BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
VIỆN SỐT RÉT - KÝ SINH TRÙNG - CÔN TRÙNG TRUNG ƢƠNG
-------------------***-------------------
VÕ THỊ THANH HIỀN
THỰC TRẠNG, MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN,
THÀNH PHẦN LOÀI NẤM Malassezia spp
GÂY BỆNH LANG BEN Ở HỌC SINH
11 - 15 TUỔI VÀ HIỆU QUẢ CAN THIỆP
TẠI HẢI PHÒNG (2016 - 2017)
Chuyên ngành: Ký sinh trùng y học
Mã số: 62.72.01.16
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ Y HỌC
Hà Nội - Năm 2018
CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƢỢC HOÀN THÀNH TẠI
VIỆN SỐT RÉT - KÝ SINH TRÙNG - CÔN TRÙNG TRUNG ƢƠNG
Cán bộ hƣớng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. Nguyễn Duy Bắc
2. PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hƣơng
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Các loài nấm Malassezia spp được xác định dựa vào các
kỹ thuật truyền thống quá phức tạp và mất nhiều thời gian nên
các nghiên cứu hiện nay sử dụng các kỹ thuật sinh học phân tử
hiện đại.
Hải Phòng là thành phố công nghiệp nằm ở miền Bắc
Việt Nam với đặc điểm khí hậu thuận lợi cho các bệnh vi nấm
phát triển, chưa có một nghiên cứu nào về bệnh lang ben tại
cộng đồng cũng như thành phần loài nấm Malassezia spp gây
lang ben. Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu với mục tiêu:
1. Mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến bệnh
lang ben ở học sinh 11 - 15 tuổi tại Hải Phòng năm 2016.
2. Xác định thành phần loài nấm Malassezia spp gây bệnh
lang ben.
3. Đánh giá hiệu quả can thiệp điều trị đặc hiệu và truyền
thông giáo dục sức khỏe phòng chống bệnh lang ben năm 2016
- 2017.
2
TÍNH KHOA HỌC, TÍNH MỚI VÀ TÍNH THỰC TIỄN
CỦA LUẬN ÁN
1. Tính mới
- Nghiên cứu về bệnh lang ben không mới nhưng xác
định chính xác loài Malassezia spp gây bệnh là một vấn đề
tương đối mới ở Việt Nam.
- Đây là đề tài lần đầu triển khai trên đối tượng học sinh
trung học cơ sở tại Hải Phòng.
- Đề tài lần đầu tiên tại Việt Nam có sự kết hợp giữa
phương pháp truyền thống với các phương pháp sinh học phân
nghị (1 trang), 36 bảng số liệu, 13 hình, 126 tài liệu tham khảo
và 08 phụ lục.
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Nấm Malassezia spp
Nấm Malassezia thuộc giới Fungi, ngành Basidiomycota,
lớp Exobasidiomycetes, bộ Malasseziales, họ Malasseziaceae,
giống Malassezia.
Các tế bào nấm men có hình tròn hoặc hình bầu dục hay
hình trụ, kích thước 3 - 8 µm.
Trên các môi trường nuôi cấy khác nhau sẽ cho hình thể
khuẩn lạc khác nhau. Trên môi trường CHROMagar
TM
Malassezia khuẩn lạc có màu từ hồng đến tím và có thể
dùng để định loài.
Ngoại trừ M. pachydermatis, tất cả các loài Malassezia
spp đòi hỏi một nguồn lipid bên ngoài để tăng trưởng. Nhiệt độ
tăng trưởng tối ưu là khoảng 32 - 34oC. Nấm men Malassezia
spp không tồn tại ở nhiệt độ dưới 28oC. Tất cả các loài có thể
được lưu trữ ở nhiệt độ - 80oC trong glycerol 50%.
Malassezia spp sản xuất nhiều loại enzyme trong đó có 8
loại lipase và 3 loại phospholipase rất cần thiết cho sự hấp thu
các axit béo.
1.2. Các phƣơng pháp xác định thành phần loài nấm
Malassezia spp
1.2.1. Kỹ thuật xét nghiệm nấm trực tiếp
Sử dụng kính hiển vi quang học trong việc tìm nấm đã
được sử dụng từ thế kỷ XIX. Đây là phương pháp đơn giản, dễ
làm và cho kết quả nhanh giúp các bác sỹ lâm sàng chẩn đoán
kiện nhiệt độ khác nhau và một số tính chất sinh hóa của từng
loài mới có thể định danh chính xác được.
