Tóm tắt Luận án tiến sĩ Kỹ thuật: Nghiên cứu đánh giá sức tải một số yếu tố môi trường (C, N, P) khu vực đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (tỉnh Thừa Thiên Huế) - Pdf 58

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế) là
đầm phá lớn nhất ở ven bờ Việt Nam với gần 1000 loài động vật, thực
vật thủy sinh có giá trị kinh tế [1]. Các hoạt động kinh tế - xã hội vùng
đầm phá đang diễn ra hết sức sôi động bao gồm nông nghiệp, nghề cá
và khai thác biển, giao thông - cảng, du lịch – dịch vụ v.v.. Hệ đầm phá
là nơi tiếp nhận các nguồn thải ven bờ không những của các huyện giáp
ranh mà còn cả của các khu vực miền núi. Khả năng suy thoái chất
lượng môi trường, cạn kiệt nguồn giống sẽ xảy ra nếu không có những
biện pháp quản lý hệ thống đầm phá. Mỗi một hệ thống tự nhiên có một
khả năng chịu tải nhất định. Vượt quá ngưỡng đó, hệ thống sẽ bị thay
đổi kéo theo sự thay đổi chức năng của hệ thống. Trong khi đó, các
hoạt động phát triển kinh tế - xã hội ven bờ đã dẫn đến tải lượng hữu cơ
và dinh dưỡng đưa vào hệ đầm phá không ngừng gia tăng mà không có
biện pháp bảo vệ hoặc cảnh báo. Trước sức ép phát triển kinh tế của
khu vực, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài “Nghiên cứu đánh giá sức tải
một số yếu tố môi trường (C, N, P) khu vực đầm phá Tam Giang - Cầu
Hai (tỉnh Thừa Thiên Huế)” làm luận án nghiên cứu của mình.
Nghiên cứu sức tải môi trường có một số hướng tiếp cận và được áp
dụng trong một số lĩnh vực như trong NTTS, quản lý nguồn thải, quản lý
hệ sinh thái. Hướng tiếp cận của luận án tập trung vào nghiên cứu, quản lý
nguồn thải, góp phần bảo vệ chất lượng môi trường nước và hệ sinh thái.
Hiểu và đánh giá đúng sức chịu tải môi trường có ý nghĩa quan trọng trong
việc đưa ra các chính sách phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường.
2. Mục tiêu của luận án
- ánh giá được sức chịu tải của một số yếu tố môi trường (C, N,
P) trong hệ đầm phá TG - CH làm cơ sở cho quản lý, phát triển bền
vững hệ đầm phá.
3. Nội dung nghiên cứu
- Phân tích, đánh giá và dự báo tải lượng ô nhiễm từ các nguồn

N, P từ các hoạt động kinh tế - xã hội đưa vào hệ đầm phá TG-CH.
- ã hiệu chỉnh mô hình chất lượng nước hệ đầm phá TG-CH và mô
phỏng chất lượng nước theo các kịch bản phát triển đến năm 2020 và 2030.
- ã tính được sức tải môi trường cho hệ đầm phá TG-CH theo các
ngưỡng của QCVN và theo khả năng tự làm sạch (đồng hóa) của đầm phá.
2


CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ KHU VỰC
NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về sức tải môi trƣờng
1.1.1. Các khái niệm
Sức tải môi trường (STMT) là một hướng nghiên cứu của khoa học
môi trường. Vấn đề là hiểu đúng bản chất của STMT và có phương pháp
tính toán đúng đắn để có thể áp dụng vào trong thực tiễn quản lý nguồn
thải và BVMT. Mỗi một định nghĩa, khái niệm về STMT có cách tiếp cận
riêng, nhưng vấn đề kiểm soát nguồn ô nhiễm từ lục địa là mối quan tâm
lớn nhất trong các nghiên cứu về STMT.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Nghiên cứu STMT trên thế giới được tiếp cận theo các hướng sau:
a) Áp dụng mô hình sinh địa hóa để tính toán mật độ nuôi thả tối đa của
các loài nuôi trồng (cá, tôm, hai mảnh vỏ, v.v.).
b) Tính toán lượng thải tối đa hàng ngày được phép đưa vào thủy vực
c) Xây dựng hệ thống chỉ số, chỉ thị để đánh giá STMT cho vùng ven biển.
d) Một số hướng tiếp cận khác liên quan đến sử dụng đất, sức tải xã hội...
1.1.3. Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, STMT đã được nghiên cứu từ cuối những năm 1990
dưới dạng các nghiên cứu về tải lượng thải, năng suất sơ cấp, khả năng tự
làm sạch của thủy vực, khả năng trao đổi nước, v.v. STMT đã được đưa
vào trong Luật BVMT từ năm 2005 và là nội dung bắt buộc phải thực hiện

