Tóm tắt Luận án tiến sĩ Y học: Giá trị của thử nghiệm phát hiện kháng nguyên NS1 và các yếu tố dịch tễ, lâm sàng, huyết học và sinh hóa trong chẩn đoán và tiên lượng sớm sốt xuất huyết - Pdf 58

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

HUỲNH CÔNG THANH

GIÁ TRỊ CỦA THỬ NGHIỆM PHÁT HIỆN
KHÁNG NGUYÊN NS1 VÀ CÁC YẾU TỐ DỊCH
TỄ, LÂM SÀNG, HUYẾT HỌC VÀ SINH HÓA
TRONG CHẨN ĐOÁN VÀ TIÊN LƯỢNG SỚM
SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE NẶNG Ở TRẺ EM

Ngành: Nhi khoa
Mã số: 62720135

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019


Công trình được hoàn thành tại:
Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS. TS. Tạ Văn Trầm
2. PGS. TS. Đỗ Văn Dũng

Phản biện 1: ................................................................................
Phản biện 2: ................................................................................
Phản biện 3: ................................................................................

2. Tính cấp thiết của đề tài luận án
SXHD là một trong những bệnh thường gặp và có thể gây tử
vong ở trẻ em tại Việt Nam. Trong 72 giờ đầu của bệnh, việc chẩn
đoán gặp nhiều khó khăn do biểu hiện lâm sàng không đặc hiệu,
tương tự những bệnh dịch gây sốt khác. Từ đó đưa đến việc sử dụng
kháng sinh không cần thiết, tăng nhập viện không cần thiết cũng như
tăng chi phí y tế. Việc xác định chẩn đoán sớm SXHD sẽ giúp theo
dõi và cho nhập viện những trường hợp có dấu hiệu cảnh báo hoặc
nặng. Tuy nhiên, những xét nghiệm chẩn đoán xác định và sớm thì
lại đắt tiền và khó thực hiện rộng rãi ở tuyến y tế cơ sở. Xét nghiệm
phát hiện kháng nguyên NS1 của DENV có thể giúp chẩn đoán sớm


2
SXHD ngay từ ngày đầu. Tuy nhiên, giá trị chẩn đoán của xét
nghiệm này thay đổi qua nhiều nghiên cứu thực hiện tại nhiều nơi,
chúng tôi muốn đánh giá lại giá trị của xét nghiệm nhanh NS1 trên
dân số trẻ em Tiền Giang. Đồng thời đối với dân số không tiếp cận
được với xét nghiệm nhanh NS1 cũng như những phương tiện xét
nghiệm đắt tiền khác cần có mô hình chẩn đoán sớm với những chỉ
tố lâm sàng và/hoặc cận lâm sàng đơn giản.
Song song đó, SXHD là một bệnh biểu hiện lâm sàng phức tạp,
có thể diễn tiến nặng dẫn đến tử vong. Tuy nhiên, những dấu hiệu
cảnh báo hay nặng thường xuất hiện sau 72 giờ. Do đó, việc nhận
diện nhóm bệnh nhân nguy cơ bị SXHD nặng trong giai đoạn sớm
trước 72 giờ sẽ giúp các bác sĩ cho nhập viện và theo dõi sát phát
hiện sớm biến chứng nặng để điều trị kịp thời.
Do đó, việc thực hiện đề tài nghiên cứu giá trị của thử nghiệm
phát hiện kháng nguyên NS1 và các yếu tố dịch tễ, lâm sàng, huyết
học và sinh hóa trong chẩn đoán và tiên lượng sớm SXHD nặng ở trẻ

khoảng thời nhà Tần (năm 265- 420), sau đó được mô tả trong những
bản viết tại Tây Ấn vào những năm 1600. Bản mô tả đầu tiên về hội
chứng lâm sàng đặc trưng của SXHD được Benjamin Rush viết.Đến
năm 1906, Bancroft chứng minh sự truyền bệnh do muỗi Aedes
aegypti. Kimura and Hotta là những người đầu tiên phân lập được
DENV tại Nagasaki, Nhật Bản năm 1943. Năm 1966, Cohen và
Halstead đã công bố bản mô tả kinh điển đầy đủ về hội chứng sốc
dengue, bao gồm sinh lý bệnh do thất thoát dịch và protein qua
những mao mạch bị tổn thương, từ đó đưa ra những nguyên tắc hồi
sức hợp lý.
Tỉ lệ mắc SXHD đã tăng rất nhanh trên thế giới trong những thập
niên gần đây. Không những thế, bệnh SXHD còn lây lan ra nhiều


