Đề cương ôn thi môn kinh tế bảo hiểm - Pdf 21

Câu 1: Hãy phân tích mối quan hệ giữa bảo hiểm với tốc độ phát triển, tăng trưởng kinh tế và ngược lại?
- Khi nền kinh tế - xã hội phát triển, thúc đẩy điều kiện cơ sở hạ tầng phát triển và hoàn thiện hơn, tạo điều
kiện cho việc kinh doanh bảo hiểm cũng thuận lợi. Đồng thời, khi đó nhận thức của người dân về bảo
hiểm cũng như về nhu cầu bảo hiểm trong cuộc sống tăng lên, người dân có ý thức tự giác, tự nguyện
trong tham gia bảo hiểm, khiến số lượng người tham gia bảo hiểm tăng, thúc đẩy sự phát triển của bảo
hiểm.
- Bảo hiểm góp phần ổn định tài chính và đảm bảo cho các khoản đầu tư. Bởi, khi rủi ro hay sự kiện bảo
hiểm xảy ra với đối tượng bảo hiểm, nếu bị tổn thất, các cơ quan hay doanh nghiệp bảo hiểm sẽ trợ cấp
hoặc bồi thường kịp thời cho người tham gia nhanh chóng khắc phục hậu quả, ổn định cuộc sống, làm
cho sản xuất kinh doanh phát triển bình thường. Không có sự bảo đảm của bảo hiểm thì không 1 nhà đầu
tư nào, đặc biệt là các ngân hàng liên quan sẽ không dám mạo hiểm đầu tư vốn cho dự án, bởi không 1 ai
dám chắc rằng sẽ không có bất kỳ 1 sự cố hay rủi ro nào xảy ra trong quá trình hoạt động của dự án. Vì
vậy, Bảo hiểm là 1 hoạt động kích thích đầu tư.
- Bảo hiểm là 1 trong những kênh huy động vốn hữu hiệu để phát triển kinh tế - xã hội. Các cơ quan bảo
hiểm hay doanh nghiệp bảo hiểm thu phí bảo hiểm trước khi rủi ro hay các sự kiện bảo hiểm xảy ra với
đối tượng bảo hiểm. Điều đó cho thấy, sẽ hình thành 1 khoản tiền lớn và cần có sự quản lý chặt chẽ để
đảm bảo quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm. Khoảng thời gian từ thời điểm tham gia bảo hiểm cho
đến thời điểm rủi ro hay các sự kiện bảo hiểm xảy ra, có trách nhiệm bồi thường, chi trả của cơ quan bảo
hiểm và các doanh nghiệp bảo hiểm thường có sự chênh lệch, xuất hiện 1 số tiền nhàn rỗi nhất định, có
thể đem đầu tư để thu lãi vào các dự án kinh tế - xã hội.
- Bảo hiểm góp phần ổn định và tăng thu cho ngân sách, đồng thời thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế đối
ngoại giữa các nước. Khi người dân tham gia bảo hiểm, nếu họ gặp phải các rủi ro hay các sự kiện bảo
hiểm xảy ra thì đã có cơ quan bảo hiểm cũng như các doanh nghiệp bảo hiểm chịu trách nhiệm chi trả,
bồi thường cho các thiệt hại mà người tham gia bảo hiểm phải chịu. Khi đó, ngân sách Nhà nước sẽ
không phải chi trợ cấp cho những người này khi họ gặp phải các rủi ro (trừ các tổn thất mang tính xã hội
rộng, như lũ lụt). Ngoài ra, việc hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm thương mại có
trách nhiệm đóng góp các loại thuế mà doanh nghiệp phải nộp, làm tăng ngân sách Nhà nước. Đồng thời,
mối quan hệ quốc tế giữa các doanh nghiệp bảo hiểm ngày càng được mở rộng thông qua hoạt động tái
bảo hiểm hoặc đồng bảo hiểm, phát triển mối quan hệ quốc tế giữa các quốc gia.
- Bảo hiểm góp phần ngăn ngừa, đề phòng và hạn chế tổn thất, giúp cho cuộc sống an toàn hơn, xã hội trật
tự hơn. Bởi trong quá trình tham gia bảo hiểm, các cơ quan bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm cùng với

3. quỹ bảo hiểm
4. Phí bảo hiểm
5. số tiền chi trả
6. thời hạn bảo hiểm và
hình thức bảo hiểm
- là người lao động làm việc
trong các doanh nghiệp có hợp
đồng lao động từ 3 tháng trở
lên hoặc hợp đồng lao động vô
thời hạn
- là thu nhập của người lao
động, chỉ khi thu nhập của
người lao động bị giảm hoặc bị
mất mà nguyên nhân do bị
giảm hoặc mất khả năng lao
động thì người lao đống sẽ
nhận được khoản chi trả từ quỹ
bảo hiểm xã hội
- là quỹ tiền tệ tập trung ngoài
ngân sách nhà nước, được hình
thành do sự đóng góp của
người lao động, người sử dụng
lao động và có sự bảo trợ của
nhà nước nếu thâm hụt.
- mục đích sử dụng quỹ chủ
yếu là:
+ chi trả trợ cấp khi sự kiện bảo
hiểm xảy ra
+ chi cho sự nghiệp quản lý
BHXH

Quỹ được quản lý theo cơ
chế hạch toán thu chi có lãi
- được xác định bằng một số
tuyệt đối , xác định dựa vào
nhu cầu và khả năng tài chính
của từng người tham gia.
- thường nộp định kì hàng quý,
sáu tháng hoặc hàng năm….
- cao hơn do người tham gia có
quyền lựa chọn mức đóng cao
hơn
- chủ yếu là tự nguyện
Có thể ngắn hoặc dài tùy loại
hình bảo hiểm ngắn hạn hay dài
hạn
So sánh BHTM vs BHXH.
BHXH BHTM
Đăc điểm -Hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận.
-nguồn tài chính có sự hỗ trợ của Nhà nước
-mang tính xã hội hóa nhiều, tuy có đầu tư
nhưng thực hiện theo nguyên tắc an toàn,
hiệu quả.
- vì mục tiêu lợi nhuận
- không có sự hỗ trợ của Nhà
nước.
-quản lý theo cơ chế thị trường để
sinh lợi nhuận
Đối tượng
được bảo
hiểm

Phạm vi bảo
vệ
NLĐ và gia đình họ (NLĐ đã đóng BHXH,
gặp rủi ro hoặc sự kiện BH), bao gồm tự
nguyện và bắt buộc
Người được bảo hiểm với phạm
vi được bảo vệ. (hẹp hơn).
Quỹ hay
nguồn tài
chính
Đóng góp của người tham gia (NLĐ và
NSDLĐ), hỗ trợ từ Nhà nước, nguồn thu
khác như: đầu tư sinh lợi, viện trợ, tài trợ…
-nguyên tắc quản lý quỹ: “cân bằng
thu-chi”.
-Từ người tham gia BH, không có
sự bảo trợ của Nhà nước.
-Nguyên tắc quản lý quỹ: hạch
toán kinh doanh thu lãi
Vai trò của hai loại hình BH này ở Việt Nam:
Đối với nền kinh tế:
Hai loại hình BH này đã thực sự góp phần giúp cho người lao động, người dân VNvà NSNN ổn định được
tài chính. Đối với NLĐ có thể đảm bảo được thu nhập của mình cũng như đảm bảo được các khoản chi phí
mặc định trong tương lai. Đối vs đất nước có thể đảm bảo được cho các dự án đầu tư lớn. VÌ: BH là hoạt
động kích thích đầu tư, là một trong những kênh huy động vốn rất hiệu quả và thường có những quĩ BH nhàn
rỗi rất lớn có thể góp phần đầu tư phát triển kinh tế- xã hội.
BH còn góp phần tăng thu cho NSNN, thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại giữa các nước vì:
BHXH thì góp phần giảm nhẹ gánh nặng đề lên NSNN.
Các DNBH thì sẽ trợ cấp và hoặc bồi thường cho người TGBH khi họ gặp rủi ro hay SKBH nên NN không
phải chi NS+ thuế thu từ các DN BH lại làm tăng thêm NSNN. Các DN BH còn hợp tác vs quốc tế, các DN