MIKE-3, Delft3D v.v. Delft-3D là mô hình đã được thương mại hóa, có
thể áp dụng cho cả khu vực sông và biển do có lưới cong trực giao giúp
cho việc mô phỏng tại các khu vực đường bờ, cửa sông. Mô hình Delft-3D
là mô hình có bản quyền, đã được kiểm nghiệm kỹ nên NCS đã chọn phần
mềm này làm công cụ nghiên cứu.
1.4. Tổng quan cuối chƣơng và hƣớng nghiên cứu của luận án
Tiếp cận của luận án theo hướng kiểm soát nguồn thải, phòng ngừa ô
nhiễm, thể hiện ở việc tính toán lượng chất tối đa mà đầm phá TG - CH có
thể tiếp nhận sao cho không gây ảnh hưởng đến sự phát triển của sinh vật
thủy sinh. NCS đã tính toán STMT theo các ngưỡng an toàn cho sinh vật
thủy sinh, ngưỡng theo QCVN và ngưỡng sức tải tối đa. Ngưỡng an toàn
cho sinh vật thủy sinh được chọn là nồng độ phosphat - 0,045 mg/l, nồng
độ khí NH3 - 0,05mg/l, và nồng độ DO - 5 mg/l. Ngưỡng ”sức tải tối đa” –
ngưỡng mà tại đó thủy vực không còn khả năng tự làm sạch với các giá trị
được chọn là nồng độ DO = 2mg/l; N-NH4+ = 1mg/l và P-PO43- = 1mg/l.
4


CHƢƠNG II. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Khu vực nghiên cứu

Hình 2.1. Phạm vi nghiên cứu: khu vực đầm phá TG - CH
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Chuẩn bị dữ liệu
đầu vào
(Dữ liệu khí tượng, thủy văn,
dữ liệu chất lượng nước, dữ
liệu nguồn thải …)

Triển khai mô

khảo sát là từ 17h ngày 25/11/2011 đến 17h ngày 26/11/2011 – đại diện
cho mùa mưa; và từ 16h ngày 19/5/2012 đến 16h ngày 20/5/2012 – đại
diện cho mùa khô, 4h/ốp. Các khảo sát này gồm: (1) khảo sát đo đạc
thủy văn tại 3 trạm liên tục trong 24h (hình 2.1) vào 2 mùa, các yếu tố
đo đạc là hướng và tốc độ dòng chảy; (2) Khảo sát chất lượng nước
theo thời gian liên tục, 4h/op trong 24 h, các thông số chất lượng nước
khảo sát là nhiệt độ, pH, DO, độ muối, độ đục, BOD5, COD, N(NH4++NH3), N-NO2-, N-NO3- và P-PO43-. Các phương pháp điều tra
khảo sát tuân theo Hướng dẫn của Thông tư 34/2010/TT-BTNMT ngày
14/12/2010 Quy định kỹ thuật điều tra, khảo sát hải văn, hóa học và
môi trường vùng ven bờ và hải đảo.
2.2.2. Phương pháp tính tải lượng thải
2.2.2.1. Tính toán lượng thải phát sinh
Lượng thải phát sinh tại nguồn (dân cư và du lịch, NTTS, chăn nuôi
gia súc, gia cầm, công nghiệp, rửa trôi đất) được tính toán theo hướng dẫn
của WHO (1993) và một số nghiên cứu khác [126, 127, 128].
2.2.2.2. Ước tính tải lượng ô nhiễm đưa vào khu vực đầm phá TG - CH
Tải lượng ô nhiễm đưa vào khu vực đầm phá tính dựa trên tình hình
thực tế giảm thiểu chất thải trong khu vực hoặc quá trình xử lý chất thải
của từng loại nguồn ô nhiễm.
2.2.2.3. Dự báo nguồn ô nhiễm
Nguồn ô nhiễm dự báo được tính trên cơ sở các định hướng phát triển
kinh tế- xã hội của khu vực đến năm 2020, 2030 và các quy hoạch bảo vệ
môi trường của tỉnh.
2.2.3. Phương pháp mô hình hóa
2.2.3.1. Cơ sở lý thuyết của mô hình Delft -3D
a. Mô hình thủy động lực [113]
Cơ sở toán học của mô hình thuỷ động lực là giải phương trình
Navier Stokes với chất lỏng không nén trong nước nông và phương pháp
xấp xỉ Boussinesq.
6