4
khu vực mà trước đây chưa từng xảy ra và bùng phát thành nhiều vụ
dịch lớn.
Tại Việt Nam, Gaide đã có báo cáo đầu tiên về bệnh giống như
dengue tại miền Bắc và miền Trung vào năm 1913. Sau đó, bệnh
được báo cáo rải rác các nơi trong cả nước. SXHD tăng dần và lan
rộng từ các thành phố lớn đông dân về các vùng nông thôn, cứ vài
năm lại xảy ra một trận dịch SXHD. Tiền Giang là một trong những
nơi thường xảy ra dịch SXHD ở miền Nam. Tuy nhiên, theo số liệu
Hội nghị giao ban Công tác điều trị SXHD khu vực phía Nam, trong
năm 2017 Tiền Giang không còn nằm trong 10 tỉnh có số trường hợp
mắc SXHD cao nhất cả nước nhưng lại là một trong 12 tỉnh có số tử
vong cao nhất (2 trường hợp).
1.2. XÉT NGHIỆM CHẨN ĐOÁN SXHD
Chẩn đoán SXHD nhanh và chính xác vô cùng quan trọng trong
khảo sát dịch tễ, điều trị lâm sàng, nghiên cứu và thử nghiệm vắc xin.

Alcon đã báo cáo kháng nguyên NS1 được tìm thấy trong máu tuần
hoàn từ ngày đầu đến ngày thứ 9 của bệnh. Do đó việc xác định
kháng nguyên NS1 trong bệnh nhân SXHD là một xét nghiệm hứa
hẹn trong chẩn đoán sớm bệnh nhân SXHD và mở ra cửa sổ cơ hội
lớn hơn cho chẩn đoán SXHD nếu so với phân lập vi rut, RT-PCR
hay NASBA. Các kit phát hiện dựa trên thu bắt NS1 có độ nhạy thay
đổi từ 54,2% đến 93,4% và cho thấy có thể xác định nhiễm dengue ở
những mẫu huyết thanh có RT-PCR âm tính và tái nhiễm.
1.3. CHẨN ĐOÁN SỚM NHIỄM DENV
Trong giai đoạn sớm, bệnh SXHD có biểu hiện tương tự các
bệnh sốt cấp khác. Hậu quả là chẩn đoán SXHD thường bị trì hoãn
hoặc nhầm lẫn với các bệnh khác. Do đó, muốn chẩn đoán xác định
SXHD sớm, cần thực hiện các xét nghiệm chẩn đoán. Những xét
nghiệm này phải phù hợp sử dụng trong giai đoạn sớm của bệnh, có


6
thể kể như là RT-PCR, phân lập vi rút và phát hiện NS1. Tuy nhiên,
RT-PCR là một xét nghiệm đắt tiền và đòi hỏi trang thiết bị và kỹ
thuật mà không phải nơi nào cũng có sẵn, trong khi đó phân lập vi
rút cho kết quả muộn không đáp ứng mục đích chẩn đoán sớm cho
thực hành lâm sàng. Gần đây, xét nghiệm phát hiện NS1 cho kết quả
nhanh, độ nhạy và độ đặc hiệu khá tốt và giá thành cũng không quá
đắt, do đó có thể được áp dụng rộng rãi hơn trên các cơ sở y tế nhằm
giúp chẩn đoán xác định sớm SXHD.
Tuy nhiên, đối với những nơi có cơ sở hạ tầng và trang thiết bị
còn hạn chế, chẩn đoán thường dựa vào lâm sàng và công thức máu.
Phân loại SXHD được TCYTTG đưa ra vào năm 2009 dựa trên
những triệu chứng và dấu hiệu lại thường xuất hiện sau 72 giờ đầu
của bệnh. Do đó, một mô hình có giá trị dựa trên lâm sàng và xét