gia BH.
• Mua mới :
Gb=Gbđ
• đã qua sd :
Gb=Gbđ-KH
Ko xác định Ko xác định
4.Số tiền BH Cách xđ Sb căn cứ trên
Gb :
Sb<Gb : BH dưới giá
trị
Sb=Gb : BH ngang giá
trị
Sb>Gb : BH trên giá trị
Cách xác định Sb :
Căn cứ theo quy định của
pháp luật
Căn cứ theo thảo thuận
của 2 bên
Cách xđ Sb :
Như BH TNDs
5.nguyên tắc
bồi thường
Áp dụng nguyên tắc
bồi thường thiệt hại :
khi có rủi ro xảy ra
thuộc phạm vi Bh,
DNBH chi trả bồi
thường theo hợp đồng
đã kí kết với Sbt<= giá
trị thiệt hại.

trả từ DNBH và người thứ
3.
7.BH trùng Không áp dụng nhưng
trên thực tế vẫn có thể
xảy ra do
Vô ý của KH
Cố ý để trục lợi
Có áp dụng : 1 người đc
BH có thể đc BH tại 2 hay
nhiều HĐBH với 1 hay
nhiều DNBH.
Sbt của mỗi HĐ=giá trị
thiệt hại thực tế*Sbcủa
mỗi HĐ / tổng Sb của
tất cả HĐ
Câu 4: Các cá nhân trong xã hội có thể tham gia những nghiệp vụ bảo hiểm thương mại nào?
1. Bảo hiểm nhân thọ :
Năm 1996 đánh dấu sự ra đời của ngành bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam bằng việc Bộ Tài chính cho phép
Bảo Việt triển khai thí điểm bảo hiểm nhân thọ. Đáp lại yêu cầu của quá trình mở cửa và hội nhập cũng như
yêu cầu phát triển của bản thân ngành bảo hiểm nhân thọ. Sau thời gian thí điểm, Bộ Tài chính đã lần lượt
cấp giấy phép hoạt động cho các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài (trong năm 1999 cấp giấy phép
cho 3 doanh nghiệp là Prudential, Manulife, Bảo Minh - CMG - nay là Daiichi Life), sau đó là AIA (năm
2000), Prevoir, ACE Life, Great Eastern Life và Cathay Life. Đến nay khối DN bảo hiểm nhân thọ đã có 11
DN, tuy nhiên chỉ có 1 DN Việt Nam là Bảo Việt và 1 DN liên doanh Vietcombank - Cardiff đi vào hoạt
động trong năm 2009 nên chưa có thị phần. Thị trường bảo hiểm nhân thọ vẫn là mảnh đất màu mỡ cho các
DN bảo hiểm nước ngoài. Khi Liên doanh Bảo Minh - CMG được bán lại toàn bộ cho hãng bảo hiểm nhân
thọ lớn của Nhật Bản là Dai-ichi Life vào năm 2007, thì thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam chỉ còn lại
Bảo Việt Nhân thọ là DN bảo hiểm nhân thọ trong nước với 32% thị phần (số liệu của Hiệp hội Bảo hiểm
Việt Nam quý III/2009). Hơn 2/3 thị trường bảo hiểm nhân thọ đang trong vòng "kiểm soát" của 9 DN bảo
hiểm nước ngoài.

kiện được bảo hiểm xảy ra, doanh nghiệp BH sẽ thực hiện chi trả một khoản tiền dựa vào số tiền bảo hiểm đã
được thỏa thuận lựa chọn khi ký kết hợp đồng bảo hiểm chứ không dựa vào thiệt hại thực tế. Việc chi trả
trong BHCN chỉ mang tính trợ giúp về tài chính cho người được bảo hiểm và thân nhân hoặc hoàn lại khoản
tiền tích lũy được của người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện được bảo hiểm. Điều này là vì tính mạng và
tình trạng sức khỏe của con người là vô giá nên không thể xác định bằng một khoản tiền nào đấy.
Ví dụ: Anh A tham gia hợp đồng bảo hiểm tử kỳ với thời hạn 5 năm, với số tiền bảo hiểm theo thỏa thuận
khi ký hợp đồng là 100 triệu đồng. Trong thời gian 5 năm đó, sau khi anh ta đã nộp phí BH mà không
may anh ta gặp phải tai nạn và chết thì DNBH có tránh nhiệm thanh toán số tiền bảo hiểm 100 triệu đồng
cho người thụ hưởng quyền lợi BH được chỉ định.
Điều kiện KT-XH ra đời và phát triển của BHNT:
- Ở các nc kinh tế pt , BHNT đã ra đời và pt hàng trăm năm nay. Ngược lại một số quốc gia trên thế giới vẫn
chưa triển khai BHNT. Hầu hết các nhà kinh tế cho rằng, cơ sở chủ yếu để BHNT ra đời và pt là đk kinh tế
xã hội pt.
+ Đk kinh tế như: tốc độ tăng GDP, tốc độ sp thu nhập quốc nội tính bình quân 1 ng dân, mức thu nhập
dân cư; tỷ lệ lạm phát tỷ giá hối đoái
+ Đk xã hội: đk về dân số, Tuổi thọ bq ng dân, Trình độ học vấn, Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh.
Ngoài ra môi trường pháp lý cũng là yếu tố ảnh hưởng ko nhỏ đến sự ra đời và pt của BHNT.
Câu 6: Các nguyên tắc hoạt động của BHTM:
- Số đông bù số ít:
Hoạt động BHTM là 1 hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi, theo đó DNBH nhận 1 khoản tiền gọi
là phí BH để rồi có khả năng phải trả 1 khoản tiền cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được BH
khi có sự kiện BH xảy ra. Khoản tiền bồi thường hay chi trả này thường lớn hơn gấp nhiều lần so với khoản
phí mà các DNBH nhận được. Để làm được điều này, hoạt động BHTM phải dựa trên nguyên tắc số đông bù
số ít. Đây là nguyên tắc xuyên suốt, không thể thiếu được trong bất kỳ nghiệp vụ BHTM nào, theo đó hậu
quả của rủi ro xảy ra đối với 1 hoặc 1 số ít người sẽ được bù đắp bằng số tiền huy động được từ rất nhiều
người có khả năng cùng gặp rủi ro như vậy.
Thông qua việc huy động đủ số phí cần thiết để giải quyết chi bồi thường cho các tổn thất có thể xảy ra trong
cộng đồng những người tham gia BH, DNBH đã thực hiện việc bù trừ rủi ro theo quy luật số lớn.
- Rủi ro có thể được BH:
Hoạt động BHTM cung cấp các dịch vụ BH cho những cá nhân và tổ chức có nhu cầu. Tuy nhiên không phải

