1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ
PTNT
VIỆN KHOA HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM
……………….o0o……………….
LÊ HỮU PHÚ
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC
QUẢN LÝ TỔNG HỢP KHU RỪNG TRÀM
GÁO GIỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
Chuyên ngành: Lâm sinh
Mã số: 9620205
2
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ LÂM NGHIỆP
HÀ NỘI – 2019
Luận án được hoàn thành tại:
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS Ngô Đình Quế
2. TS. Nguyễn Chí Thành
Chủ tịch Hội đồng:
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Phương thức quản lý rừng tràm ở Gáo Giồng là vừa thực hiện
chức năng bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH), vừa sử dụng hợp lý
tài nguyên rừng có sự tham gia của cộng đồng địa phương (CĐĐP).
5
Để phát huy giá trị và sử dụng khôn khéo tài nguyên ở vùng
ĐNN theo công ước Ramsar, đề tài “ Nghiên cứu cơ sở khoa học
quản lý tổng hợp Khu rừng Tràm Gáo Giồng, tỉnh Đồng Tháp”
đã được thực hiện nhằm đề xuất phương thức quản lý tổng hợp
để đáp ứng mục tiêu bảo vệ rừng, bảo tồn ĐDSH với sử dụng tài
nguyên rừng một cách hợp lý có sự tham gia của CĐĐP như là một
biện pháp quản lý tổng hợp mẫu để các khu rừng tràm trên vùng
ĐNN khác có điều kiện tương tự tham khảo, là việc làm có ý nghĩa
và cần thiết.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu lý luận: Đề xuất một mô hình quản lý rừng tràm ở
Gáo Giồng dựa trên cơ sở khoa học về các mối quan hệ của rừng
tràm với các yếu tố ĐNN theo phương thức tiếp cận quản lý HST
có sự tham gia của CĐĐP, khai thác và sử dụng tài nguyên rừng
tràm và ĐNN một cách bền vững.
Mục tiêu thực tiễn: (i) Nghiên cứu xác định sự ảnh hưởng của
chế độ ngập nước, sinh cảnh và theo mùa đến tài nguyên rừng và
ĐNN làm cơ sở đề xuất cơ sở khoa học cho việc quản lý tổng hợp
HST rừng tràm; (ii) Đề xuất mô hình quản lý tổng hợp rừng tràm
dựa trên mối quan hệ sinh thái giữa rừng tràm với các yếu tố đất
ngập nước có sự tham gia của cộng đồng địa phương, gắn giữa
bảo tồn với khác thác, sử dụng bền vững và chia sẻ lợi ích.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
7
Chương 1.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Các nghiên cứu trên thế giới
Các nghiên cứu về rừng Tràm (Melaleuca cajuputi Powell)
Tràm (Melaleuca cajuputi Powell) thuộc họ Sim (Myrtaceae), là
một trong 10 loài hợp thành phức hệ M. leucadendra hay còn gọi là
M. Leucadendron [20], [76]. Phân bố tự nhiên ở miền Bắc nước Úc
và Papua New Guinea. Tuy nhiên, nó cũng phân bố rộng rãi trong
khu vực Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia, Myanma, Thái Lan,
Việt Nam và Ấn độ [75]. Tràm cajuputi phân bố chủ yếu ở các
miền duyên hải của vùng nhiệt đới nóng ẩm với nhiệt độ trung
bình cao nhất vào tháng nóng nhất là 31 330C; nhiệt độ trung bình
thấp nhất vào tháng lạnh nhất là 17 220C; sống tốt nhất ở những
vùng đầm lầy ven biển; trong đó đất được hình thành từ phù sa bồi
tụ, giàu hữu cơ, khả năng tiêu nước kém, độ màu mỡ thấp, nhiều
axit sunphat [81].
Các nghiên cứu về đất ngập nước: Quan điểm của công ước
Ramsar về quản lý bền vững ĐNN: “Sử dụng khôn khéo” ĐNN và
được định nghĩa như sau: “duy trì đặc điểm sinh thái của ĐNN qua
thực hiện cách tiếp cận HST trong khuôn khổ của phát triển bền
vững” [102]. Về quản lý ĐNN theo cách tiếp cận HST đã được
IUCN (2009) [32] liệt kê 12 nguyên tắc hướng dẫn, trong đó nổi
bật là tìm sự cân bằng thích hợp và sự hòa nhập của việc bảo tồn
và sử dụng ĐDSH; thu hút sự tham gia của tất cả các bên có liên
quan; và nên xem xét tất cả các dạng thông tin có liên quan, bao
gồm những kiến thức khoa học và bản địa và địa phương, sự đổi
mới và thực tiễn.
9
Theo Thái Văn Trừng (1998) [67], tràm là loài cây chiếm ưu thế
trong HST rừng ngập nước phèn ở ĐBSCL, là một thành phần của
HST ĐNN phèn, sự sinh trưởng và phát triển của rừng tràm có mối
quan hệ chặt chẽ với môi trường ĐNN. Ngoài ra, cây tràm không
chịu được độ mặn cao, nếu độ mặn > 20 ‰ thì sẽ làm cây chết.