tại biên sông: sử dụng số liệu lưu lượng trung bình nhiều năm.
Với mô hình chất lượng nước: tại thời điểm ban đầu, các giá trị được
thiết lập bằng 0. Sau mỗi lần chạy, điều kiện ban đầu được lấy là giá trị
cuối cùng của file chạy trước đó. Lưu lượng của các biên sông và biên biển
được chạy trên nền thủy động lực. Dữ liệu nguồn thải của mô hình chất
lượng nước được tính toán và phân bổ chi tiết cho toàn vùng (hình 2.5).
7


b. Thiết lập các dữ liệu nguồn thải
Dựa trên đặc điểm lưu vực và kinh tế- xã hội, đã thiết kế 74 điểm
nguồn thải đổ vào khu vực đầm phá TG - CH, hình 2.5.

Hình 2.5 Vị trí các điểm thải khu vực TG - CH phục vụ chạy mô hình
c. Hiệu chỉnh và đánh giá tính tương hợp của mô hình; thẩm định mô hình
Các giá trị quan trắc dòng chảy và chất lượng nước năm 2011 -2012
được sử dụng để hiệu chỉnh mô hình. Cơ sở để hiệu chỉnh dựa vào sai số
giữa mô hình và quan trắc, giá trị này càng nhỏ thì kết quả mô phỏng càng
gần với thực tế.
Mô hình được thẩm định qua kết quả quan trắc chất lượng nước tháng
4 năm 2017 tại đầm Cầu Hai trên cơ sở tham khảo kết quả của đề án 47
“ iều tra tổng thể hiện trạng và biến động đa dạng sinh học trong các hệ
sinh thái ven biển Việt Nam” [143].
d. Thiết lập các kịch bản mô phỏng
Cơ sở để thiết lập các kịch bản là các kết quả tính toán tải lượng thải
thời điểm năm 2011 – 2012 và thời điểm năm 2020, 2030. 7 kịch bản được
thiết lập, gồm: Kịch bản cơ cở (năm 2011-2012); Kịch bản dự báo năm
2020 – kịch bản thấp và cao; Kịch bản dự báo năm 2030 – kịch bản thấp
và cao; Kịch bản đột xuất năm 2020 và 2030
e. Các kịch bản tính toán sức tải môi trường


TG-CH

Toàn tỉnh

TG-CH

Toàn tỉnh

COD

47873,7

86790,4

58454,5

116594,2

79471,7

157820,5

BOD

30726,0

55925,4

39788,3


9313,0

P-T
-

NO3 +NO2

-

888,2

1411,0

802,3

1645,0

899,4

1775,4

+

4853,1

7482,0

5645,5


hướng bảo vệ môi trường trong quy họach tổng thể đến năm 2020, quy
9


họach phát triển KT-XH khu vực TG-CH, có thể đánh giá như sau: Nước
thải sinh họat: 95% bùn bể phốt tại các trung tâm huyện lỵ và 70% các
cụm dân cư tập trung được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường; Nước
thải công nghiệp tại các khu công nghiệp, làng nghề: phải thu gom xử lý
trước khi thải ra môi trường; Nước thải nông nghiệp: gồm chăn nuôi và
NTTS: chưa có kế họach thu gom, xử lý.
Trên cơ sở năng lực xử lý chất thải từ các nguồn tại địa phương, đặc
điểm địa hình lưu vực, đã tính được tải lượng thải đưa vào hệ đầm phá TGCH năm 2011 và dự báo năm 2020, 2030.
Bảng 3.7. Tổng tải lượng ô nhiễm đưa vào hệ đầm phá TG - CH năm
2011 và dự báo cho năm 2020 và 2030 (tấn/năm)
Thông số