- Dussart P (2008) nghiên cứu trên 272 bệnh nhân tại Guyanacho kết
quả NS1 Strip có độ nhạy 81,5% và độ đặc hiệu 100%.
- Hà Văn Phúc (2010) nghiên cứu 244 bệnh nhân tại bệnh viện Đa
khoa Vĩnh Thuận và Viện Pasteur TP.HCM cho kết quả xét nghiệm
ELISA NS1 trong 7 ngày đầu của bệnh có độ nhạy trung bình
88,64% và độ đặc hiệu là 100%.
- Jame A. Potts và cs (2010) xây dựng mô hình chẩn đoán sớm
SXHD trước 72 giờ ở trẻ từ 6 tháng đến 15 tuổi dựa trên các biến số
tuổi, số lượng bạch cầu, tiểu cầu, hematocrit, neutrophil, AST và dấu
dây thắt cho độ nhạy 89,2% và độ đặc hiệu 88,4%.
- Nguyễn Minh Tuấn (2015) nghiên cứu đa trung tâm tại 5 tỉnh
thành phía Nam trên 5729 trẻ sốt trong vòng 72 giờ nghi SXHD. Tác
giả đã xây dựng mô hình chẩn đoán SXHD sớm sử dụng tuổi bệnh
nhân, số lượng bạch cầu và tiểu cầu với độ nhạy 74,8% và độ đặc
hiệu 76,3%. Năm 2017, tác giả cũng đã công bố mô hình tiên lượng


8
sớm SXHD nặng bao gồm biến số bệnh sử ói, số lượng tiểu cầu, định
lượng AST và test nhanh NS1. Mô hình có độ nhạy 87%, độ đặc hiệu
88%, giá trị tiên đoán dương 10% và giá trị tiên đoán âm 99%.
- Nghiên cứu tiến cứu của Potts và cs (2010) trên 1.384 trẻ em Thái
bị sốt sử dụng phân tích cây hồi qui và phân loại xuất phát từ thuật
toán gồm các biến số xét nghiệm thu thập ở thời thời điểm vào
nghiên cứu (số lượng tiểu cầu, bạch cầu, phần trăm monocyte và
hematocrit). Thuật toán tốt nhất có độ nhạy 97% và độ đặc hiệu 48%
để nhận diện những bệnh nhân tiến triển thành sốc SXHD.
CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU


TN: số dương tính thật, FN: số âm tính giả. α= 0,05 thì Zα= 1,96; Pse
= 72% , w = 0,05; Pdis = 30,3%. Thay vào công thức, tính được: nse=
1022,3 hay nse = 1023 BN.
2.2.3. Kỹ thuật chọn mẫu: không xác suất, lấy mẫu trọn.
2.2.4. Phương pháp thu thập số liệu
Tại thời điểm vào nghiên cứu, các bệnh nhân sẽ được thu thập
thông tin về tuổi, giới tính, triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng. Tất cả
bệnh nhân sẽ được lấy 5ml mẫu máu tại thời điểm thu nhận, trong đó
2ml để làm các xét nghiệm: công thức máu, AST, ALT, CK,
albumin; 3ml máu còn lại sẽ được làm dengue PCR, NS1 Strip đồng
thời lưu trữ để làm NS1 ELISA nếu kết quả dengue PCR âm tính và
để làm IgM/IgG ở tất cả bệnh nhân nhập viện và 10% tổng số bệnh
nhân tham gia được chọn ngẫu nhiên. Những bệnh nhân đã được lấy
mẫu máu làm IgM/IgG lúc vào nghiên cứu (mẫu máu cấp) sẽ được


10
lấy tiếp 2ml mẫu máu hồi phục vào ngày thứ 6-14 hoặc lúc xuất viện.
Tiêu chuẩn vàng để xác định SXHD là: PCR dương tính hoặc NS1
ELISA dương tính hoặc có sự chuyển dương IgM/IgG. Các bệnh
nhân sẽ được tái khám mỗi 1-2 ngày, theo dõi qua điện thoại trong
vòng 6 ngày liên tiếp hay cho đến khi trẻ khỏe.
2.2.5. Xử lý số liệu: nhập liệu bằng phần mềm Excel, phân tích
số liệu bằng phần mềm thống kê SPSS 12.0 và R phiên bản v3.1.1.
CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. ĐẶC ĐIỂM DỊCH LỄ, LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG
TRONG 72 GIỜ ĐẦU CỦA SXHD

SXHD

243 (82,7%)

SXHD có dấu hiệu cảnh báo

36 (12,7%)