Nước ngập càng sâu và thời gian ngập nước càng kéo dài thì ảnh
hưởng xấu đến sinh trưởng của cây tràm càng mạnh (Đỗ Đình
Sâm (2001) [51]).
Các nghiên cứu về đất ngập nước
Những kết quả nghiên cứu về đất phèn vùng Đồng Tháp Mười
chủ yếu là đi sâu vào phân loại, mô tả quá trình hình thành đất và
xây dựng bản đồ đất (Phan Liêu và cộng sự, 1998) [33], bên cạnh
đó cũng có công trình nghiên cứu đánh giá tiềm năng sử dụng đất
phèn trong sản xuất lâm nghiệp và phân chia các dạng lập địa để
trồng rừng tràm trên đất phèn ĐBSCL (Đỗ Đình Sâm và cộng sự,
2001, 2005 [51], [52]). Tuy nhiên, các nghiên cứu này ở phạm vi
rộng lớn.
Nguyễn Chí Thành (2007) [57], đã xây dựng hệ thống phân loại
ĐNN ở vùng ĐBSCL được đề xuất gồm 4 cấp phân vị: Hệ thống,
Hệ thống phụ, Lớp, Lớp phụ. Qua đó, cho thấy việc phân loại ĐNN
theo hệ thống thể hiện quan điểm coi ĐNN là HST. Trong đó, rừng
tràm ở Gáo Giồng nằm trong Lớp ĐNN ngọt ngập nước thường
xuyên hoặc không thường xuyên, thuộc Hệ thống phụ ĐNN ngọt
thuộc đầm.
Các nghiên cứu về quản lý rừng tràm trên vùng ĐNN
10
RĐD ở vùng cao, còn các khu bảo tồn ở vùng ĐNN chưa được
quan tâm.
Thảo luận chung:
Các kết quả nghiên cứu của quốc tế và trong nước đã khẳng
định rừng tràm là một thành phần quan trọng của HST ĐNN. Muốn
quản lý rừng tràm một cách bền vững thì phải dựa trên nền tảng
quản lý HST ĐNN. Bên cạnh đó, cách tiếp cận chung của thế giới
trong quản lý ĐNN là sử dụng khôn khéo tài nguyên với nhân tố
trung tâm là con người sống bên trong và giáp ranh với khu rừng
tràm và ĐNN. Một trong những công cụ quản lý rừng tràm và ĐNN
hiệu quả nhất là có sự tham gia của CĐĐP. Đây là điểm yếu của
nhiều khu rừng tràm ở ĐBSCL trong khi thực hiện khá tốt ở khu
rừng tràm Gáo Giồng.
12
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về rừng tràm, về phòng
cháy rừng tràm, mối quan hệ giữa rừng tràm với độ sâu ngập nước,
quan hệ giữa rừng tràm và thực vật với yếu tố thổ nhưỡng, đa
dạng sinh học ở rừng tràm, thành phần các loài cá ở rừng
tràm...Các công trình nghiên cứu này rất có giá trị khoa học và thực
tiễn. Nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào thể hiện đặc điểm,
mối quan hệ giữa rừng tràm và ĐNN theo cách tiếp cận hệ sinh
thái ĐNN, do đó chưa có công trình nào tìm ra mô hình quản lý tổng
hợp rừng tràm và ĐNN một cách có hiệu quả, bền vững. Đề tài
“Nghiên cứu cơ sở khoa học quản lý tổng hợp khu rừng tràm Gáo
Giồng, tỉnh Đồng Tháp” sẽ góp phần giới thiệu một phương thức
quản lý rừng tràm dựa trên cơ sở hệ sinh thái ĐNN có sự tham gia
của CĐĐP để góp phần vào việc quản lý bền vững rừng tràm ở
ĐBSCL nói riêng và cả nước nói chung.
Đặc điểm các loài lưỡng cư
Trong
mối liên
hệ theo
chế độ
ngập
nước
Trong
mối liên
hệ theo
chế độ
ngập
nước và
theo mùa
Hình
thành
cơ sở
khoa
học
BIỆN
PHÁP
QUẢN
LÝ TỔNG
HỢP
RỪNG
TRÀM Ở
VÙNG
ĐNN
phương
thức
quản lý
Hình
thành
cơ sở
thực
tiễn
Tình hình dân cư
Hình 2.1. Sơ đồ tiếp cận nghiên cứu
14
Theo cách tiếp cận HST: Rừng tràm chỉ là một trong các yếu
tố của HST ĐNN, không nên quản lý theo cách tiếp cận riêng lẻ là
cây tràm mà phải quản lý trên nền tảng hệ sinh thái ĐNN.
Tiếp cận theo mùa, chế độ ngập nước và sinh cảnh: Nghiên
cứu ảnh của chế độ ngập nước, sinh cảnh và theo mùa đến các
loài động, thực vật vì mỗi mùa có chế độ ngập nước khác nhau,
mỗi sinh cảnh là nơi phân bố của các loài động thực vật khác nhau.