+ Người tham gia BH: phải trung thực khi khai báo rủi ro khi tham gia BH để giúp DNBH xác định đúng
mức phí phù hợp với rủi ro mà họ đảm nhận. Ngoài ra các hành vi gian lận nhằm trục lợi BH khi thông báo,
khai báo các thiệt hại để đòi bồi thường (khai báo lớn hơn thiệt hại thực tế, sửa chữa ngày tháng của
HĐBH…) sẽ được xử lý theo pháp luật.
- Quyền lợi có thể được BH
Yêu cầu người tham gia BH phải có lợi ích tài chính bị tổn thất nếu đối tượng được BH gặp rủi ro: người
tham gia BH phải có 1 số quan hệ với đối tượng được BH và được pháp luật công nhận (quyền sở hữu, quyền
chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản, quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được
BH.
Nguyên tắc này nhằm loại bỏ khả năng BH cho tài sản của người khác, hoặc cố tình gây thiệt hại hoặc tổn
thất để thu lợi từ 1 đơn BH.
Ngoài các nguyên tắc cơ bản trên, trong mỗi loại hình BHTM sẽ có thêm các nguyên tắc khác phù hợp với
đặc điểm của từng loại: nguyên tắc bồi thường, nguyên tắc khoán…
-Một số nguyên tắc khác
+ nguyên tăc bồi thường thiệt hại(trong BH trách nhiệm dân sự)
+ nguyên tắc khoán(trong baỏ hiểm con người)
Câu 7: Bảo hiểm trùng và cách xử lý bảo hiểm trùng trong bảo hiểm tài sản? Cho ví dụ minh họa?
Bảo hiểm trùng:
Trong BHTS nếu một đối tượng bảo hiểm đồng thời được đảm bảo bằng nhiều HĐBH cho cùng một rủi ro
với những doanh nghiệp BH khác nhau, những HĐBH này có điều kiện BH giống nhau, thời hạn bảo hiểm
trùng nhau và tổng STBH từ tất cả những hợp đồng này lớn hơn giá trị của đối tượng bảo hiểm đó thì gọi là
bảo hiểm trùng.
Trong bảo hiểm tài sản không áp dụng bảo hiểm trùng. Nhưng vẫn có thể xảy ra do cố ý hoặc do vô tình.
Cách giải quyết tùy thuộc vào nguyên nhân:
Nếu do cố ý để gian lận thì doanh nghiệp BH không chi trả đồng thời hủy bỏ hợp đồng.
Nếu do vô tình thì trách nhiệm của mỗi công ty đối với tổn thất sẽ được phân chia theo tỷ lệ trách nhiệm mà
họ đảm nhận. Cụ thể:
STBT(của hợp đồng BH A) = Giá trị thiệt hai thực tế* STBH(của hợp đồng BH A)/ ∑STBH
Trên thực tế một trong số các doanh nghiệp BH đã cấp hợp đồng cho đối tượng được BH trùng này có thể sẽ
đứng ra bồi thường theo số thiệt hai thưc tế, sau đó sẽ đòi lại các doanh nghiệp BH khác phần trách nhiệm

3. Các loại tổn thất trong BHHH XNK vận chuyển bằng đường biển:
Tổn thất trong BHHHXNK BĐB là những thiệt hại, hư hỏng của hàng hóa được bảo hiểm do rủi ro gây ra.
*Căn cứ theo quy mô, mức độ tổn thất gồm:
-Tổn thất bộ phận: là Một bộ phận của lô hàng bị hư hỏng, mất mát, phá hủy. Có thể là tỏn thất về số
lượng, trọng lượng, thể tích , phẩm chất, hoặc giá trị.
Khi hàng hóa bị tổn thất bộ phận thì tùy theo điều kiện bảo hiểm mà người được bảo hiểm đã mua để xác
định được tổn thất bộ phận này có được bồi thường hay không.
Tổn thất bộ phận thương tồn tại dưới các dạng sau:
+Giảm một phần giá trị sử dụng của hàng hóa. Ví dụ bị bột ngấm nước, bị nổi mốc và chua phải làm thức
ăn gia súc.
+Giảm về số lượng như số bao, số kiện bị giao thiếu hay bị nước cuốn trôi.
+giảm về thể tích rượu, xăng, dầu đựng trong thùng bị rò rỉ ra ngoài.
+Giảm về trọng lượng như gạo hay bột bị rơi vãi do bao bì bị rách, vỡ
Hao hụt tự nhiên của hàng hóa ko được coi là tổn thất bộ phận phát sinh trách nhiệm chi trả của DN bảo
hiểm.
VD: Khi tàu gặp bão thiệt hại về một số loại hàng hóa trên tàu như sau: mất 2 bao xi măng, gạo bị ướt giảm
giá trị thương mại 25 %, dầu bị rò rỉ …
-Tổn thất toàn bộ: là toàn bộ đối tượng bảo hiểm theo một hợp đồng BH bị hư hỏng, mất mát, thiệt hại. Có
2 loại TTTB là:
+Tổn thất toàn bộ thực tế: Toàn bộ đối tượng được BH theo một HĐBH bị hư hỏng, mất mát, phá hủy khi rủi
ro xảy ra ko còn như lúc mới được bảo hiểm hay bị mất đi, tước đoạt đi ko lấy lại được nữa.
Chỉ có TTTB thực tế trong 4 trường hợp sau:
+ HH bị hủy hoại hoàn toàn:
\ hàng ko còn là vật thể BH: Ví dụ như tàu bị chìm sâu dưới đáy biển cùng với hàng hóa trên tàu và
không thể nào thu hồi lại được hoặc ví dụ như tàu và hagnf bị cháy rụi đến mức hoàn toàn không còn
gì.
\ hàng bị tước đoạt ko lấy lại được: Ví dụ như bột mỳ bị ẩm ướt, nồi mốc hoàn toàn hoặc trả sau khi
gặp rủi ro, tuy không mất đi nhưng khi pha xong không thể uống được
\ hh trên tàu mà tàu được tuyên bố mất tích:
Ví dụ: ví dụ một lô ngô được chở từ nước ngoài về Việt Nam, dọc đường ngô bị ngấm nước và bắt

Lượng hang hóa A bị vứt xuống biển là Hi sinh hàng TTC.
.Khi tàu gặp bão phải ra vào cảng lánh nạn thì chi phí tàu ra vào cảng lánh nạn, chi phí lưu kho bãi tại cảng
lánh nạn, chi phí tạm sửa chữa hư hại của tàu do hậu quả của bảo là toỏn thất chung.
a. Tổn thất chung và tổn thất riêng:
• Giống: đều căn cứ theo quyền lợi được bảo hiểm.
• Khác:
TTR TTC
-Phải xr ngẫu nhiên bất ngờ
-có thể xra trên biển hoặc bất kỳ địa
điểm nào
-TTR chỉ ảnh hưởng đến quền lợi cá
biệt vì vậy tổn thất riêng của người nào thì
người đó chịu, ko có sự đóng góp của các
bên như TTC
-TTR có thuộc trach nhiệm bồi thưởng
của DN BH hay ko tùy vào điều kiện bảo
hiểm
-cố ý và hợp lý theo lệnh của người có
trách nhiệm.
- phải ở trên biển
-ảnh hưởng tới quyển lợi của tất cả các
bên. Có sự đóng góp của các bên
-DNBH đều chịu trách nhiệm bồi thường
về mứcđóng gopa TTC của chủ hàng.