SXHD nặng

13 (4,6%)


11
Bảng 3.2 (gộp từ 2 bảng 3.2 và 3.4 trong luận án). Đặc điểm
dịch tễ và lâm sàng của SXHD và SXHD nặng trong 72 giờ đầu
Biến số
Trung bình/ tần số (tỉ lệ %)
SXHD(N=283)

SXHD nặng (N=13)

8,2±3,2

8 ± 2,6

162 (57,2%)

9 (69,2%)


Giới nam
Lâm sàng

Gan to

70
60

63
57
51

50
40

DENV-1
30

16

20
10

DENV-2

25

30
5


Bạch cầu (10 /mm )

4,91 ± 2,30

Bạch cầu đa nhân trung tính

3,30± 1,84

(103/mm3)
Bạch cầu lympho (103/mm3)

1,17±0,67

Bạch cầu đơn nhân (10 /mm )
3

3

0,45±0,36

Tiểu cầu (103/mm3)

188,5 ± 63,3

Tiểu cầu ≤ 105/mm3

18 (6,4%)

Hct (%)



4

116 (44,3%)

Đáp ứng miễn dịch (N=153)
Sơ nhiễm

45 (29,4%)

Tái nhiễm

108 (70,6%)


13
Bảng 3.5. Đặc điểm cận lâm sàng của những trường hợp SXHD
nặng.
Biến số (N=13)

Trung bình hoặc trung vị (khoảng
tứ vị)/ tần số (tỉ lệ %)

3

3

Bạch cầu (10 /mm )

4,73 ± 2,14

3 (23,1%)

2

8 (61,5%)

3

0 (0%)

4

2 (15,4%)

Đáp ứng miễn dịch
Sơ nhiễm

2 (15,4%)

Tái nhiễm

11 (84,6%)

3.2. GIÁ TRỊ CHẨN ĐOÁN CỦA XÉT NGHIỆM NHANH
PHÁT HIỆN NS1 VI RÚT DENGUE TRONG CHẨN ĐOÁN
SXHD Ở DÂN SỐ NGHIÊN CỨU
3.2.1. Độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương và giá trị
tiên đoán âm của xét nghiệm NS1 Ag Strip



3.2.2. Độ nhạy của xét nghiệm NS1 Strip theo độ tuổi, ngày
bệnh, týp huyết thanh và phản ứng huyết thanh
Dùng phép kiểm Chi bình phương so sánh độ nhạy của xét
nghiệm NS1 Strip theo độ tuổi, ngày bệnh, týp huyết thanh và phản
ứng huyết thanh, chúng tôi có kết quả như sau:
- Độ nhạy của NS1 Strip ở 2 nhóm 1-5 tuổi và nhóm trên 5 đến
15 tuổi không khác biệt với P =0,63.
- Độ nhạy NS1 Strip giữa các ngày bệnh 1, 2 và 3 khác biệt có ý
nghĩa thống kê, với P = 0,024. NS1 kém nhạy ở ngày 3 hơn so với
ngày 1 và ngày 2.
- Độ nhạy NS1 Strip giữa các týp huyết thanh khác khác biệt có
ý nghĩa thống kê với P < 0,001. NS1 Strip kém nhạy ở nhóm nhiễm
DENV-2 hơn các týp khác.
- Độ nhạy NS1 Strip ở nhóm sơ nhiễm cao hơn nhóm tái nhiễm,
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với P < 0,001.
3.3. MỐI LIÊN QUAN GIỮA CÁC YẾU TỐ DỊCH TỄ, LÂM
SÀNG, HUYẾT HỌC VÀ SINH HÓA TRONG 72 GIỜ ĐẦU
VỚI SXHD, MÔ HÌNH CHẨN ĐOÁN SỚM SXHD
3.3.1. Mối liên quan giữa các yếu tố dịch tễ, lâm sàng, huyết
học và sinh hóa trong 72 giờ đầu với SXHD
Bảng 3.9: Mối liên quan giữa các yếu tố cận lâm sàng trong 72
giờ đầu với SXHD


15
SXHD
Yếu tố

OR (KTC


2

124 (43,8%)

419 (55,4%)

3

141 (49,8%)

295 (39,0%)

6 (2,1%)

1 (0,1%)

Bạch cầu (103/mm3)

