BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN QUÂN Y
NGUYỄN HỮU CHIẾN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC
VÀ THỰC TRẠNG CẤP CỨU BAN ĐẦU Ở BỆNH NHÂN
GÃY XƯƠNG CƠ QUAN VẬN ĐỘNG ĐIỀU TRỊ
TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC
HÀ NỘI 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ QUỐC PHÒNG
HỌC VIỆN QUÂN Y
NGUYỄN HỮU CHIẾN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC
VÀ THỰC TRẠNG CẤP CỨU BAN ĐẦU Ở BỆNH NHÂN
GÃY XƯƠNG CƠ QUAN VẬN ĐỘNG ĐIỀU TRỊ
TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 103
Chuyên ngành: Ngoại khoa
̣
̀
̃ ̣
được sự hương dân, h
́
̃ ỗ trợ và giup đ
́ ỡ quy bau cua cac thây cô, các c
́ ́ ̉
́
̀
ơ quan,
tổ chức và các cá nhân. Vơi long kinh trong va biêt
́ ̀
́
̣
̀ ́ ơn sâu săc tôi xin đ
́
ược
bay to l
̀ ̉ ời cam
̉ ơn chân thanh nh
̀
ất.
Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến GS.TS
Nguyễn Tiến Bình và PGS.TS. Phạm Đăng Ninh, hai người Thầy đã tận tâm
dìu dắt, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn
thành luận án.
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành đến Ban Giam đ
́ ốc, Phong Sau Đ
̀
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Hữu Chiến
MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
Phần viết
tắt
Phần viết đầy đủ
BN
BV
BVĐK
CĐN
YTCS
Bệnh nhân
Bệnh viện
Bệnh viện Đa khoa
Thần kinh
Tai nạn giao thông
Tai nạn lao động
Tai nạn sinh hoạt
Tai nạn thương tích
Xương đùi
?
Số trung bình cộng
χ2
Khi bình phương
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng
Tên bảng
Trang
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ
Trang
Tên biểu đồ
sớm… thì sẽ tạo điều kiện tốt cho điều trị ở tuyến sau có kết quả [3]. Do
vậy, vấn đề cấp cứu ban đầu đóng vai trò rất quan trọng. Việc sơ cấp cứu
đúng cách, cố định ổ gãy vững chắc sẽ giảm tỷ lệ các biến chứng toàn thân
và tại chỗ như sốc, tổn thương gãy kín thành gãy hở và tổn thương mạch
máu, thần kinh. Việc sơ cấp cứu sớm còn tạo điều kiện cho tuyến sau xử
trí được thuận lợi hơn...Sơ cấp cứu ban đầu kịp thời và hiệu quả là vô
cùng quan trọng để giảm mức độ trầm trọng và tử vong do thương tổn từ
các tai nạn thương tích đem lại [4].
12
Các nghiên cứu về gãy xương do tại nạn thương tích đã được nhiều
tác giả trong và ngoài nước quan tâm. Trên thế giới, hầu hết các quốc gia
đều có các trung tâm phòng ngừa tai nạn và thương tích. Ở Việt Nam, trong
khoảng hơn 10 năm trở lại đây, khía cạnh dự phòng tai nạn thương tích, dự
phòng gãy xương, sơ cấp cứu ban đầu khi bị gãy xương mới được chú ý.
Để có những thông tin cơ bản, hệ thống và đầy đủ về đặc điểm dịch
tễ của gãy xương cơ quan vận động và thực trạng công tác cấp cứu ban
đầu tại các tuyến sơ cứu trước bệnh viện, chúng tôi thực hiện nghiên cứu
đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học và thực trạng cấp
cứu ban đầu ở bệnh nhân gãy xương cơ quan vận động điều trị tại
Bệnh viện Quân y 103” nhằm các mục tiêu sau:
Mục tiêu nghiên cứu:
1. Xác định một số đặc điểm dịch tễ học gãy xương cơ quan vận
động ở bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Quân y 103 giai đoạn
20102014.
2. Khảo sát thực trạng cấp cứu ban đầu ở các bệnh nhân gãy
đầu vào năm 1976, sau đó Gustilo cùng các tác giả khác đã nhiều lần bổ
sung và đề xuất thành bảng phân loại hoàn chỉnh vào năm 1990 (Gustilo và
14
cs., 1984; 1987; 1990). Đây là phương pháp phân loại được sử dụng rộng rãi
nhất hiện nay. Bảng phân loại năm 1990 cụ thể như sau [3], [5], [7]:
Độ I: Vết thương rách da 1cm, không có lóc da, đụng dập phần
mềm nhẹ, vết thương ít ô nhiễm. Xương có thể gãy đơn giản hoặc gãy có
mảnh rời nhưng không phức tạp.