b. Tổn thất bộ phận và tổn thất toàn bộ:
• Giống: 2 loại tổn thất đều căn cứ trên quy mô và mức độ tổn thất, xét theo từng hợp đồng bảo hiểm.
• Khác:
TT Bộ phận TT toàn bộ
- một phần hàng hoặc hàng được bảo hiểm

-VC bằng đưong biển ngày càng phát triển rất mạnh mẽ và trở thành ngành vận tải hiện đại trong hệ thống
vận tải quốc tế, nó chiếm tới 90%tổng lượng hh XNK của toàn thế giới.
+Số lượng hh vc bằng đường biển rất rất lớn, đa dạng và thường có giá trị cao. Với sự phát triển của
KHCN ngày nay, tàu chở hàng được thiết kế với khối lượng chuyên chở càng cao.
+ VC bằng đường biển góp phần phát triển tốt các mqh của đất nước, làm thay đổi cơ cấu hàng hóa và
thay đổi cơ cấu hàng hóa và cơ cấu thị trường buôn bán quốc tế.
-Tuy nhiên, VC bằng đường biển gặp rất nhiều rủi ro, xác suất xảy ra rủi ro cao. Các RR có thể do ytố ngẫu
nhiên, kỹ thuật, xã hội, con người.
Khi RR VC xảy ra thì giá trị thiệt hại rất lớn. Vì:
- Khối lượng hàng hóa vận chuyển bằng đg biển rất lớn, đa dạng. Ngoài ra cùng với sự phát triển của
KHCN thì khối lượng hàng hóa tàu có thể chuyên chở được ngày càng cao. Do đó, khi thiệt hại xảy ra thì
mức độ thiệt hại sẽ rất lớn.
- Công tác cứu hộ, cứu nạn khi xảy ra rủi ro rất khó khăn.
- Khi hàng hóa trên hành trìnhvận chuyển, người chịu trách nhiệm hàng hóa là một người trung gian, trách
nhiệm này rất hạn chế. .Việc khiếu nại, đòi bồi thường thiệt hại rất khó khăn.
Do trách nhiệm này liên quan đến các điều kiện thương mại quốc tế. Trách nhiệm này phát sinh vào các thời
điểm khác nhau.
- Ngoài ra, với xu thế phát triển hiện nay, mua BHHH XNK là một tập quán thương mại quốc tế. Nhằm đảm
bảo an toàn và giảm thiểu thiệt hại cho các bên.
Do đó, Mặc dù không bắt buộc nhưng theo thông lệ quốc tế ngừoi mua và người bán fải mua bảo hiểm cho
hh.
2.Các loại rủi ro trong bảo hiểm hàng hóa chuyên chở bằng đường biển
a.Xét theo nguyên nhân gồm
-Thiên tai : VD các rủi ro do bão, lốc, biển động, sét mà con người ko chống lại được
- Tai nạn bất ngờ trên biển : Vd các trường hợp tàu bị mắc cạn, đắm, cháy nổ
- Do con người : như cướp biển, chiến tranh, trộm cắp, đình công, tịch thu …
=> từ góc độ khách hàng dễ nhận biết
b.theo nghiệp vụ bảo hiểm: gồm 3 loại
- Rủi ro thông thường: Là rủi ro được bảo hiểm trong những điều kiện bảo hiểm hàng hóa thông thường
(như A, B, C) .

DNBH bồi thường cho người tham gia bảo hiểm phần đóng góp vào TTC dù hàng được bảo hiểm theo
điều kiện bảo hiểm nào và bất kỳ tỷ lệ nào nhưng không vượt quá số tiền bảo hiểm.
Không bồi thường trực tiếp cho người tham gia bảo hiểm mà thanh toán cho người tính toán TTC do
hãng tàu (người chuyên chở) chỉ định.
Số tiền bồi thường này được cộng thêm hay khấu trừ phần chênh lệch giữa số tiền thực tế đã đóng góp
vào TTC và số tiền phải đóng góp vào TTC.
 Bồi thường TTR
- Đối với tổn thất toàn bộ (TTTB) thực tế: bồi thường toàn bộ số tiền bảo hiểm;
- Đối với TTTB ước tính: bồi thường toàn bộ số tiền bảo hiểm nếu người tham gia bảo hiểm từ bỏ
hàng;
Trường hợp người tham gia bảo hiểm không từ bỏ hàng hoặc xin từ bỏ nhưng DNBH không chấp nhận,
sẽ bồi thường theo mức độ tổn thất thực tế.
- Đối với TT bộ phận (TTBP): bồi thường số kiện, số bao hàng bị thiếu, mất hay giá trị trọng lượng số
hàng rời bị thiếu, mất hoặc bồi thường theo mức giảm giá trị thương mại của phần hàng bị tổn thất.
Ngoài ra, nếu trong hợp động BH hàng hóa XNK có ấn định mức miễn thường của DNBH thì khi tổn
thất xảy ra, xác định số tiền bồi thường đối với giá trị hàng hóa bị tổn thất phải xét đến mức miễn thường
này.
Mức miễn thường là một tỷ lệ miễn giảm trách nhiệm bồi thường của DNBH khi tổn thất xảy ra đối
với hàng hóa được BH.
Có 2 loại miễn thường:
Miễn thường có khấu trừ: Theo HĐBH có áp dụng miễn thường có khấu trừ x%, nếu tổn thất xảy ra
vượt quá x% STBH thì DNBH sẽ bồi thường phần tổn thất vượt quá đó. Theo HĐBH có áp dụng miễn
thường không khấu trừ x%, nếu tổn thất vượt quá x% STBH thì DNBH sẽ bồi thường toàn bộ tổn thất.
Cần lưu ý rằng trong cả 2 trường hợp miễn thường, nếu tỷ lệ tổn thất không vượt quá tỷ lệ miễn thường
thì DNBH sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường tổn thất.
Lưu ý: DNBH chỉ có trách nhiệm trong phạm vi STBH. Nếu STBH của hàng hóa thấp hơn GTBH (mua
BH dưới giá trị) thì DNBH chỉ bồi thường những mất mát, hư hỏng thiệt hại và các chi phí trong phạm vi
trách nhiệm của họ theo tỷ lệ giữa STBH và GTBH. Nếu STBH của hàng hóa cao hơn GTBH thì DNBH chi
bồi thường theo thiệt hại thực tế. Tuy nhiên, trong trường hợp phải tuân thủ ý kiến của DNBH để thực hiện
các biện pháp đề phòng, hạn chế tổn thất thì DNBH phải thanh toán cho người tham gia bảo hiểm những chi

BH cam kết chi trả cho người tham gia
BHX hay người được BH một số tiền rất
lớn ngay khi họ mới tiết kiệm được một
khoản tiền rất nhỏ khi rủi ro bất thường
được BH xảy ra. Tính tiết kiệm thể hiện
một cách thường xuyên, có kế hoạch rõ
ràng và có lỷ luật
- Chỉ được lĩnh tiền khi có sự kiện BH xảy
ra hoặc HĐ đã hết hạn.
- Nộp phí định kì đúng 1 khoản đều đặn.
- Mối quan hệ trong BHNT thường khá
phức tạp: Cty BH, người tham gia BH,
người được BH và người thụ hưởng quyền
- là việc cá nhân gửi tiền vào tài khoản tiền
gửi tiết kiệm, và được xác nhận trên thẻ tiết
kiệm để được hưởng lãi theo quy định của
tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi
sẽ được bảo hiểm theo quy định của pháp
luật về bảo hiểm tiền gửi.
- Chỉ mang tính thức tiết kiệm. Không có
tính chất bảo vệ người đi gửi tiền khi họ
gặp phải những biến cố bất thường: chết,
tai nạn. Tính tiết kiệm không thường xuyên
như BHNT, mang tính chất tùy thích hơn
và tùy vào khả năn tài chính của người gửi.
-Rút tiền linh hoạt hơn.
- Gửi tiền linh hoạt hơn, theo nhu cầu tiết
kiệm và khả năng tài chính của bản thân.
- Chỉ có mối quan hệ: Người gửi tiền với tổ
lợi BH.

-Khoảng tuổi rộng hơn, từ những em
bé dưới 12 tháng tuổi đến những người trên
65 tuổi
-Thường quy định trong một khoảng tuổi
nào đó (không được quá thấp hoặc
quá cao). Ví dụ ở Việt Nam khoảng tuổi
là 12 tháng đến 65 tuổi
Phạm
vi BH
-Các rủi ro gắn liền với tuổi thọ của con
người
-Các rủi ro có tính chất thiệt hại liên quan
đến thân thể và sức khỏe con người; độc
lập với tuổi thọ con người
Thời
hạn BH
-Trung hoăc dài hạn, thường là trên 1 năm
cho đến hết đời
-Ngắn hạn, thường là 1 năm trở xuống
Kỹ
thuật BH
-Quản lý theo kỹ thuật tồn tích nhằm mục
đích cân bằng hợp đồng trong nhiều năm
-Phải lập quỹ dự phòng toán học
-Việc định phí phức tạp,phụ thuộc vào
nhiều yếu tố, quy luật. Phí nộp 1 lần hoặc
nhiều lần
-Số phí thu được trong năm, một phần chi
trả cho tổn thất xảy ra trong năm, một phần
được gửi tiết kiệm hoặc đầu tư và tồn tích

của người tham gia BH: ổn định cuộc sống
khi già yếu; giúp người BH để lại cho gia
đình một STBH; đôi khi có vai trò như 1 vật
thế chấp để vay vốn…
-Chu kỳ của SP thường kéo dài và quan
hệ giữa các bên trong HĐ thì phức tạp
-Ít được triển khai cùng nghiệp vụ BH
khác
phần khắc phục hậu quả, ổn định tài chính
cho người tham gia khi gặp sự cố

-Chu kỳ của SP thường ngắn hơn
và quan hệ giữa các bên trong hợp đồng
đơn giản hơn
-Thường triển khai kết hợp với các
nghiệp vụ khác trong cùng 1 HĐBH
-Ra đời muộn hơn BH con người phi nhân
thọ vì cần đk XH
-Ra đời sớm hơn
Câu 12: Nội dung cơ bản của nghiệp vụ bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người
thứ ba? Tại sao nghiệp vụ bảo hiểm này được thực hiện dưới hình thức bắt buộc? So sánh nghiệp vụ
bảo hiểm này vơi BH vật chất thân xe.
Nội dung của nghiệp vụ:
• Đối tượng tham gia:
- Nghĩa vụ và trách nhiệm bồi thường bằng tiền của chủ xe đvới người thứ 3 theo quy định của pháp luật.
- Điều kiện phát sinh TNDS:
+ Có thiệt hại thực tế của người thứ 3 ( thiệt hại về tài sản, hàng hóa của người trên xe, người….)
+ Có hành vi trái luật hoặc bất cẩn với chủ xe, lái xe ( có thể về tình hoặc cố tình )
+ Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế của người thứ 3 với hành vi trái luật hoặc bất cẩn của chủ
xe => chỉ chi trả những thiệt hại trực tiếp.

- b2: xác định trách nhiệm bồi thường của DNBH
- b3: xác định số tiền đòi lại của dnbh
- b4: xác định số tiền bồi thường thực tế của dnbh= kqb2- kqb3
- b5: xác định thiệt hại ko được bồi thường của chủ xe.
Nghiệp vụ BHTNDS chủ xe cơ giới vs người T3 được thực hiện bắt buộc vì:
QUY TẮC BẢO HIỂM BẮT BUỘC TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ CỦA CHỦ XE CƠ GIỚI được ban hành
theo quyết định số 23/2003/QĐ-BTC ngày 25 tháng 2 năm 2003 của BỘ trưởng Bộ tài chính
Người sử dụng xe cơ giới – nguồn nguy hiểm cao độ không chỉ cho riêng người điều khiển xe cơ giới mà còn
gây ra những thiệt hại về người và tài sản cho người thứ ba. Bộ luật Dân sự quy định, chủ xe cơ giới phải bồi
thường thiệt hại do xe cơ giới gây ra. Nhưng trên thực tế nhiều nạn nhân, nhiều gia đình nạn nhân không
được bồi thường thiệt hại do chủ xe không đủ khả năng tài chính hoặc người gây tai nạn bị chết trong tai nạn.
Để đảm bảo mọi người dân bị thiệt hại do xe cơ giới gây ra đều được bồi thường thỏa đáng, Nhà nước quy
định bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự đối với chủ xe cơ giới.
Như vậy, bảo hiểm TNDS bắt buộc của chủ xe cơ giới trước hết nhằm mục đích nhân đạo, bảo vệ người dân.
Nếu không may bị tai nạn giao thông, họ được bồi thường thiệt hại.
Bảo hiểm TNDS bắt buộc của chủ xe cơ giới cũng có lợi cho chủ xe. Nếu không may gây tai nạn, Doanh
nghiệp bảo hiểm thay thế họ bồi thường cho người bị nạn khi được chủ xe yêu cầu, hoặc nếu họ đã bồi
thường cho người bị nạn thì doanh nghiệp bảo hiểm sẽ hoàn trả cho họ số tiền hợp lý mà họ đã bồi thường.
Mức trách nhiệm và phạm vi bảo hiểm:
1. TNDS của chủ xe môtô
a) Về người: 50 triệu đồng/người (đối với người thứ ba và hành khách theo hợp đồng vận chuyển hành
khách)
b) Về tài sản: 30 triệu đồng/vụ (đối với người thứ ba)
2. TNDS của chủ xe ô tô
a) Về ngườii: 50 triệu đồng/người (đối với người thứ ba và hành khách theo hợp đồng vận chuyển hành
khách)
b) Về tài sản: 50 triệu đồng/vụ (đối với người thứ ba)
Ngoài ra Chủ xe cơ giới có thể tham gia bảo hiểm với mức trách nhiệm cao hơn, tùy sự lựa chọn của Chủ xe.
So sánh BHTNDC của chủ xe cơ giới với BHVC xe:
• Giống nhau:

hại thực tế của người thứ 3 với hành vi
trái luật hoặc bất cẩn của chủ xe => chỉ
chi trả những thiệt hại trực tiếp.
+ Có lỗi của chủ xe ( lái xe).
Phạm vi - Rủi ro được bảo hiểm bao gồm:
+ Xe bị tai nạn do đâm va, lật đổ
+ Xe bị cháy nổ, bão lụt, sét
đánh, động đất, mưa đá.
+ Xe bị mất cắp toàn bộ xe.
- Liên quan đến thiệt hại thực tế của
người thứ 3 về tài sản, tình trạng sức
khỏe, tính mạng.
Hình thức Tự nguyện Bắt buộc
Bồi thường
tổn thất
Có thể nhỏ hơn, ngang hoặc lớn
hơn giá trị bảo hiểm
Nhỏ hơn hoặc bằng mức giới hạn
trách nhiệm
Câu 13: : Hãy trình bày những nội dung cơ bản của nghiệp vụ bảo hiểm tai nạn hành khách? Vì sao
nghiệp vụ này được thực hiện dưới hình thức bắt buộc?
Nội dung cơ bản của NV BH tai nạn hành khách:
 Bảo hiểm tai nạn hành khách
- mục đích:
+ Góp phần ổn định cuộc sống của bản thân hành khách ko may bị tai nạn và gia đình họ
+ Tạo điều kiện thuận lợi cho chính quyền địa phương nơi xảy ra tai nạn khắc phục hậu quả tai nạn kịp thời,
nhanh chóng
+ Xét trên phạm vi xã hội, nó còn góp phần đề phòng và ngăn ngừa tai nạn giao thông, Tăng thu cho ngân
sách Nhà nước để có điều kiện đầu tư trở lại nâng cấp xây dựng mới cơ sở hạ tầng giao thông…
- Đối tượng bảo hiểm;

hành khách tham gia giao thông ngày càng lớn. kéo theo đó là số lượng các loại phương tiện tham gia giao
thông ngày càng được cải tiến và hiện đại, cơ sở hạ tầng giao thông ngày càng được mở rông, nâng cấp và
hoàn thiện, song tai nạn giao thông vẫn ngày một gia tăng đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng và tình
trạng sức khoẻ của mọi hành khách.
Theo số liệu thống kê trên thế giới hàng năm có hơn 70 % lượng khách hàng tham gia giao thông đều là
những người chủ chốt trong gia đình, cơ quan và doanh nghiệp, mỗi khi tai nạn giao thông không may đến
với họ đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của mỗi gia đình, người thân, cơ quan, doanh nghiệp và
toàn xã hội.
Vì thế bảo hiểm tai nạn hành khách ra đời là hết sức cần thiết và ở nhiều nước trên thế giới đã triển khai dưới
hình thức bắt buộc.
Câu 14: Các loại hình Bảo hiểm Nhân thọ? Bảng tỷ lệ tử vong trong BHNT ? Giá trị hiện tại, giá trị
đáo hạn, giá trị giải ước trong BHNT? Cho ví dụ minh hoạ ?
. Các loại hình BHNT cơ bản.
BHNT là cam kết giữa ng bh và tham gia bh mà trg đó ng bh sẽ trả cho ng tham gia bh hoặc ng thụ hưởng
quyền lọi bh một số tiền nhất định khi có nhữg sự kiện đã định trc xảy ra; còn ng tham gia bh phải nộp phí bh
đầy đủ đúng hạn.
BHNT đáp ứng đc rất nhiều mục đích khác nhau. Thực tế có 3 loai hình BHNT cơ bản :
- BH trg trường hợp tử vong
- Bh trg trường hợp sống
- Bh nt hỗn hợp
Ngoài ra ng bh còn áp dụng các điều khoản bổ sung cho các loại hợp đồng BHNT cơ bản:
- BH tai nạn
- Bh sức khỏe
- Bh ko nộp phí khi thương tật
- Bh cho ng đóng phí
Thực chất các điều khoản bổ sung ko pải là bhnt, vì ko phị thuộc vào sinh mạng con ng mà là Bh các rủi ro
khác có liên quan đến con ng . tuy nhiên đôi khi ng tham gia bh vẫn thấy rất cần thiết pải tham gia để bổ sung
cho hợp đồng cơ bản
• Bh trg trường hợp tử vong: là loại hình phổ biến nhất trg BHNT đc chia thành 2 nhóm
- Bh tử kỳ (bh tạm thời hay bh sinh mạng có thời hạn)

+phí thấp hơn bh tử kỳ cố định
+giai đoạn nộp phí ngắn hơn toàn bộ thời hạn hợp đồng để tránh việc thanh toán vào cuối thời hạn của
hợp đồng khi mà số tiền bh còn rất nhỏ
Loại hình này đáp ứng nhu cầu của ng tham gia khi họ phải nợ 1 khoản tiền phải trả dần
- Bh kỳ tử tăng dần: loại hình này đc phát hành nhằm jup ng tham gia bh có thể ngăn chặn yểu tố lạm
phát của đồng tiền. Để ngăn chặn cớ thể:
+ tăng số tiền bh theo tỷ lệ % đc lập hang năm
+đưa ra các hợp đồng ngắn hạn và sau đó tái tục với số tiền bh tăng dần
Vậy đặc điểm loại hợp đồng này : phí bh tăng dần theo số tiền bh và phải dựa trên tuổi tác của ng đc bh
khi tái tục hợp
- BH thu nhập gia đình: nhằm đảm bảo thu nhập cho 1 gia đình khi ko may ng trụ cột trg gia đình bị
chết . quyền lợi bh có thể nhận đc sau khi ng trụ cột chết:
+ Nhận đc toàn bộ
+ nhận đc dần từng phần cho đến khi hết hợp đồng
Nếu ng đc bh còn sống gia đình sẽ ko nhận đc bất kỳ khoản thanh toán nào từ công ty bh
- BH thu nhập gia đình tăng lên: loại hình cũng nhằm tránh lạm phát, đảm bảo các khoản thanh toán
cho gia đình ko may có ng đc bh bị chết
- Bh tử kỳ có đk : đk ở đây là: việc thanh toán trợ cấp chỉ thức hiện khi ng đc bh bị chết, ng thụ hưởng
quyền lợi trg gia đình pải còn sống
* Bh nhân thọ trọn đời (bh trường sinh)
Là loại hình cam kết chi trả cho ng thu hưởng bh 1 STBH đã dc ấn định trên hợp đồng, khi ng đc bh bị
chết vào bất cứ lúc nào kể từ ngày ký hợp đồng. ngoài ra còn có 1 số trường hợp loại hình bh này còn đảm
bảo chi trả cho ng đc bh ngay cả khi họ đến 100 tuổi
Đặc điểm:
+ STBH trả 1 lần khi ng đc bh bị chết
+ thời hạn bh ko xác định
+ phí bh có thể đóng 1 lần hoặc đóng định kỳ và ko thay đổi trg suốt quátrinhf bh
+ phí bh cao hơn so vớibh sinh mạng có thời hạn, vì rủi ro chết chắc chắn sẽ xảy ra, nên số tiền bh chắc chắn
phải chi trả
+ bhnt trọn đời là loại hình bh dài hạn, phí đóng định kỳ và ko thay đổi trg suốt quá trình bảo hiểm, do đó đã