Tải lƣợng phát sinh toàn tỉnh
Năm
Năm
Năm
2011
2020
2030

Tải lƣợng đƣa vào đầm phá
Năm
Năm
Năm
2011
2020

N-T

27985,7

36040,1

48775,9

14736

18469

24511

P-T

6418,2

7912,5

9313,0

3217

3899

4515

NO3+NO2
NH4+


1412

1721

1994

P-PO4

3-

Tới năm 2020, nhóm tải lượng hữu cơ đưa vào đầm phá sẽ tăng
khoảng 1,12 lần, nhóm tải lượng dinh dưỡng tăng khoảng 1,21 lần so
với năm 2011. Tới năm 2030, lượng chất thải đưa vào đầm phá tăng
trung bình 1,46 lần so với năm 2011 (bảng 3.7). Nước thải sinh hoạt
của các huyện ven biển và nước thải chăn nuôi vẫn chưa được xử lý.
3.2. Hiệu chỉnh mô hình
3.2.1. Mô hình thủy động lực
- Hiệu chỉnh hệ số nhám đáy Manning: Giá trị mặc định của mô
hình đối với hệ số là 0,02 s/m1/3. Trên cơ sở giá trị MSE nhỏ nhất (MSE
theo phương u = 0,5416; MSE theo phương v = 0,1443), giá trị của hệ

10


số Manning = 0,028 s/m1/3 đã được chọn cho mô hình thủy động lực
của khu vực nghiên cứu.
- Hiệu chỉnh các hệ số nhớt và khuếch tán theo phương ngang: Giá
trị mặc định của các hệ số này là 10m2/s. Kết quả chạy mô hình cho
thấy, với giá trị của νH = m2/s và DH = 1m2/s thì sai số bình phương

N-NO3(NH4++NH3)

Tam Giang
ầm Sam - Thủy Tú
Cầu Hai
Sông Ô Lâu
Sông Hương
Sông Truồi

2111
2706
5069
831
4936
699

5217
6651
11902
2362
12139
2136

712
1011
1954
40
207
51


a) ánh giá độ nhạy
ã tiến hành đánh giá độ nhạy với 9 tham số sau:
1. Hệ số cấp khí Klrear (m/ngày)
2. Tốc độ sản xuất sơ cấp tối đa của tảo (1/ngày)
3. Hằng số tốc độ phản ứng đề nitrrat hóa bậc 0 (gN/m3/ngày)
4. Hằng sốtốc độ phản ứng nitrrat hóa bậc 0 (gN/m3/ngày)
5. Tốc độ phân hủy chất hữu cơ (1/ngày)
6. Hằng số bán bão hòa của Nitơ đối với tảo (gN/m3)
7. Hằng số bán bão hòa của P đối với tảo (gP/m3)
8. Hằng số bán bão hòa của Si đối với tảo (gSi/m3)
9. Hằng số tốc độ chuyển hóa phosphat hòa tan sang phosphat hấp
thụ (1/ngày)

12


Kết quả đánh giá độ nhạy cho thấy có 6 tham số ảnh hưởng chính
đến hệ thống gồm hằng số tốc độ sản xuất sơ cấp tối đa của tảo, hằng số
tốc độ phân hủy chất hữu cơ, hằng số tốc độ chuyển hóa PO43, hệ số
cấp khí Klrear, hằng số tốc độ nitrat hóa và hằng số tốc độ đề nitrat hóa.
Do đó chỉ hiệu chỉnh đối với các tham số này, các tham số khác của mô
hình giữ nguyên giá trị mặc định.
b) Hiệu chỉnh các tham số
Sau nhiều lần chạy hiệu chỉnh thì các giá trị mô phỏng của mô hình
đã khá sát với giá trị quan trắc. Tổng sai số bình phương trung bình của các
biến số đã giảm từ 4,552 (so với file chạy các thông số mặc định của mô
hình) xuống 0,134. Sau lần hiệu chỉnh cuối, giá trị của các biến số và sai số
được trình bày trong bảng 3.17. Các tham số chấp nhận được trình bày
trong bảng 3.18.
3.2.2.3. Thẩm định mô hình

Giá trị quan trắc –
3

mùa khô (g/m )

Giá trị theo mô hình

Sai số

3

–mùa khô (g/m )

tương

Sai số bình Chỉ
phương

số

TG

S

CH

TG

S


6,47

5,42

5,59

6,34

5,64

5,57

6,11

0,3110

0,62

BOD5

2,44

2,48

2,57

2,54

2,43


7,41

6,33

7,81

7,27

6,14

7,91

1,90

0,4816

0,94

NH4

0,078 0,084 0,096

0,080

0,081

0,094 0,081

0,07


0,0254 0,0244 0,0298 0,025 0,023 0,023 0,025 0,023 0,023

1,30

0,0000

0,69

14

trung bình Nash


Bảng 3.18. Các tham số chất lượng nước được hiệu chỉnh cho hệ đầm
phá TG-CH
STT

1
2
3
4
5
6
7

Tham số

Giá trị mặc định
và khoảng hiệu
chỉnh


0,5

1/ngày

0,5

1/ngày

0,0152

gN/m3/ngày

0,02

gN/m3/ngày

0,015

1/ngày

0,085

1/ngày

Ghi chú: * - [112]; ** - [149], *** - [150]
3.4. Mô phỏng chất lƣợng nƣớc theo các kịch bản
3.4.1. Các kịch bản mô phỏng
- Kịch bản cơ sở (năm 2011-2012): tương ứng với tải lượng thải
năm 2011, tình hình quản lý và BVMT năm 2011

độ amoni trong nước có giá trị lớn hơn GHCP.
3.4.4. Kịch bản cao 2020
Với kịch bản này, do việc thực hiện các kế hoạch BVMT không
triệt để nên việc xử lý chất thải sinh hoạt, công nghiệp, chăn nuôi được
xả ra đầm phá tương tự thời điểm 2011-2012.
Kết quả mô phỏng cho thấy, tại các điểm quan trắc, nồng độ oxy
hòa tan trong nước giảm từ 3,4% đến 19,5%; giá trị BOD5 tăng từ 1,3 3,0 lần, giá trị COD tăng từ 1,3 -1,9 lần, nồng độ amoni tăng khá cao từ
1,6 - 2,7 lần, nồng độ nitrat tăng từ 1,4 đến 2,1 lần, nồng độ phosphat
tăng từ 1,3 – 1,5 lần so với thời điểm năm 2011-2012.
Với kịch bản này thì tất cả các khu vực trên đầm phá bị ô nhiễm
chất hữu cơ và amoni vào mùa mưa, nồng độ muối phosphate bắt đầu
có ảnh hưởng đến sinh vật thủy sinh.
16


3.4.5. Kịch bản thấp 2030
Kịch bản này được xây dựng tương tự như kịch bản thấp năm 2020
nhưng tính toán theo các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội đến năm
2030. Khi đó, nồng độ DO tại các điểm quan trắc giảm từ 3,7% – 20,3%,
nhu cầu oxy sinh hóa trong nước chủ yếu trong khoảng 3,0 – 5,0 mg/l, giá
trị COD tăng lên từ 1,3 đến 1,8 lần, nồng độ amoni tăng từ 1,9 đến 3,0 lần,
nồng độ nitrat tăng từ 1,7 -2,2 lần, nồng độ phosphat tăng khoảng từ 1,3
đến 1,6 lần.
Kịch bản thấp 2030 cho thấy, mặc dù có xử lý nước thải ở thành phố
Huế và các cơ sở công nghiệp, nhưng nước đẫm phá vẫn bị ô nhiễm chất
hữu cơ và amoni, đặc biệt trong mùa mưa.
3.4.6. Kịch bản cao 2030
Kịch bản cao năm 2030 được xây dựng tương tự như kịch bản cao
năm 2020 nhưng tính toán theo các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội
đến năm 2030.

18


khí amoniac làm chết sinh vật. Nồng độ muối phosphat dao động quanh
giá trị 0,04mg/l; khoảng 0,18mg/l tại khu vực KCN Phong iền.
Với kịch bản xả thải đột xuất nước thải không xử lý tại KCN
Phong

iền và KCN Phú Bài, có thể gây thiếu hụt oxy hòa tan ở các

khu vực gần điểm xả, gây chết sinh vật sống trong nước bởi các tác
nhân ô nhiễm như amoniac và phosphat.

Hình 3.23. Mô phỏng chất lượng nước hệ đầm phá TG-CH theo kịch
bản đột xuất 2020 – thời điểm triều xuống, mùa mưa
3.4.8. Kịch bản đột xuất 2030
Kịch bản đột xuất 2030 được xây dựng tương tự như kịch bản đột
xuất 2020 nhưng trên cơ sở kịch bản thấp 2030.Khi đó, tại điểm thải
19


khu vực huyện Phong

iền, DO trong nước giảm mạnh còn 2,0 -3,0

mg/l, đặc biệt vào mùa khô. Với mức DO này, các sinh vật sống trong
nước sẽ chết do thiếu oxy. Khu vực nguồn tiếp nhận của sông Hương,
DO có giá trị dưới 2mg/l (hình 3.24).
Giá trị BOD5 tăng và có giá trị khoảng 6,0 -10,0 mg/l ở đầm Sam
và phá Tam Giang. Tại các điểm thải ở Phong

tấn/năm; N-(NH4++NH3)- 5391 tấn/năm; N-NO3- - 964 tấn/năm và PPO43- - 9528 tấn/năm. Lượng chất thải này gấp lượng chất thải thời
điểm năm 2011-2012 khoảng 1,74 lần đối với BOD5; 1,46 lần đối với
COD; 1,36 lần đối với N-(NH4++NH3); 1,23 lần đối với N-NO3- và 6,75
lần đối với P- PO43-.
3.5.2. Sức chịu tải tối đa hay kịch bản nguy hiểm
STMT tối đa được hiểu là lượng chất mà tại đó thủy vực không còn
khả năng tự làm sạch, hay thủy vực chết. ể xác định ngưỡng mà thủy vực
không còn khả năng tự làm sạch hoặc thủy vực chết, chọn mức nồng độ
DO = 2mg/l [121] và mức nồng độ N- NH4+ = 1 mg/l ; nồng độ P-PO43- =
1mg/l làm ngưỡng.

21


Theo kết quả mô phỏng này thì nồng độ DO toàn vùng nằm trong
khoảng từ 2- 3 mg/l; giá trị BOD5 trong khoảng 12 -22 mg/l trong mùa
mưa và từ 8 – 20mg/l trong mùa khô; giá trị COD trong khoảng 40 – 65
mg/l trong mùa mưa và từ 20 - 40 mg/l trong mùa khô; nồng độ amoni
trong khoảng 1,0 -1,4 mg/l; nồng độ nitrat trong khoảng 0,3 -0,7 mg/l và
nồng độ phosphat trong khoảng 1,0 -1,5 mg/l.

Hình 3.26. Mô phỏng chất lượng nước đầm phá TG-CH theo kịch bản
đạt mức sức tải tối đa – thời điểm triều xuống, mùa khô
Mức tải tối đa của đầm phá như sau: BOD5 – 89860 tấn/năm; COD
– 165707 tấn/năm; N-(NH4++NH3)- 13464 tấn/năm; N-NO3- - 2084
tấn/năm và P- PO43- - 30380 tấn/năm. Lượng chất thải này gấp lượng
22


chất thải thời điểm năm 2011-2012 khoảng 5,84 lần đối với BOD5; 4,10

2. Việc sử dụng phần mềm chuyên ngành DELFT-3D được hiệu
chỉnh và thẩm định tại khu vực nghiên cứu theo phương pháp luận tiên
tiến đã cho phép đánh giá được các thông số chính ảnh hưởng tới quá
trình phát tán các chất ô nhiễm và mô phỏng tương đối chính xác chất
lượng nước theo các kịch bản phát triển. Những kết quả này chỉ ra sự
cần thiết phải có các giải pháp quản lý môi trường hiệu quả trong đó
yêu cầu cần đánh giá chính xác được sức chịu tải môi trường.
3. Trên cơ sở hệ thống hóa phương pháp đánh giá sức chịu tải
môi trường và mô hình đã hiệu chỉnh DELF-3D, đã tính được sức tải
môi trường cho hệ đầm phá TG-CH theo các ngưỡng của QCVN và
theo khả năng tự làm sạch (đồng hóa) của đầm phá này. ây là kết quả
có ý nghĩa gợi ý các giải pháp trong quy hoạch và quản lý môi trường
tại khu vực nghiên cứu.
Các kết quả tính toán về nguồn thải và STMT cho hệ đầm phá
TG – CH là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng cho công tác quản lý
môi trường. ồng thời, luận án cũng đã hệ thống hóa được các phương
pháp đánh giá sức chịu tải môi trường cho một thủy vực ven bờ Việt
Nam, có thể áp dụng tính toán cho các thủy vực khác.
2. Kiến nghị
- Bổ sung công cụ mô hình vào trong các văn bản hướng dẫn đánh
giá STMT nhằm nâng cao độ tin cậy của phương pháp đánh giá STMT.
- Nghiên cứu đánh giá STMT với cách tiếp cận rộng hơn bằng quy
trình phân tích phân cấp (AHP) và hệ thống chỉ số, chỉ thị.
24




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status