4,91 ± 2,30

9,49 ± 4,70

< 0,001

Bạch cầu đa nhân

3,30 ±1,84

6,13 ±3,66


63,4 ± 39,2

44,8 ± 23,1

< 0,001

ALT (U/L)

31,8 ± 35

19,8 ± 18,6

< 0,001

Xuất huyết da

3

16,35
(1,96136,45)

< 0,001*

3

trung tính (10 /mm )
Bạch cầu lympho
(103/mm3)
Bạch cầu đơn nhân
(103/mm3)

lâm sàng trong 72 giờ đầu với SXHD nặng.
SXHD nặng
Yếu tố

Có (N=13) Không (N=270) OR (KTC 95%)

P

n(%)

n (%)

3 (23,1%)

15 (5,6%)

5,1(1,27-20,50)

0,011*

ALB ≤ 40 g/L

4 (30,8%)

25 (9,3%)

4,36 (1,25-15,17)

0,012*



3

10 /mm

*Sử dụng phép kiểm Fisher chính xác


17
CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN
4.1. ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ, LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG
TRONG 72 GIỜ ĐẦU CỦA SXHD
Đây là nghiên cứu dựa trên bệnh nhân ngoại trú, tiến cứu với cỡ
mẫu khá lớn về SXHD thực hiện tại Tiền Giang. Nghiên cứu đã cung
cấp số liệu sơ lược về lâm sàng và cận lâm sàng của gánh nặng
SXHD ngay từ trong giai đoạn sớm (trong vòng 72 giờ đầu của
bệnh) cũng như lịch sử tự nhiên và kết cuộc lâm sàng. Nghiên cứu
được thực hiện qua 31 tháng từ 6/2011 đến tháng 12/2013 đã cung
cấp hình ảnh về sự thay đổi tần suất mắc SXHD qua các năm cũng
như sự chuyển đổi týp huyết thanh lưu hành qua các năm 2011-2013.
Tỉ lệ SXHD 27,2% thấp hơn nghiên cứu của Kalayanarooj
S.(35%) và Potts (50%) nhưng cao hơn kết quả nghiên cứu của
Biswas (9%). Điều này có thể do sự khác nhau về mô hình bệnh tật,
xét nghiệm xác định SXHD sử dụng trong nghiên cứu cũng như kinh
nghiệm chẩn đoán lâm sàng của các thầy thuốc giữa các nơi.
Trong gần 3 năm nghiên cứu từ 2011 đến 2013, chúng tôi nhận
thấy số trường hợp SXHD năm 2011 cao nhất (159 trường hợp trong
7 tháng cuối năm 2011), đến năm 2012 số trường hợp SXHD giảm

So với một số nghiên cứu trước đây về NS1 Strip tại các nơi
khác, nghiên cứu chúng tôi có độ nhạy 67,8% tương đương ở
Venezuela 67,8%, cao hơn tại thành phố Hồ Chí Minh 61,6% và thấp
hơn một số nơi khác như Đài Loan 77,3%, Singapore 78,9%, Guyana
81,5% hay Brazil 89,6%. So với các thử nghiệm NS1 ELISA, nói
chung NS1 Strip thường có độ nhạy thấp hơn. Về độ đặc hiệu, NS1
Ag Strip trong nghiên cứu chúng tôi cho thấy độ đặc hiệu cao
99,34% phù hợp với rất nhiều nghiên cứu trước đây.


19
4.3. MỐI LIÊN QUAN GIỮA CÁC YẾU TỐ DỊCH TỄ, LÂM
SÀNG, HUYẾT HỌC VÀ SINH HÓA TRONG 72 GIỜ ĐẦU
VỚI SXHD, MÔ HÌNH CHẨN ĐOÁN SỚM SXHD:
- Tuổi: Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với các tác giả
Kalayanarooj S, Biswas hay Potts, tuổi trung bình ở nhóm bệnh nhân
SXHD cao hơn sốt do nguyên nhân khác (SDNNK).
- Xuất huyết da: Mặc dù triệu chứng xuất huyết da ít gặp trong 72
giờ đầu, chỉ có 6 trường hợp chiếm tỉ lệ 2,1% nhưng khi xuất hiện
xuất huyết da, nguy cơ bị SXHD tăng 16,35 lần. Kết quả của chúng
tôi tương đồng với nghiên cứu của tác giả Biswas.
- Số lượng tiểu cầu: Số lượng tiểu cầu trung bình trong 72 giờ đầu
của trẻ SXHD thấp hơn trẻ SDNNK, p
độ nhạy 74,8% và độ đặc hiệu 76,3% trong chẩn đoán SXHD.
4.4. CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG SXHD NẶNG:
- Tiểu cầu: Trong SXHD, số lượng tiểu cầu thường có xu hướng
giảm trong giai đoạn sốt, sau đó giảm xuống thấp nhất trong giai
đoạn nguy hiểm. Các nghiên cứu trước đây thường sử dụng số lượng
tiểu cầu < 50.000/mm3 trong giai đoạn nguy hiểm như là một dấu ấn
của SXHD nặng. Nghiên cứu chúng tôi giúp nhận diện sớm trong
vòng 72 giờ đầu nhóm bệnh nhân có số lượng tiểu cầu nhỏ hơn hoặc
bằng 100.000/mm3 có nguy cơ diễn tiến thành SXHD nặng,
OR=5,10; p=0,011. Nghiên cứu của tác giả Ampaiwan Chuansumrit


21
cho kết quả: số lượng tiểu cầu giảm dưới 40.000/mm3 có thể là yếu
tố tiên lượng sốc SXHD trong giai đoạn sốt, với nguy cơ tương quan
là 7,7 (KTC 95% 2,2-26,5).
- Albumin: Kết quả của chúng tôi cho thấy albumin máu ≤ 40 g/l
trong vòng 72 giờ đầu có thể sử dụng như là một yếu tố tiên lượng
sớm SXHD nặng (OR =4,36; p=0,012). Kết quả này củng cố một
điều trong giai đoạn sốt cấp, ở những trường hợp SXHD nặng, quá
trình thất thoát huyết tương vẫn diễn ra và nhiều hơn so với nhóm
SXHD không nặng. Kết quả của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu
của Luis Ángel Villar-Centeno, tác giả cho thấy nồng độ albumin

chiếm 23,3%; DENV-3 chiếm 3,1% và DENV-4 chiếm 44,3%.
Trong sốt xuất huyết dengue nặng, týp huyết thanh DENV-2 chiếm
đa số: 61,5%
Tỉ lệ tái nhiễm trong sốt xuất huyết dengue nặng: 84,6%
2. Giá trị chẩn đoán của xét nghiệm nhanh phát hiện NS1
(Dengue NS1 Ag Strip) trong 72 giờ đầu
Độ nhạy: 67,84% (KTC 95%: 62,06% - 73,25%)
Độ đặc hiệu: 99,34 % (KTC 95%: 98,46% - 99,78%)
Giá trị tiên đoán dương: 97,46% (KTC 95%: 94,11% - 98,93%)
Giá trị tiên đoán âm: 89,19 % (KTC 95%: 87,45% - 90,72%)
NS1 Strip nhạy hơn ở nhóm sơ nhiễm và kém nhạy ở nhóm
nhiễm DENV-2 và ngày 3 hơn so với ngày 1 và ngày 2.


23
3. Mối liên quan giữa các yếu tố dịch tễ, lâm sàng và cận lâm
sàng trong 72 giờ đầu với sốt xuất huyết dengue, mô hình chẩn
đoán sớm sốt xuất huyết dengue
3 yếu tố trong 72 giờ đầu có liên quan với sốt xuất huyết dengue
sau phân tích đa biến bao gồm:
- Số lượng tiểu cầu (104/mm3), OR=0,93; p < 0,001.
- Số lượng bạch cầu đa nhân trung tính (103/mm3), OR=0,77;
p < 0,001.
- Số lượng bạch cầu lympho (103/mm3), OR=0,23; p < 0,001.
Mô hình chẩn đoán sớm sốt xuất huyết dengue theo phương
trình:
Logit (SXHD) = 4,054 - 0,007 x Số lượng tiểu cầu (103/mm3) 0,256 x Số lượng bạch cầu đa nhân trung tính (103/mm3) -1,486 x số
lượng bạch cầu lympho (103/mm3). Nếu giá trị thu được > 0 thì có
chẩn đoán sốt xuất huyết dengue.
4. Các yếu tố tiên lượng sốt xuất huyết dengue nặng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status