Đặc điểm :
+trợ cấp định kỳ cho ng đc bh trg thời gian xác định hoặc cho đến khi chết
+ phí bh đóng 1 lần
+ nếu trợ cấp định kỳ đến khi chết thì thời gian ko xác định
Mục đích:
+đảm bảo thu nhập cố định sau khi về hưu hay tuổi cao sức yếu
+giảm bớt nhu cầu phụ thuộc vào phúc lợi xã hội hoặc con cái khi tuổi già
+ bảo trợ mức sống trg những năm tháng còn lại của cuộc đời
Loại hình bh này rất phù hợp với những ng về hưu hoặc những ng ko đc hưởng tiền trợ cấp hưu trí từ
bhxh đến độ tuổi tương ứng với tuổi về hưu đăng ký tham gia, để đc hưởng khoản trợ cấp định kỳ hàng tháng
 Bh nhân thọ hỗn hợp
Thực chất của loại hình bh nay là bh cả trg trường hợp ng đc bh bị tử vong hay còn sống. yếu tố tiết
kiệm và rủi ro đan xen nhau vì thế nó đc áp dụng rộng rãi ở hầu hết các quốc gia.
Đặc điểm:
+ stbh đc chi trả khi hết hạn hợp đồng hoặc ng đc bh bị tử vong trg thời gian bh
+ thời gian bh thường đóng định kỳ và ko thay đổi trg suốt thời gian bh
+ có thể dc chia lãi thông qua đầu tư phí bh và cũng có thể đc hoàn phí khi ko có điều kiện tiếp tục tham gia
Mục đích
+ đảm bảo cuộc sống gia đình và ng thân
+ tạo lập quỹ giáo dục đào tạo hưu trí trả nợ
+ dùng làm vật thế chấp vay vốn hoặc khởi nghiệp kinh doanh…
Khi triển khai bhnt hỗn hợp, các công ty bh có thể đa dạng hóa loại sp này bằng các hợp đồng có thời hạn
khác nhau, hợp đồng phi lợi nhuận, có lọi nhuận và các loại hợp đồng khác tùy theo tình hình thực tế
1. bảng tỷ lệ tử vong
là cơ sở khoa học quan trọng nhất trong quá trình xác định mức phí thuần BHNT của doanh nghiệp bảo hiểm
- KN: là bảng tổng hợp các chỉ tiêu thống kê pản ánh tình hình sinh, tử ở các độ tuổi xác định và là công cụ
quan trọng nhất để xác định phí bảo hiểm
- Cơ sở xây dựng bảng: áp dụng quy luật số lớn.
- Tỷ lệ tử vong: là tỷ số giữa số người chết trong một khoảng thời gian nhất định trên tổng số người sống
tại thời điểm khởi đầu khoảng thời gian đó

- Bảng tỷ lệ tử vong có những đặc điểm sau:
+ tỷ lệ tử vong ở độ tuổi x = 0 là khá cao
+ độ tuổi càng cao thì tỷ lệ tử vong càng tăng nhanh
+ tỷ lệ tử vong sẽ khác biệt giữa các vùng miền, ngành nghề
+ tỷ lệ tử vong ở nam thường cao hơn nữ giới
+ tỷ lệ tử vong ở vàng xây dựng sau thường thấp hơn bảng tỷ lệ tử vong xây dựng trước đó.
2. giá trị hiện tại trong BHNT
là giá trị cần được đầu tư tại thời điểm hiện tại để thu được một giá trị nào đó tại một thời điểm nhất định
trong tương lai
giá trị hiện tại = giá trị nhận được trong tương lai* [1/( 1+ lãi suất)^thời kì đầu tư ]
ví dụ: tính số tiền đầu tư cần thiết ở thời điểm hiện tại để thu được 1000.000 đồng vào cuối năm thứ 5 với lãi
suất 5% một năm
1000.000*[1/(1+0.05)^5] = 783.526 đồng
3. giá trị đáo hạn trong BHNT
là giá trị thu được tại một thời điểm nào đó trong tương lai từ quỹ được đầu tư tại thời điểm hiện tại
giá trị đáo hạn = tiền gốc*[(1+lãi suất)^thời kì đầu tư]
ví dụ: tính giá trị đáo hạn của 1000.000 đồng vào cuối năm thứ 15 với lãi suất 7% một năm
1000.000*(1+0.07)^15 = 2.7598.032 đồng
Giá trị giải ước (giá trị hoàn lại) trong BHNT?
Giá trị giải ước (giá trị hoàn lại) là số tiền NTGBH được nhận theo quy định trong Điều khoản của Hợp đồng
khi NTGBH yêu cầu hủy Hợp đồng hoặc khi Hợp đồng chấm dứt hiệu lực trước thời hạn quy định.
Khi khách hàng đã tham gia BH trong một thời gian xác định mà quyết định hủy bỏ hợp đồng thì người tham
gia bảo hiểm sẽ nhận được số tiền trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có giá trị hoàn trả trừ đi bất kỳ khoản
nợ tồn đọng và tiền lãi tích luỹ. Một bảng trong hợp đồng chỉ rõ số tiền hoàn trả. Đối với một số hợp đồng,
công ty bảo hiểm bảo lưu quyền giữ khoản giá trị hoàn trả này trong vòng sáu tháng kể từ thời điểm thông
báo, nhưng ngày nay ít áp dụng quyền lợi này.
Giá trị giải ước ứng với mỗi năm hợp đồng vào Ngày kỷ niệm hợp đồng được xác định tại Phụ lục của Hợp
đồng.
Giá trị giải ước = dự phòng phí – phí giải ước
Trong đó: dự phòng phí là tích lũy khoản phí dư thừa trong giai đoạn đầu để chi trả cho giai đoạn sau.

./ các trường hợp nổ gây ra hỏa hoạn đã nghiễm nhiên được bảo hiểm.
- Các rủi ro phụ: Bên cạnh rủi ro chính có các rủi ro phụ. Các rủi ro này chỉ có thể được bảo hiểm khi đi
kèm theo rủi ro chính, tùy thuộc vào quyết định của người tham gia bảo hiểm. Các rủi ro phụ bao gồm:
máy bay và các phương tiện hàng không khác hoặc thiết bị trên các phương tiện đó rơi vào, nổi loạn, bạo
động dân sự, đình công, bể xưởng, động đất, lửa ngầm dưới đất, giông bão, hệ thống chữa cháy rò rỉ
nước…
- Rủi ro loại trừ:
+ tổn thất do hành động cố ý hoặc đồng lõa của người được bảo hiểm gây ra.
+ những tổn thất về:
./ hàng hóa nhận ủy thác hay ký gửi trừ khi những hàng hóa đó được xác nhận trong giấy chứng nhận bảo
hiểm là được bảo hiểm và người được bảo hiểm trả thêm phí bảo hiểm theo tỷ lệ phí quy định.
./ tiền bạc, kim loại, đá quý, chứng khoán, thư bảo lãnh, tem phiếu, tài liệu, bản thảo, sổ sách kinh doanh,
tài liệu lưu trữ trong máy tính điện tử, bản mẫu, văn bằng, khuôn mẫu, bản vẽ, tài liệu thiết kế trừ khi
những hạng mục này được xác nhận trong giấy chứng nhận là được bảo hiểm.
./ chất nổ nhưng không bao gồm nhiên liệu, xăng dầu.
./ người, động vật và thực vật sống.
./ những tài sản mà vào thời điểm xảy ra tổn thất được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm Hàng hải hoặc lẽ ra
được bảo hiểm theo đơn bảo hiểm Hàng hải, trừ phần thiệt hại vượt quá số tiền được bồi thường theo đơn
bảo hiểm Hàng hải hoặc lẽ ra được bồi thường theo đơn bảo hiểm Hàng hải.
./ tài sản bị cướp hay bị mất cắp. Trong trường hợp tài sản bị cướp, mất cắp trong khi xảy ra hỏa hoạn mà
người được bảo hiểm không chứng minh được là mất cắp thì vẫn được bồi thường.
./ những thiệt hại mang tính chất hậu quả dưới bất kỳ hình thức nào, trừ thiệt hại về tiền thuê nhà được
xác nhận trong giấy chứng nhận bảo hiểm là được bảo hiểm.
./ những thiệt hại gây ra cho bên thứ ba.
./ những thiệt hại trong phạm vi mức miễn thường.
Tại sao sự ra đời của Bảo hiểm hỏa hoạn là cần thiết khách quan?
Theo số liệu thống kê, hàng năm trên thế giới có khoảng 5 triệu vụ cháy lớn nhỏ gây thiệt hại hàng trăm tỷ đô
la. Các vụ cháy không chỉ xảy ra ở các nước có nền kinh tế chậm phát triển mà còn xảy ra ở các nước có nền
kinh tế phát triển như Anh, Pháp, Mỹ… nơi mà nền khoa học, công nghệ đã đạt đến đỉnh cao của sự hiện đại
và an toàn thì cháy vẫn xảy ra ngày một tăng cả về số lượng và mức độ nghiêm trọng.

Số tiền bảo hiểm là giới hạn bồi thường tối đa của công ty bảo hiểm trong trường hợp tài sản được bảo
hiểm bị tổn thất toàn bộ. Số tiền bảo hiểm còn là căn cứ để xác định phí bảo hiểm. Vì thế, việc xác định
chính xác số tiền bảo hiểm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng . Cơ sở xác định số tiền bảo hiểm là giá trị bảo
hiểm
- Đối với các tài sản cố định, việc xác định số tiền bảo hiểm căn cứ vào giá trị bảo hiểm của tài sản.
- Đối với các tài sản lưu động, giá trị thường xuyên biến động, cho nên số tiền bảo hiểm có thể xác định theo
giá trị trung bình hoặc giá trị tối đa:
+ Nếu bảo hiểm theo giá trị trung bình, người được bảo hiểm ước tính và thông báo cho công ty bảo
hiểm biết giá trị số hàng hóa trung bình có trong kho, cửa hàng. Trong thời gian bảo hiểm, giá trị trung bình
này được coi là số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm được tính trên cơ sở giá trị trung bình. Khi tổn thất xảy ra
thuộc phạm vi bảo hiểm, công ty bảo hiểm bồi thường thiệt hại thực tế nhưng không vượt qua giá trị trung
bình đã khai báo.
Bảo hiểm theo giá trị trung bình đơn giản, dễ theo dõi, đồng thời có lợi về tính phí bảo hiểm. Nếu một
loại hàng hóa được bảo hiểm mà giá trị ít bị biến động trên thị trường áp dụng phương pháp này rất tiện.
+ Nếu bảo hiểm theo giá trị tối đa thì người được bảo hiểm ước tính và thông báo cho công ty bảo hiểm
biết giá trị của lượng vật tư, hàng hóa tối đa có thể đạt được vào một thời điểm nào đó trong thời gian bảo
hiểm. Phí bảo hiểm được tính trên cơ sở giá trị tối đa và thường được thu trước một phần. Khi tổn thất xảy ra
thuộc phạm vi bảo hiểm, công ty bảo hiểm bồi thường thiệt hại thực tế nhưng không vượt quá giá trị tối đã đã
khai báo. Đầu mỗi tháng hoặc mỗi quý (tùy theo sự thỏa thuận của 2 bên), người được bảo hiểm thông báo
cho công ty bảo hiểm số vật tư, hàng hóa tối đa thực có trong tháng hoặc trong quý trước đó. Cuối thời hạn
bảo hiểm, trên cơ sở giá trị được thông báo, công ty bảo hiểm tính giá trị số vật tư, hàng hóa tối đa bình quân
của cả thời hạn bảo hiểm và tính lại phí bảo hiểm. Nếu phí bảo hiểm tính được trên cơ sở số giá trị tối đa bình
quân nhiều hơn số phí bảo hiểm đã nộp thì người được bảo hiểm trả nốt cho công ty bảo hiểm số phí còn
thiếu. Trong thời gian bảo hiểm, nếu có tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm sẽ được công ty bảo hiểm bồi
thường và số tiền bồi thường không vượt quá giá trị tối đa bình quân thì phí bảo hiểm được tính dựa vào số
tiền bồi thường đã trả. Trong trường hợp này, số tiền được bồi thường được coi là số tiền bảo hiểm.
Việc áp dụng bảo hiểm theo giá trị tối đa rất phức tạp, đòi hỏi công ty bảo hiểm phải biết giá trị vật tư,
hàng hóa được bảo hiểm, theo dõi chặt chẽ số vật tư, hàng hóa đó trong suốt thời gian bảo hiểm. Những tài
sản có giá trị lớn, người bảo hiểm khó có thể tái bảo hiểm vì tính phí phức tạp và khó khăn.
c. P: Phí bảo hiểm

+ Bước 1: Rà soát lại các danh mục tài sản tham gia bảo hiểm hỏa hoạn, sau đó phân loại từng loại tài sản
theo danh mục khác nhau (bởi vì mỗi loại tài sản có khả năng bị hỏa hoạn khác nhau).
+ Bước 2: Căn cứ vào ngành nghề sản xuất kinh doanh để chọn một tỷ lệ thích hợp trong bảng tỷ lệ phí có
sẵn.
+ Bước 3: Điều chỉnh tỷ lệ phí đã chọn theo các yếu tố tăng (giảm).
Việc điều chỉnh này phải căn cứ vào: vật liệu xây dựng, công tác phòng cháy, chữa cháy… Tất cả những yếu
tố này đều có thể làm tăng hoặc giảm tỷ lệ phí bảo hiểm.
Trong nghiệp vụ BH hỏa hoạn, công ty bảo hiểm cần phải quan tâm đến các yếu tố làm giảm mức độ
rủi ro vì những yếu tố này là cơ sở để giảm mức phí cơ bản. Tuy nhiên, tổng mức giảm phí về các thiết bị và
phương tiện phòng cháy, chữa cháy của mỗi đơn vị rủi ro không quá 45%. Các yếu tố làm giảm rủi ro thường
bao gồm:
Thiết bị phòng cháy, chữa cháy;
Việc trực, kiểm tra, canh gác;
Thiết bị, phương tiện chữa cháy như: công trình có hệ thống phun nước, có hệ thống dập cháy bằng
CO
2
; có hệ thống tự động dập tắt tia lửa điện, có ô tô chữa cháy và nhân viên chữa cháy; gần đôi cứu hỏa
công cộng…
Ngoài ra, nghiệp vụ BH này còn áp dụng mức miễn thường. Tùy theo từng loại tài sản được bảo hiểm mà
mức miễn thường được quy định khác nhau. Thông thường trong BH hỏa hoạn áp dụng mức miễn thường có
khấu trừ tối thiểu là 2% số tiền BH, nhưng không dưới 100 USD/mỗi vụ tổn thất và tối đa không quá 2000
USD/mỗi vụ tổn thất. Đây là mức miễn thường bắt buộc không được giảm phí. Nếu người tham gia BH
muốn lựa chọn mức miễn thường cao hơn để được giảm phí thì sẽ có thỏa thuận riêng về mức miễn thường
và tỷ lệ giảm phí.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status