1.2.3. Kỹ thuật sinh học phân tử
- Kỹ thuật sử dụng enzyme cắt giới hạn PCR - RFLP
PCR - RFLP (Polymerase Chain Reaction - Restriction
Fragment Length Polymorphisms) là một kỹ thuật trong sinh
học phân tử nhằm nhân một hoặc một vài đoạn DNA lên nhiều
bản sao. Kỹ thuật này với 2 lần phân tích, lần 1 khuếch đại gen
5
đích của vi nấm, lần 2 cắt giới hạn đoạn gen khuếch đại được
bằng enzyme cắt giới hạn. Dựa trên kích thước sản phẩm PCR,
số lượng và kích thước các mảnh cắt giới hạn mà các loài nấm
được xác định và phân biệt với nhau.
- Kỹ thuật giải trình tự
Giải trình tự gen giúp xác định được trình tự các
nucleotide của đoạn gen quan tâm. Dựa trên sự khác biệt về
nucleotide trong chuỗi DNA và sự tương đồng về nucleotide
với ngân hàng gen mà nấm được xác định loài và phân biệt với
nhau. Kỹ thuật này còn giúp xác định được các đặc điểm phân
tử của nấm. Tuy nhiên, do chi phí cao mà kỹ thuật này thường
được sử dụng để khẳng định lại giá trị của các kỹ thuật như
PCR thường, PCR - RFLP, nested - PCR, ...
1.3. Tình hình bệnh lang ben
1.3.1. Tình hình bệnh lang ben trên thế giới
Lang ben là một trong những bệnh da phổ biến nhất ở
một loạt các khu vực địa lý, nhưng thường gặp nhất ở vùng
nhiệt đới và cận nhiệt đới với tỷ lệ nhiễm là 30% - 40%, ở
vùng ôn đới là 14%. Tại khu vực hàn đới, một số nghiên cứu
globosa và M. sympodialis.
Một số nghiên cứu cho rằng M. globosa là loài chiếm
ưu thế trong bệnh lang ben thường được nghiên cứu ở châu Âu
và một số nước châu Á có khí hậu ôn đới. Tại Việt Nam, mặc
dù là một nước có khí hậu nhiệt đới nhưng bằng phương pháp
giải trình tự gen, Trần Cẩm Vân đã xác định được 4 loài
Malassezia từ vảy da lang ben trong đó phổ biến nhất là
M.globosa, sau đó là M.restricta, M.sympodialis, M.cuniculi.
Một số nghiên cứu khác được thực hiện ở khu vực có
khí hậu nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới cho thấy sự vượt trội của
M. furfur trong tổn thương lang ben. Theo nghiên cứu của
Nguyễn Đinh Nga đã xác định được 4 loài nấm Malassezia
gây lang ben bằng phương pháp nuôi cấy trong đó nhiều nhất
là M. furfur, sau đó là M. sympodialis, M. globosa và M.
restricta.
Một số nghiên cứu khác lại cho rằng M. sympodialis là
loài chiếm ưu thế gây lang ben.
Chƣơng 2
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tƣợng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
- Học sinh trung học cơ sở lứa tuổi 11 - 15.
7
- Nấm lang ben Malassezia spp phân lập từ học sinh được
xác định nhiễm nấm.
2.1.2. Địa điểm nghiên cứu
- Nghiên cứu được tiến hành tại 4 trường trung học cơ sở
trên địa bàn thành phố Hải Phòng:
8
mẫu nấm lang ben của 100 học sinh để xác định loài bằng
phương pháp PCR - RFLP và 07 mẫu nấm giải trình tự.
2.2.4. Cỡ mẫu cho nghiên cứu can thiệp điều trị
Bốc thăm ngẫu nhiên 1 trường ở nội thành và 1 trường
ở ngoại thành. Toàn bộ học sinh mắc bệnh lang ben được điều
trị. Thực tế đã điều trị cho 138 học sinh trong đó có 103 học
sinh trường Vĩnh Niệm và 35 học sinh trường Quang Hưng.
Tất cả học sinh mắc bệnh lang ben tại trường Lạc Viên và
Đoàn Xá được kê đơn và hướng dẫn điều trị.
2.2.5. Cỡ mẫu cho nghiên cứu can thiệp bằng truyền thông
giáo dục sức khỏe
Toàn bộ học sinh của trường Lạc Viên, trường Đoàn
Xá, trường Vĩnh Niệm và trường Quang Hưng đều được tham
gia các hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe. Đánh giá
hiệu quả can thiệp được thực hiện trên 1322 học sinh.
2.3. Các kỹ thuật đƣợc sử dụng trong nghiên cứu
- Khám lâm sàng.
- Xét nghiệm trực tiếp với xanhmethylen.
- Nuôi cấy nấm trên môi trường CHROMagarTM
Malassezia. Các mẫu nấm được lưu trong nước muối sinh lý và
glycerol 50%.
- Kỹ thuật PCR-RFLP: dùng cặp mồi ITS3, ITS4 và
enzyme cắt giới hạn AluI, BanI, MspAI.
- Giải trình tự gen định danh các loài nấm.
- Kỹ thuật phỏng vấn cộng đồng: phỏng vấn đối tượng
NC về kiến thức - thái độ - thực hành về bệnh lang ben theo bộ
câu hỏi đã được thiết kế sẵn ở thời điểm trước và sau can thiệp.
(%)
SL
(%)
Nam
290
50,2
400
51,3
690
50,8
Nữ
288
49,8
379
48,7
667
49,2
Tổng
578 100,0 779 100,0 1357 100,0
Nhận xét: Tổng số đối tượng nghiên cứu là 1357 học
sinh trong đó có 578 học sinh ở ngoại thành và 779 học sinh ở
nội thành. Nhìn chung số học sinh nam và học sinh nữ là tương
đương (50,8% và 49,2%).
3.1.2. Thực trạng bệnh lang ben ở học sinh lứa tuổi 11 - 15
Mắc
bệnh
22,5%
Không
mắc bệnh
77,5%
Hình 3.4. Phân bố vị trí tổn thƣơng lang ben (n = 305)
Nhận xét: Hình 3.4 mô tả phân bố vị trí tổn thương
lang ben. Lưng là vị trí thường gặp nhất trong bệnh lang ben
chiếm tỷ lệ 41,7%. Mặt, cổ, ngực chiếm tỷ lệ thấp hơn lần lượt
là 20,0%, 14,4% và 12,1%. Các vị trí khác ít gặp hơn chiếm tỷ
lệ thấp. Có 16 học sinh có tổn thương lang ben ở hai vị trí trên
cơ thể chiếm tỷ lệ 5,2%.
Bảng 3.5. Triệu chứng cơ năng của bệnh lang ben (n = 305)
Triệu chứng
Số lƣợng
Tỷ lệ (%)
Ngứa thường xuyên
20
6,5
Ngứa
Ngứa khi ra mồ hôi
57
18,7
Không ngứa
228
74,8
Tổng
305
100,0
Nhận xét: Đa số học sinh mắc bệnh lang ben không có
biểu hiện ngứa chiếm 74,8%, 18,7% học sinh ngứa khi ra mồ
hôi và có rất ít học sinh ngứa thường xuyên chiếm tỷ lệ 6,5%
11
các trường hợp tổn thương lang ben nằm rải rác chiếm tỷ lệ
83,6%, chỉ có 3,6% có tổn thương lan rộng thành đám.
Bảng 3.7. Thời gian mắc bệnh lang ben (n = 305)
Thời gian mắc bệnh
Số lƣợng
Tỷ lệ (%)
< 3 tháng
28
9,2
3 - 6 tháng
7
2,3
> 6 tháng
25
8,2
Không nhớ
245
80,3
Tổng
305
100,0
Nhận xét: Phần lớn học sinh không biết và không nhớ là
mình mắc bệnh lang ben từ khi nào chiếm tỷ lệ 80,3%. Chỉ có
một số ít xác định được thời gian mắc bệnh.
3.1.3. Một số yếu tố liên quan đến bệnh lang ben ở học sinh
Bảng 3.12. Mối liên quan giữa bệnh lang ben
với cơ địa của học sinh
Bệnh lang ben
Bệnh
Tổng
Thực hành
Có
Không
Không
47
116
163
Dùng xà
Có
258
936
1194
phòng,
Tổng
305
1052
1357
sữa tắm
OR = 1,470; CI95% = 1,020 - 2,119); p < 0,05
Nhận xét:
- Có mối liên quan giữa việc dùng xà phòng, sữa tắm khi
tắm với bệnh lang ben. Học sinh không dùng xà phòng, sữa
tắm khi tắm có nguy cơ mắc bệnh lang ben cao gấp 1,47 lần có
ý nghĩa thống kê với p < 0,05 (CI95% = 1,020 - 2,119).
3.2. Thành phần loài nấm Malassezia spp gây bệnh lang ben
Hình 3.6. Kết quả điện di sản phẩm PCR
với mồi ITS3 và ITS4 của một số mẫu nấm lang ben
Nhận xét: Các mẫu nấm lang ben số 1, 2, 3, 4, 5, 7 có
kích thước sản phẩm PCR với mồi ITS3 và ITS4 khoảng 548
14
thước 527 bp phù hợp với M. furfur. Mẫu nấm lang ben số 2, 4,
6 khi cắt sản phẩm PCR bằng enzyme giới hạn MspAI cho
band có kích thước 497 bp phù hợp với M. japonica.
Hình 3.10 (a) và hình 3.11 (b). Kết quả điện di sản phẩm
PCR (mồi ITS3, ITS4) và các mảnh cắt giới hạn bằng
enzyme AluI, BanI, MspAI của M. furfur và M. japonica
(M: Marker 100 bp, 1: sản phẩm PCR với mồi ITS3 và ITS4,
2: sản phẩm cắt giới hạn bằng enzyme AluI, 3: sản phẩm cắt
giới hạn bằng enzyme BanI, 4: sản phẩm cắt giới hạn bằng
enzyme MspAI)
Nhận xét:
- Sản phẩm PCR với mồi ITS3, ITS4 và sản phẩm cắt
bằng enzyme giới hạn AluI, BanI, MspAI phù hợp với M. furfur
và M. japonica.
M.
japonic
a…
M.
furfur
96,4%
Hình 3.13. Thành phần loài nấm Malassezia spp
định danh bằng PCR - RFLP (n = 110)
Nhận xét: Trong 110 mẫu có sản phẩm PCR đã định
danh được 106 mẫu là M. furfur chiếm tỷ lệ 96,4%, 4 mẫu là
M. japonica chiếm tỷ lệ 3,6%.
Hình 3.14. Cây phả hệ xác định mối quan hệ về loài
giữa các chủng Malassezia spp
Nhận xét: Dựa trên đoạn gen 26S, cây phả hệ được xây
dựng bằng chương trình MEGA6.06, sử dụng phương pháp kết
16
nối liền kề NJ (Neighbor - joining) với hệ số tin cậy bootstrap
là 1000 lần lặp lại đã cho thấy:
- 4 mẫu nấm MG890324.1, MG890326.1,
MG890327.1, MG890325.1 có tỷ lệ tương đồng 100% với
trình tự tham chiếu của M. japonica JN874504.1 (Mỹ) và
KP825379.1 (Brazil).
- 3 mẫu nấm MF595845.1, MF595846.1, MF595847.1
có tỷ lệ tương đồng 100% với trình tự tham chiếu của M. furfur
KY108371.1 (Hà Lan) và KC415099.1 (Ba Lan).
3.3. Hiệu quả can thiệp
3.3.1. Hiệu quả điều trị
Bảng 3.27. So sánh xét nghiệm nuôi cấy nấm trƣớc
và sau điều trị theo địa dƣ (n = 138)
Thời gian
Địa điểm
Trƣớc ĐT
(1)
Sau ĐT
1 tháng (2)
2,2
8
5,8
Tổng
(-)
0
0
121 87,7 135 97,8 130 94,2 < 0,01
p
p > 0,05
p > 0,05
p > 0,05
Nhận xét: Sau điều trị, tỷ lệ nuôi cấy nấm dương tính (1
tháng: 12,3%, 3 tháng: 2,2%, 6 tháng: 5,8%) thấp hơn rất nhiều
so với trước điều trị. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p
0,05.
17
Bảng 3.31. Kết quả điều trị sau 1 tháng theo địa dƣ
(n = 138)
Tổng
Địa điểm Quang Hƣng Vĩnh Niệm
p
Kết quả
SL
(%) SL
(%) SL
(%)
tỷ lệ 12,3%, không có sự khác biệt về kết quả điều trị giữa 2
trường (p > 0,05).
Bảng 3.31. Tỷ lệ tái phát sau điều trị theo địa dƣ (n = 138)
Tái phát
Tái phát
sau 3 tháng
sau 6 tháng
Trƣờng
SL
(%)
SL
(%)
Quang Hưng
35
1
2,9
1
2,9
Vĩnh Niệm
103
2
1,9
4
3,9
Tổng
138
3
2,2
5
3,6
SL
(%)
SL
(%)
Biết tác nhân LB
264
19,5 1203 91,0 < 0,01 336,7
Biết khả năng lây
84
6,2
727
55,0 < 0,01 787,1
Biết biểu hiện
343
25,3 1266 95,8 < 0,01 478,7
Cần điều trị
422
31,1 1295 98,0 < 0,01 215,1
Điều trị khỏi
366
27,0 1195 90,4 < 0,01 234,8
Biết phòng bệnh
366
27,0 1256 95,0 < 0,01 251,9
Nhận xét: Sau 6 tháng can thiệp truyền thông giáo dục
sức khỏe, kiến thức của học sinh về bệnh lang ben tăng lên rõ
rệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,01.
Bảng 3.38. Thái độ của học sinh về bệnh lang ben trƣớc và
sau can thiệp
Thời gian
trƣớc và sau can thiệp
Thời gian
Thực hành
Tắm ngay
Dùng xà phòng,
sữa tắm
Không mặc chung
Giặt hàng ngày
Trƣớc can thiệp
(n = 1357)
Sau can thiệp
(n = 1322)
p
SL
694
(%)
51,1
SL
888
(%)
67,2
Hiệu
> 0,05
> 0,05
1,2
1,0
19
Nhận xét: Thực hành phòng chống bệnh lang ben của
học sinh sau can thiệp đều tăng.
Chƣơng 4. BÀN LUẬN
4.1. Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến bệnh lang
ben ở học sinh lứa tuổi 11 - 15
4.1.1. Thực trạng bệnh lang ben ở học sinh lứa tuổi 11 - 15
Nghiên cứu của chúng tôi lần đầu tiên được tiến hành ở
cộng đồng trên đối tượng là học sinh trung học cơ sở lứa tuổi
11 - 15. Tỷ lệ bệnh lang ben của học sinh trung học cơ sở lứa
tuổi 11 - 15 tại Hải Phòng là 22,5% cao gấp nhiều lần so với
kết quả nghiên cứu của các tác giả nghiên cứu tại Viện Da liễu
Trung Ương. Theo NC của Elham Zeinali ở viện Pasteur, Iran
năm 2012 - 2013, tỷ lệ bệnh lang ben là 9,5%.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên
cứu của Nguyễn Đinh Nga năm 2005 tại Trường Đại học Y
Dược thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ bệnh lang ben của học viên
trung học lứa tuổi 17 - 19 là 20,87%. Điều này một lần nữa
khẳng định rằng bệnh lang ben có tỷ lệ nhiễm cao ở lứa tuổi
dậy thì và người lớn trẻ tuổi khi mà hoạt động của tuyến bã
nhờn đang diễn ra mạnh mẽ.
Tổn thương ở lưng là vị trí thường gặp nhất chiếm tỷ lệ
hợp cho sự phát triển của nấm trên bề mặt da nên phần lớn tổn
thương rải rác (83,6%) và chỉ có rất ít học sinh (3,6%) có tổn
thương liên kết thành đám. So sánh với các tác giả khác thì
thấy rằng tổn thương lan rộng liên kết thành đám chiếm đa số.
Phần lớn học sinh không biết hoặc không nhớ mình mắc
bệnh từ khi nào chiếm tỷ lệ 80,3%. Chỉ một số ít học sinh biết
mình mắc bệnh và xác định được thời gian mắc bệnh của mình.
Một số ít trong số học sinh này đã điều trị nhưng không khỏi.
Nguyên nhân học sinh không xác định được thời gian mắc
bệnh là do đây là bệnh thông thường, ít ảnh hưởng đến cuộc
sống và sinh hoạt đồng thời học sinh không có kiến thức về
bệnh lang ben nên ít để ý đến triệu chứng của bệnh, hơn nữa
tổn thương chủ yếu lại ở lưng.
4.1.2. Một số yếu tố liên quan đến bệnh lang ben
Kết quả bảng 3.12 cho thấy có mối liên quan giữa cơ địa
ra mồ hôi nhiều với bệnh lang ben. Học sinh ra mồ hôi nhiều
có nguy cơ mắc bệnh lang ben cao gấp 1,44 lần so với học sinh
khác có ý nghĩa thống kê với p < 0,01. Badri và Sharma cũng
cho rằng tăng tiết mồ hôi là yếu tố liên quan đến bệnh. Trong
21
hai nghiên cứu này 73% và 48% bệnh nhân có cơ địa ra mồ hôi
nhiều.
Kết quả ở bảng 3.17 cho thấy có mối liên quan giữa bệnh
lang ben với việc không dùng xà phòng, sữa tắm khi tắm . Học
sinh không dùng xà phòng, sữa tắm khi tắm có nguy cơ mắc
bệnh lang ben cao gấp 1,47 lần so với học sinh có dùng xà
phòng, sữa tắm. Xà phòng, sữa tắm có tác dụng loại bỏ chất bã
nhờn trên da một cách có hiệu quả, vì vậy đã loại bỏ được môi
japonica. Trên cây phả hệ MG890324.1, MG890325.1,
MG890326.1, MG890327.1 thuộc nhánh M . japonica;
MF595845.1, MF595846.1, MF595847.1 thuộc nhánh M.
furfur và cho thấy sự tương đồng 100% với các mẫu nấm trên
thế giới.
4.3. Hiệu quả can thiệp
4.3.1. Hiệu quả điều trị
Kết quả bảng 3.27 cho thấy 138 học sinh được điều trị
bằng thuốc bôi ketoconazole. Sau điều trị 1 tháng có 121 học
sinh (87,7%) khi nuôi cấy vảy da trên môi trường
CHROMagarTMMalassezia không thấy mọc nấm lang ben. Sau
3 tháng và 6 tháng điều trị, tỷ lệ sạch nấm là 97,8% và 94,2%.
Sau 1 tháng điều trị, tỷ lệ khỏi hoàn toàn là 28,3%, tỷ lệ
khỏi về mặt xét nghiệm cao hơn chiếm tỷ lệ 59,4%. Điều này
cho thấy thuốc bôi ketoconazole có hiệu quả tốt đối với bệnh
lang ben. Tuy nhiên vẫn còn 12,3% học sinh không khỏi bệnh.
49% bệnh nhân khỏi hoàn sau 1 tháng điều trị là kết quả nghiên
cứu của Di Fonzo cao hơn nghiên cứu của chúng tôi. Theo
nghiên cứu của Trần Cẩm Vân không có bệnh nhân nào không
khỏi sau điều trị 1 tháng, 73,8% bệnh nhân khỏi hoàn toàn cao
hơn nghiên cứu của chúng tôi rất nhiều. Theo chúng tôi, kết
quả này là phù hợp vì Trần Cẩm Vân sử dụng phác đồ thuốc
uống có kết hợp với tắm gội có hoạt chất kháng nấm.
Có 3 học sinh tái phát sau điều trị 3 tháng (2,2%) và 5
học sinh tái phát sau điều trị 6 tháng (3,6%). Một trong các hạn
chế của thuốc bôi trong bệnh lang ben là không bao trùm được
các tổn thương vô hình. Nhưng trong nghiên cứu của chúng tôi,
tỷ lệ tái phát của chúng thôi thấp hơn là do chúng tôi đã hạn
chế được nhược điểm của thuốc bôi bằng cách hướng dẫn học
sinh bôi thuốc rộng hơn tổn thương nhìn thấy được bằng mắt,
từ khi nào.
1.2. Một số yếu tố liên quan đến bệnh lang ben ở học sinh
lứa tuổi 11 - 15
- Học sinh có cơ địa ra mồ hôi nhiều có nguy cơ mắc bệnh lang
ben cao gấp 1,44 lần so với học sinh khác (OR = 1,44, CI95%
= 1,10 - 1,88).
- Học sinh không dùng xà phòng, sữa tắm khi tắm có nguy cơ
mắc bệnh lang ben cao gấp 1,47 lần so với học sinh khác (OR
= 1,47, CI95% = 1,020 – 2,119).
- Không tìm thấy mối liên quan giữa bệnh lang ben với tiền sử
mắc bệnh lang ben, kiến thức và thái độ của học sinh về bệnh
lang ben.