Tiếp cận hệ thống: Không chỉ nghiên cứu các yếu tố tự nhiên
(rừng tràm, đất, nước, động thực vật mà còn nghiên cứu đến yếu
tố xã hội (đặc điểm cộng đồng dân cư và công tác tổ chức, quản lý
̉
̣
̣
Điều tra các loài cá: Việc khảo sát, thu thập mẫu vật ở thực
địa được tiến hành vào 3 đợt: đợt 1 là mùa mưa năm 2014 (tháng
11/2014), đợt 2 là mùa khô năm 2015 (tháng 4/2015) và đợt 3 là mùa
mưa năm 2015 (9/2015). Tiến hành thu thập mẫu vật, vị trí lấy mẫu
cá trùng với vị trí lấy mẫu nước, 6 điểm đại diện cho 6 chế độ
ngập nước và 1 điểm đối chứng.
Điều tra đặc điểm động vật: Điều tra trên 6 tuyến, tuyến đi
qua các sinh cảnh khác nhau.
+ Điều tra thú: Thực hiện ở những nơi mà người dân cho là
thường gặp. Các cuộc điều tra thực địa được tiến hành cả ban
ngày và ban đêm bằng cách đi bộ với tốc độ từ 1 – 1,5 km/h.
16
+ Điều tra chim: Đánh giá sự phong phú tương đối các loài chim
dựa vào MacKinnon list. Thời gian điều tra chim tập trung vào buổi
sáng sớm và chiều tối. Ngoài ra, tiến hành khảo sát đêm nhằm ghi
nhận các loài chim có tập tính hoạt động vào ban đêm.
+ Điều tra lưỡng cư và bò sát: Được thực hiện cả ban ngày và
đêm. Trên tuyến khảo sát đã ghi nhận lại tất cả các cá thể của
từng loài hiện diện trên tuyến khảo sát để tính toán mật độ tương
đối.
+ Sử dụng các phần mềm như: PRIMER 6, Excel để xử lý và
phân tích số liệu, xác định các chỉ số đa dạng, phân tích kiểu phân
bố loài, phân tích sự phân nhóm của loài, họ, quần xã.
2.2.2.5. Đặc điểm dân cư và thực trạng quản lý
a. Điều tra đặc điểm cộng đồng dân cư
N
(cây/ha)
D1,3m Hvn
(cm)
G
M
(m)
(m2/ha)
(m3/ha)
i
Trung bình
18.400
6,0
6,1
55,4
175,0
Trung bình
14.971
7,2
7,7
64,7
257,9
Maxmin
18.400
2,5
7,5
96,3
473,8
4.066
0,6
1,9
lệch
chuẩn
Độ
biến
động
TII
Độ
lệch
chuẩn
Độ
biến
động
TIII
lệch
chuẩn
Độ
biến
động
Trung bình
Maxmin
TIV
Độ
lệch
chuẩn
Độ
động
biến
10.319
9,6
10,8
75,0
409,5
9.600
2,1
2,3
53,3
307,3
2.967
0,7
0,7
18,1
109,2
nước 3 chiếm tỷ lệ diện tích lớn nhất (616,7ha, chiếm 41,3%) và
chế độ nước 6 chiếm tỷ lệ diện tích nhỏ nhất (14,1ha, chiếm
0,9%), được thể hiện qua bảng 3.3.
20
Bảng 3.3. Phân bố diện tích theo chế độ nước trong năm
Chế
độ
Diện tích (ha)
ngập
Tỷ
lệ %
nước
Ký hiệu
Diễn giải
Mức ngập 10
30cm, thời
gian ngập từ
1
13 tháng vào
tháng
Mức ngập
từ 56 tháng.
Bờ
bao
81,7
5,5
46,9
3,1
Kênh,
mươn
g
22
Chế
độ
ngập
Diện tích (ha)
Tỷ
lệ %
nước
Ký hiệu
số (P2O5) và Kali tổng số (K2O) có trong đất đều ở mức thấp hơn
so với các chỉ số bình quân có trong đất phèn Việt Nam.
24
Các chất dễ tiêu: Hàm lượng lân đều ở mức nghèo ≤
5mg/100g, hàm lượng kali ở mức nghèo tại chế độ ngập nước 3, 6,
5; trung bình tại chế độ ngập nước 1, 2; và giàu tại chế độ ngập
nước 4.
Thành phần cơ giới dạng thịt nặng pha sét (Silty Clay Loam).
Cation trao đổi: Giá trị bình quân chỉ số Ca2+, Mg2+ và dung tích
trao đổi cation CEC trong đất đều rất thấp.
3.3. Ảnh hưởng chế độ ngập nước, sinh cảnh và theo mùa đến
TNR
a. Ảnh hưởng của chế độ ngập nước đến các chỉ tiêu sinh
trưởng (D1,3m, Hvn) rừng tràm
Ở chế độ ngập nước 5, D1,3m và Hvn bình quân đều lớn hơn ở
các chế độ ngập nước còn lại. Tuy nhiên sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê (P