế
Do những điểm khác biệt về trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, mức độ
hội nhập… nên mức độ lên kết lỏng lẻo điều đó dẫn tới không thành lập nên
một thể chế, định chế kinh tế mà chỉ liên kết ở mức thấp nhất là các diễn đàn
Do chỉ là các diễn đàn nên hợp tác về mặt kinh tế chỉ là một phần rất nhỏ
bên cạnh những hợp tác về an ninh, chính trị, quốc phòng và hợp tác để giải
quyết các vấn đề xã hội
Câu 3(Nhóm câu hỏi 1):Trình bày các biện pháp chính phủ Nhật Bản
đã thực hiện để khôi phục kinh tế giai đoạn sau chiến tranh thế giưới thứ II?
– Thứ nhất, phát huy vai trò nhân tố con người.
Trước hết, phải nói rằng chế độ giáo dục ở Nhật Bản khá phát triển và
hoàn thiện. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đã phổ cập giáo dục
hệ 9 năm. người Nhật Bản rất chú trọng đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề,
có đủ khả năng nắm bắt và sử dụng những kỹ thuật, công nghệ mới. Công nhân
được đào tạo không chỉ trong các trường dạy nghề mà có thể đào tạo ngay tại
các xí nghiệp.
Trong thời kỳ hiện đại, những đức tính cần kiệm, kiên trì, lòng trung
thành, tính phục tùng… vẫn được đề cao.
– Thứ hai, duy trì mức tích lũy cao thường xuyên, sử dung vốn đầu tư có
hiệu quả cao
+Tích lũy vốn:
Nhật Bản thời kỳ này được coi là một nước có tỷ lệ tích lũy vốn cao nhất
trong các nước tư bản phát triển. Tỷ lệ tích lũy vốn thường xuyên của thời kỳ
1952-1973 vào khoảng từ 30 đến 35% thu nhập quốc dân, gấp hơn hai lần so
học-kỹ thuật.
Nhật Bản đã chú trọng ứng dụng những thành tựu khoa học-kỹ thuật mới
nhất của Âu-Mỹ bằng cách nhập khẩu công nghệ, kỷ thuật, mua các phát minh
sáng.
– Thứ tư, chú trọng vai trò điều tiết kinh tế của Nhà nước
6
Độc quyền tại photo Sỹ Giang ===> 0986 388263
Ngay sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Chính phủ Nhật Bản
đã thực hiện hàng loạt biện pháp để đẩy mạnh tự do hóa nền kinh tế, kích thích
kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường kết hợp với sự điều tiết của Nhà nước
thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô. Nhà nước đã tạo ra môi trường kinh tế
thuận lợi cho tăng trưởng bằng hệ thống pháp luật và khả năng duy trì trật tự xã
hội bằng pháp luật và sự đầu tư trực tiếp vào kinh tế.
Từ năm 1955 đến 1973, Nhà nước đã thông qua 7 kế hoạch, đa số là kế
hoạch 5 năm, nhưng thời gian thực hiện trung bình là hai năm rưỡi vì các dự
kiến kế hoạch đều thấp hơn mức tăng trưởng thực tế
Nhà nước Nhật Bản còn đóng vai trò hướng dẫn và kiểm tra hoạt động
đầu tư cũng như việc hỗ trợ về tài chính cho hoạt động đó. Nhà nước Nhật Bản
nắm khoảng 1/3 tổng số đầu tư tư bản cố định trong nước. Đầu tư của Nhà nước
thường tập trung vào cơ cấu hạ tầng, xây dựng các ngành công nghiệp mới và
nghiên cứu khoa học. Những ngành này đòi hỏi vốn đầu tư lớn, chu chuyển
chậm, lợi nhuận thấp nhưng hết sức quan trọng tạo tiền đề cho sự phát triển lực
lượng sản xuất xã hội.
– Thứ năm, mở rộng thị trường trong nước và nước ngoài
+ Mở rộng thị trường trong nước
Nhờ cải cách ruộng đất, hình thành chủ trang trại kinh doanh nhỏ đã mở
rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, sử dụng máy móc công nghệ tiên tiến. Do đó,
Cấu trúc kinh tế hai tầng là đặc điểm nổi bật của Nhật Bản thời kỳ sau
Chiến tranh thế giới thứ hai.Đó là sự liên kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa khu vực kinh
tế hiện đại và khu vực truyền thống. Khu vực kinh tế hiện đại bao gồm các công
ty lớn với kỹ thuật công nghệ tiên tiến, lượng vốn đầu tư lớn, sử dụng lao động
suốt đời, tiền lương cao theo thâm niên, điều kiện làm việc tốt. Khu vực truyền
thống chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ, sử dụng kỹ thuật công nghệ lạc hậu, lao
động hợp đồng hoặc theo thời vụ, tiền lương và điều kiện làm việc thấp kém.
– Thứ bảy, đẩy mạnh hợp tác với Mỹ và các nước khác
Tháng 10/1948 Mỹ chuyển giao quyền quản lý kinh tế-xã hội cho Chính
phủ Nhật Bản. Bắt đầu từ đây mối quan hệ kinh tế Mỹ-Nhật đã phục hồi và phát
triển nhanh chóng.Việc thực hiện đường lối kinh tế của Joseph Dodge đã giúp
8
Độc quyền tại photo Sỹ Giang ===> 0986 388263
Nhật Bản ổn định nền tài chính tiền tệ.Sau khi hiệp ước hòa bình San Francisco
được ký kết vào năm 1951, Nhật Bản và Mỹ trở thành bạn hàng của nhau.
Ngoài ra, một số nhân tố khác cũng có tác động mạnh mẽ tới sự phát triển
kinh tế Nhật Bản thời kỳ này như xu thế hội nhập quốc tế, hợp tác và nhất thể
hóa kinh tế tư bản chủ nghĩa, xu thế hòa hoãn và hợp tác của các công ty độc
quyền quốc tế… Năm 1955, Nhật Bản xin gia nhập GATT, tháng 4/1964 trở
thành thành viên của IMF và OECD.Đó là những cơ hội để các công ty Nhật
Bản mở rộng thị trường, tăng cường tranh thủ các nguồn lực bên ngoài cho phát
triển kinh tế.
Câu 4: Trình bày nguyên nhân dẫn đến thành công trong phát triển
kinh tế - thương mại Nhật Bản giai đoạn 1953-1973.
- Nguyên nhân chủ quan:
+ Tiến bộ khoa học phát triển mạnh: đầu những năm 50, Nhật Bản đã
nhập khẩu kỹ thuật từ Mỹ và phương Tây để tận dụng thành công đi trước của
+ Học tập kinh nghiệm nước ngoài: NB tận dụng thành công kinh nghiệm
của Mỹ và Tây Âu, đưa sinh viên các cán bộ nghiên cứu đi du học. khảo sát và
học tập kinh nghiệm ở nước ngoài.
Ngoài ra, các doanh nghiệp đổi mới năng động hơn, thay thế toàn bộ các
giám đốc, coi giám đốc là một nghề.Giám đốc là người trẻ, khỏe, có trình độ
chuyên môn cao, đầy năng lực hang say và cạnh tranh nhau để đạt được mục
tiêu của doanh nghiệp. Thời kỳ này, đầu tư của tư nhân vào doanh nghiệp tăng
nhanh, tạo điều kiện để các doanh nghiệp đổi mới trang thiết bị, nâng cao chất
lượng sản phẩm, phá vỡ thế độc quyền của một số công ty trước đây.
-Nguyên nhân khách quan: Kinh tế Nhật Bản có được tốc đọ tăng trưởng
cao thời kì 53-73 một phần do các yếu tố khách quan tương đối thuận lợi tức là
những tác động từ bên ngoài. Trước hết, nên kinh tế thế giới gian đoạn này phát
triển khá, tốc độ tăng trưởng cao hơn những năm trước chiến tranh (5% mỗi
năm). Nền kinh tế tăng trưởng cao, tiêu dùng khá, kích thích buôn bán thế giới
tăng. Từ năm 1955 đến năm 1970, kim nghạch xuất nhập khẩu trên thế giới tăng
bình quân 7,6% mỗi năm. Với sự ra đời của Quỹ tiền tệ quốc tế-IMF và ngân
hàng thế giới WB từ sau chiến tranh thế giới thứ 2, năm 1952 Nhật Bản đã gia
nhập vào 2 tổ chức trên cùng với việc trở thành thành viên của Hiệp định chung
về thuế quan và mậu dịch-GATT năm 1955 mà NHật Bản tranh thủ được giúp
đỡ về tài chính của các tổ chức này. Bên cạnh đó, thời kỳ những năm 60,70 các
nguyên liệu là sẵn có, rẻ tiền và ổn định hơn bây giờ từ các nước kém phát triển
trong khu vực mà NHật Bản thì rất thiếu phải nhập nhiều
Câu 5: Trình bày bài học kinh nghiêm trong phát triển kinh tế nhật
bản. Vận dụng với việt nam
Từ một “đống tro tàn” sau Chiến tranh Thế giới lần thứ II, Nhật Bản đã
vươn lên xây dựng nền kinh tế hiện đại và đã đạt được những kì tích chấn động
10
Độc quyền tại photo Sỹ Giang ===> 0986 388263
Độc quyền tại photo Sỹ Giang ===> 0986 388263
cấu ngành theo hướng tăng năng lực cạnh tranh quốc tế, hướng lựa chọn và phát
triển các ngành công nghiệp có hàm lượng vốn và khoa học – công nghệ cao,
không gây ô nhiễm môi trường tiêu hao ít nguyên liệu và lao động sống như
công nghệ điện tử, viễn thông, tin học, sinh học, vật liệu mới, …; Nhật Bản
cũng coi trọng và chú ý phát triển nông nghiệp, tạo điều kiện, hỗ trợ phát triển
nông nghiệp, nông thôn, để ngành nông nghiệp đảm bảo nhu cầu trong nước,
đảm bảo lương thực cho 127,4 triệu dân, đảm bảo sự ổn định để phát triển.
+ Nhật Bản đã kết hợp vai trò nhà nước và sự năng động của thị trường
trong việc thúc đẩy phát triển nền kinh tế và chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế.
Chính phủ Nhật Bản đã tăng cường can thiệp vào nền kinh tế với nhiều công cụ
khá đa dạng thông qua các chính sách, kế hoạch định hướng phát triển khuyến
khích các công ty tư nhân, các thương xá tổng hợp hoạt động kinh doanh xuất
khẩu; khuyến khích và ủng hộ mọi mặt cho sự phát triển của các tập đoàn tài
phiệt – Zaibatsu, còn các Zaibatsu cũng phát triển năng động hơn, mở cửa thị
trường bên ngoài và đã dần phát triển thành công ty xuyên quốc gia hiện đại.
Qua phân tích những thành tựu và kinh nghiệm phát triển kinh tế của một
số nước, có thể vận dụng vào Việt Nam
Một là, kiên trì mô hình kinh tế thị trường mở và hội nhập kinh tế khu
vực và quốc tế dựa vào tăng trưởng xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp chế
biến, công nghiệp chế tạo trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh “tĩnh” và “động”
của đất nước. Thực hiện đa dạng hóa thị trường xuất khẩu để tăng kim ngạch
xuất khẩu, đồng thời tránh lệ thuộc quá mức vào một số thị trường nước ngoài.
Hai là, điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế theo hướng “rút ngắn”, chuyển từ
cơ cấu phát triển các ngành có hàm lượng lao động cao sang các ngành có hàm
lượng vốn, công nghệ cao, có khả năng tiếp ứng với tiến trình hội nhập kinh tế
khu vực và quốc tế, đứng vững được trong cạnh tranh cả trên thị trường trong
nước và nước ngoài. Chọn lựa những ngành có thế mạnh để mở cửa cạnh tranh,
mâu thuẫn gay gắt.Vấn đề là phải giải quyết được mâu thuẫn đó một cách hợp
lý và có lợi nhất.
13
Độc quyền tại photo Sỹ Giang ===> 0986 388263
Câu 6: Những thách thức Nhật Bản đang phải đối mặt trong phát
triển kinh tế-xã hội trong giai đoạn hiện nay
- Nền kinh tế tiếp tục bị suy thoái
+ nền kinh tế NB đang mấp mé bên bờ vực thẳm
+ kinh tế NB sụp đổ, khủng hoảng kinh tế sẽ lan ra khắp thế giới
- Hoạt động yếu kém của các ngành tài chính-ngân hàng
+ nhu cầu tiêu dùng trong nước giảm sút cùng với sự yếu kém của hệ
thống tài chính ngân hàng kéo dài nhiều năm chưa khắc phục đươc
+ tình trạng suy giảm kinh tế toàn cầu đặc biệt là kinh tế mỹ cùng làm go
kinh tế NB rơi nhanh vào tình trạng suy thoái
+ bên cạnh đó là sự sụt giá bất động sản
- Bị ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực
Theo các nhà kinh tế Nhật Bản đối phó với cuộc khủng hoảng này, chính
phủ Nhật đã thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:
+ Nới lỏng tài chính công cộng
+ Thay đổi chính sách thuế
+ Từ bỏ điều tiết kinh tế trực tiếp
+ Cải tổ cơ cấu nông nghiệp và thị trường lao động: điều chỉnh thị trường
lao động, tăng số công nhân nước ngoài
Câu 7: Bài học kinh nghiệm từ quá trình cải cách kinh tế Trung
Quốc
Là quốc gia láng giềng có những điểm tương đồng với Trung Quốc, vì
vậy - những kinh nghiệm (cả thành công và chưa thành công) trong cải cách mở
đi vào chiều sâu, nếu quá nhấn mạnh tính đặc thù, thì những lý luận đó cũng sẽ
vấp phải những lực cản, thậm chí không thể chỉ đạo giải đáp được mọi vấn đề
mà thực tiễn mới đặt ra. Vì vậy, sau khi gia nhập và trở thành thành viên chính
thức của WTO, ĐCS Trung Quốc đã ngày càng nhận thức rõ ràng hơn về tính
quy luật trong phát triển, bao gồm quy luật hiện đại hóa của xã hội loài người,
thậm chí cả quy luật cầm quyền của các chính đảng (vô sản và tư sản) trên thế
giới. Hội nghị Trung ương 3 khóa 18 khi đặt vấn đề phát huy vai trò quyết định
của thị trường trong phân bổ nguồn lực, cũng được xuất phát từ quan điểm cho
rằng: Thị trường quyết định phân bổ nguồn lực là quy luật chung của kinh tế thị
trường, Trung Quốc muốn kiên trì thể chế kinh tế thị trường XHCN cũng phải
tuân theo quy luật này
15
Độc quyền tại photo Sỹ Giang ===> 0986 388263
Ba là, Đảng Cộng sản với tư cách đảng cầm quyền, lãnh đạo cải cách mở
cửa nhất định phải có dũng khí chính trị và kết tinh trí tuệ. Như đã nêu ở trên,
cải cách mở cửa là một sự nghiệp hoàn toàn mới, được ví như một cuộc cách
mạng. Vì vậy, là người lãnh đạo sự nghiệp “cách mạng mới” này, Đảng Cộng
sản cũng phải tự đổi mới mình, nâng cao năng lực cầm quyền, trong đó có nâng
cao năng lực điều hành nền kinh tế thị trường và xây dựng nhà nước pháp
quyền. Thực tiễn Trung Quốc cho thấy, quá trình cầm quyền lâu dài (65 năm)
cũng là quá trình hệ thống chính trị của Đảng ngày càng bị hành chính hóa,
quan liêu hóa và xa dân. Trong Đảng cũng hình thành các tập đoàn lợi ích, thậm
chí cả tập đoàn gia tộc. Do sự tác động và chi phối của những tập đoàn này,
nhiều chủ trương chính sách của Đảng bị méo mó, dẫn đến tình trạng: Lợi ích
quốc gia bị bộ ngành hóa, lợi ích bộ ngành bị tập đoàn hóa, lợi ích tập đoàn bị
cá nhân hóa. Chính vì lẽ đó, văn kiện của ĐCS Trung Quốc đã gọi giai đoạn cải
cách hiện nay là “giai đoạn công kiên”, với hàm ý rằng: Các tập đoàn lợi ích
trong Đảng và xã hội đã hình thành và thâm căn cố đế. Các biện pháp cải cách
tế, chính trị, văn hóa, xã hội và văn minh sinh thái
Hai là, trong hàng loạt các biện pháp cải cách khác nhau, cần lựa chọn
đúng trọng điểm và hạt nhân của cải cách. Như đã nêu ở trên, cải cách là một
cuộc cách mạng. Các biện pháp cải cách được đưa ra thường rất nhiều, bao quát
nhiều lĩnh vực khác nhau. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản với tư cách như người
thiết kế công trình hệ thống, cần xác định từ đó lựa chọn đúng đắn lĩnh vực
trọng điểm và hạt nhân cải cách. Thực tiễn Trung Quốc cho thấy, giai đoạn đầu
cải cách, ĐCS Trung Quốc xác định lấy cải cách nông thôn làm trọng điểm và
hạt nhân là thực hiện khoán sản lượng đến hộ gia đình. Còn hiện nay khi cải
cách mở cửa đã bước vào một giai đoạn hoàn toàn mới, mặc dù gặp nhiều khó
khăn và thách thức cả bên trong lẫn bên ngoài, nhưng ĐCS Trung Quốc trong
hội nghị Trung ương 3 khóa 18 vẫn xác định “cải cách thể chế kinh tế là trọng
điểm” và vấn đề hạt nhân là xử lý tốt mối quan hệ giữa chính phủ và thị trường.
Khi đã xác định được “trọng điểm” và vấn đề “hạt nhân” thì các nguồn lực - bao
gồm nguồn lực cứng và nguồn lực mềm sẽ được tập trung vào đó để thực hiện.
Như vậy, Đảng vẫn nắm được quyền chủ động và kiểm soát toàn bộ tiến trình
cải cách mở cửa, trong đó có việc việc thiết kế từ trên đỉnh và thành lập Ban chỉ
đạo đi sâu cải cách toàn diện như đã nêu trên
Ba là, để sự nghiệp cải cách mở cửa thành công, Đảng phải coi trọng đào
tạo bồi dưỡng đội ngũ cốt cán cầm quyền có trình độ cao. Sự nghiệp cải cách
17
Độc quyền tại photo Sỹ Giang ===> 0986 388263
mở cửa ở Trung Quốc và đổi mới ở Việt Nam đều do Đảng Cộng sản của hai
nước khởi xướng và lãnh đạo. Xây dựng thể chế kinh tế thị trường XHCN
(Trung Quốc) và kinh tế thị trường định hướng XHCN (Việt Nam) đều là những
sự việc hoàn toàn mới. Đảng muốn lãnh đạo cải cách hay đổi mới thành công,
khâu then chốt là đội ngũ cốt cán cầm quyền. Thực tiễn Trung Quốc cho thấy,
mặc dù ngay từ năm 1993 Hội nghị Trung ương 3 Đại hội 14 của ĐCS Trung
Quốc (1921-2011), Tổng Bí thư ĐCS Trung Quốc lúc đó là Hồ Cẩm Đào đã rút
ra nhận xét cho rằng: Mấu chốt giải quyết mọi vấn đề của cải cách mở cửa ở
Trung Quốc là Đảng. Còn trong bài Thuyết minh tại Hội nghị Trung ương 3
khóa 18 gần đây, Tổng Bí thư Tập Cận Bình lại nhấn mạnh: Đột phá vào những
trở ngại về quan niệm tư tưởng, đột phá vào những rào cản của các lợi ích đã
kiên cố hóa, giải phóng tư tưởng là điều quan trọng đầu tiên. Trong vấn đề đi
sâu cải cách, những trở ngại về quan niệm tư tưởng thường không phải đến từ
bên ngoài thể chế mà là đến từ bên trong thể chế. Văn kiện hội nghị này, nêu lên
2 mục tiêu, trong đó có mục tiêu “thúc đẩy hiện đại hóa hệ thống quản trị và
năng lực quản trị quốc gia”. Công cuộc Đổi mới ở Việt Nam do ĐCS Việt Nam
khởi xướng và lãnh đạo đến nay cũng đã được 28 năm. Nhân dịp năm mới, Thủ
tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng trong bài viết của mình đã chuyển đi một
Thông điệp về hoàn thiện thể chế, trong đó ông nhắc đến “một thế chế chất
lượng cao và một nền quản trị quốc gia hiện đại”, đồng thời nhấn mạnh nguồn
động lực để lấy lại đà tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững, “phải đến từ
Đổi mới thể chế và phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của Nhân dân”.
Vì vậy, những kinh nghiệm rút ra từ cải cách thể chế của Trung Quốc
trong 35 năm cải cách mở cửa, có giá trị tham khảo nhất định cho Việt Nam.
Việc trao đổi kinh nghiệm giữa hai Đảng, hai nước trong quản lý đất nước và
xây dựng Đảng, trong đó có cải cách và đổi mới thể chế là rất cần thiết và quan
trọng, góp phần làm phong phú nội dung của mối quan hệ đối tác hợp tác chiến
lược toàn diện mà lãnh đạo cấp cao hai nước đã thỏa thuận.
Câu 8: Điều kiện tự nhiên, VHXH của Trung Quốc?
Trả lời:
-Vị trí: Đông Á, giáp Biển Đông Trung Quốc, Vịnh Hàn Quốc, Biển
Hoàng Hải và Biển Đông, giữa Bắc Triều Tiên và Việt Nam.
19
Độc quyền tại photo Sỹ Giang ===> 0986 388263
-chiến lược phát triển các ngành công nghiệp nhẹ trước, phát triển công
nghiệp nặng sau xuất khẩu công nhiệp nhẹ
-Xuất khẩu mạnh từ hang hóa nước ngoài : từ sản phẩm như dày, dép,
quần áo… đến các nước có màm lượng khoa học kĩ thuật cao như điện tử, máy
20
Độc quyền tại photo Sỹ Giang ===> 0986 388263
ảnh, máy tính, …và hiện nay xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp nặng nổi
tiếng như ô tô, tàu biển, giàn khoan trên biển.
+ Có tỉ lệ đầu tư cao(30-40%) chính phủ khuyến khích nhân dân gửi
tiết kiệm( ở singapo tiền giửi tiết kiệm bằng 50% tổng mức đầu tư trong nước, ở
hông công và đài loan thì số dư tiết kiệm luôn vượt quá mức đầu tư trong nước.
+ Phát triển mạnh các hoạt động dịch vụ.
-Tốc độ tăng trưởng của lĩnh vực này đạt khoảng trên 10% /năm, tức là
cao hơn mức tăng trưởng kinh tế .
-Dịch vụ tập trung vào 3 lĩnh vực chính là: tài chính, ngân hang, bảo
hiểm;vận tải biển và du lịch.
+ Các nước NICs Đông Á rất quan tâm tới việc nâng cao chất lượng lao
động, đào tạo cán bộ chuyên môn và công nhân làm nghề.
+ Lựa chọn quy mô doanh nghiệp phù hợp.
-Loại danh nghiệp vừa và nhỏ rất phổ biến ở các nước NICs và chiếm tỉ
trọng rất cao trong số các doanh nghiệp nước này.
Câu 10: Hoàn cảnh ra đời của Hiệp hội các nước Đông Nam Á
(ASEAN), lộ trình hợp tác, liên kết khu vực Đông Nam Á.
+Sau khi giành được độc lập, nhiều nước Đông Nam Á bước vào thời kì
phát triển kinh tế và văn hóa, đòi hỏi phải tăng cường hợp tác giữa các nước.
+Các nước Đông Nam Á muốn hạn chế ảnh hưởng và sự can thiệp của
các nước lớn ngoài khu vực, nhất là khi cuộc chiến tranh xâm lược của Mĩ ở
nguyên tắc luật pháp trong quan hệ giữa các nước trong vùng và tuân thủ các
nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp quốc.
+ Thúc đẩy sự cộng tác tích cực và giúp đỡ lẫn nhau trong các vấn đề
cùng quan tâm trên lĩnh vực kinh tế , xã hội, văn hóa và hành chính.
+ Giúp đỡ lẫn nhau dưới hình thức đào tạo và cung cấp các phương tiện
nghiên cứu trong các lĩnh vực giáo dục, chuyên môn.kỹ thuật và hành chính.
+ Cộng tác có hiệu quả hơn, để sử dụng tốt hơn nền nông nghiệp và các
nhành CN của nhau, mở rộng mậu dịch kể cả việc nghiên cứu các vấn đề buôn
bán hàng hóa giữa các nước, cải thiện các phương tiện giao thông liên lạc và
nâng cao mức sống của nhân dân.
+ Thúc đẩy việc nghiên cứu Đông Nam Á.
+ Duy trì sự hợp tác chặt chẽ cùng có lợi với các tổ chức quốc tế và khu
vực có tôn chỉ và mục đích tương tự, tìm kiếm cách thức nhằm đạt được sự hợp
tác chặt chẽ hơn giữa các tổ chức này.
Nguyên tắc hoạt động:
+ Tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.
+ Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
22
Độc quyền tại photo Sỹ Giang ===> 0986 388263
+ Không sử dụng và đe doa bằng vũ lực với nhau.
+ Giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình.
+ Hợp tác phát triển có hiệu quả trong k.tế, vhóa, xh.
- Lộ trình hợp tác liên kết khu vục Đông Nam Á
Tiền thân của ASEAN là tổ chức có tên Hiệp hội Đông Nam Á, thường
được gọi tắt là ASA. ASA là một liên minh thành lập năm 1961 gồm ba nước
Philippines, Malaysia và Thái Lan. Ngày 8 tháng 8 năm 1967, khi các bộ trưởng
ngoại giao của năm quốc gia – Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, và
Thái Lan – gặp gỡ tại Bộ ngoại giao Thái Lan ở Bangkok đã ra Tuyên bố
đã ổn định chính phủ.
Trong thập niên 1990, khối có sự gia tăng cả về số thành viên cũng như
khuynh hướng tiếp tục hội nhập. Năm 1990, Malaysia đề nghị thành lập một
Diễn đàn Kinh tế Đông Á gồm các thành viên hiện tại của ASEAN và Cộng hoà
Nhân dân Trung Hoa, Nhật Bản và Hàn Quốc, với mục tiêu cân bằng sự gia tăng
ảnh hưởng của Hoa Kỳ tại Tổ chức Hợp tác Kinh tế châu Á Thái Bình Dương
(APEC) cũng như tại vùng châu Á như một tổng thể. Tuy nhiên, đề xuất này đã
thất bại bởi nó gặp sự phản đối mạnh mẽ từ Nhật Bản và Hoa Kỳ. Dù vậy, các
quốc gia thành viên tiếp tục làm việc để hội nhập sâu hơn. Năm 1992, kế hoạch
Biểu thuế Ưu đãi Chung (CEPT) được ký kết như một thời gian biểu cho việc
từng bước huỷ bỏ các khoản thuế và như một mục tiêu tăng cường lợi thế cạnh
tranh của vùng như một cơ sở sản xuất hướng tới thị trường thế giới. Điều luật
này sẽ hoạt động như một khuôn khổ cho Khu vực Tự do Thương mại ASEAN.
Sau cuộc Khủng hoảng Tài chính Đông Á năm 1997, một sự khôi phục lại đề
nghị của Malaysia được đưa ra tại Chiang Mai, được gọi là Sáng kiến Chiang
Mai, kêu gọi sự hội nhập tốt hơn nữa giữa các nền kinh tế của ASEAN cũng
như các quốc gia ASEAN Cộng Ba (Trung Quốc, Nhật Bản, và Hàn Quốc).
Bên cạnh việc cải thiện nền kinh tế của mỗi quốc gia thành viên, khối
cũng tập trung trên hoà bình và sự ổn định của khu vực. Ngày 15 tháng 12 năm
1995, Hiệp ước Đông Nam Á Không Vũ khí Hạt nhân đã được ký kết với mục
tiêu biến Đông Nam Á trở thành Vùng Không Vũ khí Hạt nhân. Hiệp ước có
hiệu lực ngày 28 tháng 3 năm 1997 nhưng mới chỉ có một quốc gia thành viên
phê chuẩn nó. Nó hoàn toàn có hiệu lực ngày 21 tháng 6 năm 2001, sau khi
Philippines phê chuẩn, cấm hoàn toàn mọi loại vũ khí hạt nhân trong vùng.
Sau khi thế kỷ 21 bắt đầu, các vấn đề chuyển sang khuynh hướng môi
trường hơn. Tổ chức này bắt đầu đàm phán các thoả thuận về môi trường.
24
Độc quyền tại photo Sỹ Giang ===> 0986 388263
25