Độ III: Tổn thương phần mềm nặng (bao gồm da, cân cơ, mạch
máu, thần kinh: TK), vết thương ô nhiễm nặng, gãy hở đến muộn sau 6
giờ. Tổn thương do lực chấn thương có năng lượng cao (hoả khí, tai nạn
giao thông...) GX phức tạp, di lệch lớn. GX hở độ III được chia thành 3
loại:
Độ IIIA: Tổn thương phần mềm nặng (rách da, lóc da, bầm dập)
nhưng sau khi cắt lọc vết thương, phần mềm còn đủ để che phủ xương
gãy. Nhóm này còn bao gồm các GX nhiều mảnh rời, GX nhiều mảnh do
lực chấn thương có động năng cao.
Độ IIIB: Vết thương ô nhiễm nặng, tổn thương phần mềm phức
tạp hoặc mất tổ chức, sau khi cắt lọc không đủ để che phủ xương gãy,
phải thực hiện các phẫu thuật tạo hình phủ bổ sung. Xương gãy vụn rời,
lóc tuột màng xương, thường do lực chấn thương có động năng cao.
Độ IIIC: GX hở có tổn thương mạch máu (MM) và TK chính của
chi cần phải khâu nối phục hồi lưu thông, nếu không được sẽ phải cắt cụt.
+ Phân loại tổn thương phần mềm của Oestern và Tscherne
Allgower M.) thuộc AO (Arbeitsgemeinschaft fur Osteosynthesefragen) đưa
ra năm 1990, dựa trên 3 loại tổn thương chính là: da, gân cơ và MM, TK.
Mỗi loại tổn thương được chia thành 5 mức độ, cụ thể như sau:
16
Tổn thương da được chia thành hai loại: IC là gãy kín (integuments
closed); OC là gãy hở (integuments open).
IC1: Không tổn thương IO1: VT do đầu xương gãy chọc từ trong ra.
da.
IC2: Dập, không rách da. IO2: VT rách da 5cm, bầm dập lan rộng, hoại tử mép da.
IC4: Lóc da (kín) rộng, nặng. IO4: Bầm dập sâu rộng, lóc tuột da, mất da.
IC5: Hoại tử do đụng
dập.
Tổn thương cơ và gân gồm các mức độ sau:
MT1: Không có tổn thương gân cơ.
MT2: Tổn thương cơ khu trú, tổn thương cơ trong 1 khoang.
MT3: Tổn thương cơ đáng kể, tổn thương cơ trong 2 khoang.
MT4: Rách nát cơ và gân, đụng dập cơ nặng.
MT5: Hội chứng chèn ép khoang, hội chứng vùi lấp đè ép với tổn
thương rộng.
Tổn thương MM, TK gồm các mức độ sau:
NV1: Không có tổn thương MM và TK.
NV2: Tổn thương TK ngoại vi nhưng khu trú.
NV3: Tổn thương MM ngoại vi nhưng không phải mạch chính của
bị tổn thương, thường gặp trong GX trẻ em.
Gãy cành xanh: gãy một bên thành xương còn bên đối diện cong
lõm vào (giống như khi bẻ một cành cây tươi).
Gãy rạn: đường gãy nhỏ chỉ ở một phần của thành xương, không di
lệch.
Gãy lún: gãy ở vùng xương xốp, do lực đè nén hoặc thúc dồn.
Gãy hoàn toàn:
Gãy đơn giản: đường gãy ngang, chéo hoặc xoắn nhưng không có
mảnh rời.
18
Gãy nhiều mảnh rời: gãy hình chêm, gãy hình cánh bướm....
* Nguồn: Theo Nguyễn Tiến Bình và cs. (2009) [5]
Hình thái và tính chất GX: chia tất cả các hình thái GX thành 3
loại (type), mỗi loại chia thành 3 nhóm (group), sau đó mỗi nhóm lại chia
thành 3 kiểu khác nhau (dưới nhóm – subgroup).
Các loại GX được ký hiệu là A, B, C với B tổn thương nặng hơn A
và nhẹ hơn C. Các nhóm được ký hiệu bằng các chữ và số (A1, A2, A3; B1,
B2, B3; C1, C2, C3), tổn thương ở nhóm 2 nặng hơn so với nhóm 1 và nhẹ
hơn nhóm 3. Tiếp đến các dưới nhóm được ký hiệu bằng các số 1, 2, 3 với
mức độ tổn thương nặng dần, như vậy có 27 kiểu gãy khác nhau (hình 1.2).
20
Hình 1.2. Hệ thống phân loại theo hình thái gãy xương
* Nguồn: Nguyễn Tiến Bình và cs. (2009)[5]
Đối với gãy đầu xương (trung tâm và ngoại vi): Loại A: gãy
không phạm khớp; Loại B: gãy phạm khớp một phần; Loại C: gãy phạm
khớp hoàn toàn. Riêng đối với đầu trên xương cánh tay: A = gãy ngoài
khớpkhông vỡ chỏm; B = gãy phạm khớp, vỡ chỏm; C = gãy phạm khớp.
Với đầu trên XĐ: A = gãy vùng mấu chuyển; B = gãy vùng cổ; C = gãy
chỏm.
Việc đánh giá phân loại thương tổn không phải lúc nào cũng tuyệt
đối chính xác ngay từ lần thăm khám đầu tiên, mà có thể khác nhau giữa
các lần và đánh giá chính xác nhất là đánh giá trong lúc mổ.
1.2. DỊCH TỄ HỌC GÃY XƯƠNG CƠ QUAN VẬN ĐỘNG
21
gãy 1/3 dưới xương cánh tay đã tăng 1/3 so với năm 19751979 là do trẻ em
nữ đã tham gia vào nhiều hoạt động thể dục thể thao nhiều hơn [15].
Van Staa T.P. và cs phân tích hồ sơ của 103.052 nam và 119.317 nữ
trong số 5 triệu người lớn bị GX ở Anh và xứ Wales trong thời gian 1988
1998 thấy: đối với nữ, GX thường gặp nhất là GX quay/xương trụ
(30,2/10.000 người/năm) và GX đùi/cổ XĐ (17,0/10.000 người/năm). Ở nam
giới, GX thường gặp nhất là xương cổ tay (26,2/10.000 người/năm); GX
đùi/ cổ XĐ là 5,3/10.000 người/năm [16].
Tại Anh, Cooper C. và cs. hồi cứu 7 triệu hồ sơ y tế (1988 1998)
thấy có 52.624 trẻ em nam và 31.505 trẻ em nữ bị GX, tần suất là
133,1/10.000 người/năm. Tần suất GX ở trẻ em nam (161,6/10.000
người/năm) cao hơn trẻ em nữ (102,9/10.000 người/năm). GX thường gặp
nhất là xương quay/xương trụ (30%). Tần suất GX cao nhất ở trẻ em nam
là 14 tuổi và ở trẻ em nữ là 11 tuổi. Tần suất GX ở Bắc Ireland, xứ Wales,
Scotland cao hơn so với đông nam nước Anh (p
hình chấn thương chủ yếu là GX (78,0%) và vết thương hở (56,5%). Thời
gian nằm viện là 7,12 ± 10,5 ngày (từ 1 61 ngày), tỷ lệ tử vong là 7,4% [22].
Burns S.T. và cs. (2015) hồi cứu 1252 trường hợp chấn thương do tai
nạn xe máy trong 10 năm (1998 2008) thấy 40,7% số BN có đội mũ bảo
hiểm. Các tổn thương thường gặp là GX chày/xương mác (19,01%), gãy
cột sống (16,21%), và GX cẳng tay (10,14%) [23].
Rosengren B.E. và cs. (2015) nghiên cứu 205.908 trường hợp GX ở
người >20 tuổi ở vùng Skane, Thuỵ Điển (19992010) thấy tỷ lệ mắc
192/10.000 người/năm. Tỷ lệ GX tăng 1,2/10.000 người/năm (CI 95%: 0,8
1,5), nhưng xu hướng thời gian khác nhau giữa các loại GX, lứa tuổi và giới
tính. Tỷ lệ GX tăng theo tuổi ở phụ nữ nhưng ổn định ở nam giới [24].
Ameri M. và cs. (2016) nghiên cứu 2.480 BN chấn thương (29,9 ± 17,8
tuổi) điều trị tại BV Shafa Yahyaeian (Tehran, Iran) thấy có 685 BN GX chi
dưới (nam: 73%; nữ: 27%). Cơ chế phổ biến của chấn thương ở BN nam
là ngã tại chỗ (34,8%), chấn thương trực tiếp (24,6%), tai nạn xe máy
(10%) và ngã từ trên cao (7,9%). Các cơ chế phổ biến nhất của chấn
thương ở BN nữ là ngã tại chỗ (54,2%), chấn thương trực tiếp (15,8%) và
ngã từ cầu thang (7,5%), không thấy có mối liên quan giữa giới tính và cơ
chế chấn thương [25].
1.2.1.2. Tình hình tai nạn thương tích ở Việt Nam
Tại Việt Nam, TNTT là nguyên nhân gây tử vong và tàn tật hàng đầu.
Năm 2008, gánh nặng bệnh tật do tàn tật ở cả hai giới đều là 2,7 triệu YLD
[26]. Đoàn Phước Thuộc và cs (2011) nghiên cứu 1.434 BN bị TNGT điều
trị tại BV Đa khoa tỉnh Đắk Lắk (2009) thấy chấn thương xương khớp
chiếm 29,6% [27].
25
Nguyễn Thị Như Tú và cs. (2012) nghiên cứu tại tỉnh Bình Định thấy